All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Yêu thương cái yếu của mình

Chào các bạn,

Hàng ngày ta đọc tư duy tích cực và cố cố cố để tư duy tích cực, và ta cảm thấy rất thường xuyên ta không tích cực được như ta muốn, và ta lại cố cố cố thêm, và vẫn cảm thấy mình yếu kém, và ta bắt đầu stress stress stress vì cái yếu kém của mình. Hóa ra khởi đầu để cho tích cực và hết stress, một lúc sau thì lại nhiều stress hơn nữa. Đúng là tẩu hỏa nhập ma.
pain5
Vấn đề ở chỗ này có vài điểm:

1. Ta cứ chối bỏ cái yếu kém của mình, không chấp nhận nó là một phần của mình, và ta bị stress vì nó vẫn còn đó. Nếu hai cánh tay của mình yếu không cử tạ 100 k‎y’ được, thì việc gì phải stress? Cứ thong thả tập thể thao đều đặn hàng ngày, hai cánh tay sẽ mạnh thêm từ từ, đến đâu hay đến đó. Điều quan trọng là ta vui thích khi tập hàng ngày, như là một môn giải trí, hơn là cố cố cố như là một loại công việc nhiều stress. Có cố thì chắc là cũng chẳng giúp mình đi nhanh được bao nhiêu, vì các bắp thịt chỉ có thể mạnh từ từ, mà lại có thể làm cho mình mất hứng thú và thêm stress. Mà thêm stress thì có nghĩa là mình đã đi lùi trong tư duy tích cực.

2. Cứ cố cho mạnh tức là to cứ nghĩ về cái yếu của mình, và tiêu tán tư tưởng và năng lực vào chổ yếu của mình, chứ không dồn được sức mạnh vào chỗ mạnh. Mà trong tâm ly’ con người, cứ chú tâm vào chỗ yếu là ta yếu thêm. Ví dụ: Nếu cứ mắng đứa bé “Mày dốt toán, mày dốt toán, cố cho giỏi lên” thì có khả năng cao là đứa bé sẽ dốt toán cả đời. Điều này các bố mẹ và thầy cô có kinh nghiệm đều thấy. Và trong môn tư duy tích cực, điều đó gọi là “luật hấp dẫn”, cứ nghĩ và nói đến cái xấu hoài thì cái xấu sẽ đến với mình, kể cả khi mình nói “Phải bỏ cái xấu này, phải bó cái xấu này.”

Điều này thì không phải ngày nay chúng ta mới biết, mà các đại gia về tâm y’ con người đã biết từ mấy ngàn năm trước. Thánh kinh có nói, Muốn vào được thiên đàng thì phải như trẻ em. Trẻ em sống rất hồn nhiên với chính mình, không xỉ vã cái yếu của mình và không ham hố chạy theo cái mạnh của mình. Trong Kinh Kim Cang có rất nhiều câu theo nghĩa, Bồ tát mà còn muốn giác ngộ thì không là Bồ tát, Bồ tát mà nghĩ là mình giác ngộ thì không phải là Bồ tát. Còn ham muốn là còn gánh nặng, thì không thể giải thoát để bay bỗng được. Cứ ung dung tự tại thì điều gì sẽ đến, sẽ đến, tự nhiên một lúc nào đó.
pain2
Thay vì chối bỏ cái yếu đuối của mình, thì cách hay nhất là chấp nhận con người của mình toàn diện, cả cái yếu lẫn cái mạnh. Dĩ nhiên là ta muốn làm mạnh cái yếu, nhưng muốn làm mạnh không có nghĩa là chối bỏ. Không l‎y’ do gì phải chối bỏ và không yêu thương cánh tay của mình chỉ vì nó không mạnh như mình muốn. Tức là, nếu ta lỡ nỗi nóng khi không đáng nỗi nóng, buồn khi sách nói không nên buồn, stress khi sách nói không nên stress, thì cứ ung dung chấp nhận nó như là một phần của mình. Và thay vì cứ chối bỏ là mình không buồn, không stress… thì cứ ung dung đối diện nỗi buồn của mình và ưu ái nhìn nó đang ở trong lòng mình.

Thiền sư Nhất Hạnh có viết trong Kinh Kim Cang Giảng Giải, hãy ôm ấp yêu thương nỗi buồn nỗi đau của mình vì nó là mình. Kinh nghiệm riêng của mình cũng cho thấy là khi buồn đau, nếu chối bỏ nỗi đau, cố tình gạt nó ra khỏi đầu óc, thì nó cứ nằm đó nhức nhối tháng này qua năm nọ. Nhưng nếu cứ nhìn nó yêu ái và chấp nhận, “Ừ mình đang đau nhức kinh khủng, và cơn đau đang xâu xé mình…” thì khả năng cho mình “lành” được cơn đau gia tăng rất nhiều, cứ như là cơn bão đã hiện rồi sẽ đi xa.
pain1
Chẳng có ai là siêu nhân ở đời cả. Và chẳng ai là không yếu chỗ này chỗ kia. Khi ta bị đụng vào điểm yếu, có khả năng cao là ta bị quỵ. Nhưng đó là chuyện tự nhiên. Chẳng có l‎y’ do gì phải stress khi ta bị ngã vì yếu. Điều quan trọng là biết rằng mình đã ngã, chấp nhận mình đã bị ngã, đứng dậy hăng hái đi tiếp, và hy vọng, nhờ kinh nghiệm, sau này ít ngã hơn.

Chúng ta không có y’ nói rằng đừng cố gắng làm gì hết, hay đừng làm cho mình hoàn thiện và mạnh mẽ hơn. Dĩ nhiên là ta phải tinh tấn cố gắng hoàn thiện chính mình mỗi ngày. Nhưng hoàn thiện cơ thể như người vui chơi trên sân bóng mỗi ngày thì khác với hoàn thiện của người cố của tạ, cử không nỗi thì xỉ vả chưởi rủa cánh tay của mình. Chẳng có phần nào trong cơ thể đáng được xỉ vả và thất vọng cả, cả phần mạnh lẫn phần yếu. Tất cả, mạnh lẫn yếu, làm nên cái yêu ái mà ta gọi là “tôi”.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Seiji Ozawa–Người vũ công với gậy nhạc trưởng

Đứng trước dàn nhạc, Seiji Ozawa xem giống như là một vũ công đang uốn mình bay bổng lên xuống với dòng nhạc hơn là một nhạc trưởng. Vào thập niên 80’s khi Ozama đang là nhạc trưởng ở dàn hòa tấu Boston Symphony Oschestra và tóc xỏa dài gần đến lưng thì “điệu vũ” của anh trước ban nhạc còn thẩm thấu, nồng nhiệt và bão tố hơn cả ngày nay. Ngắm Ozama vũ với gậy nhạc trưởng làm cho cảm nhận của ta về dòng nhạc mạnh mẽ hơn rất nhiều.

seijiozawa
Seiji Ozama có bố mẹ Nhật, sinh ngày September 1, 1935 ở thành phố Shenyang, Trung Quốc, thời kỳ Nhật đang chiếm đóng Trung Quốc. Đến 1944 anh trở về Nhật học piano. Xong trung học, anh bị thương một ngón tay, không chơi piano được. Một người thầy đưa anh đi nghe hòa nhạc; bản Symphony Số 5 (Bản giao hưởng “Định Mệnh”) đã cho anh quyết định học làm nhạc trưởng.

Gần 10 năm sau anh thắng giải Nhạc Trưởng Quốc Tế (International Competition of Orchestra Conductors) ở Besancon, France, nhờ đó được Charles Munch, giám đốc âm nhạc của dàn hòa tấu Boston Symphony Orchestra mời sang học tại Berkshire Music Center (ngày nay là Tanglewood Music Center) tại Boston, Mỹ. Đến năm 1960, anh lại được sang Bá Linh học với nhạc trưởng người Áo nỗi tiếng thế giới , Herbert von Karajan, của dàn hòa tấu Berliner Philharmoniker.

Ozawa bắt đầu trở thành khuôn mặt lớn của làng nhạc cổ điển thế giới khi anh thành nhạc trưởng của Boston Symphony Orchestra năm 1973. Và anh giữ chức vị này liên tục trong 29 năm, phá kỷ lục 25 năm của nhạc trưởng Koussevistzky trước kia. Từ năm 2002 đến nay Ozawa là nhạc trưởng cùa dàn hòa tấu nước Áo (Austria State Orcchestra).
Seiji_Ozawa
Năm 1976 Ozawa được giải Emmy cho chương trình “Evening at Symphony”, chương trình âm nhạc hàng tuần của Boston Symphony Orchestra. Năm 1994, được thêm một giải Emmy cho “thành tích cá nhân về văn hóa” cho chương trình “Dvorak in Prague, a celebration.” Năm 2008, Ozawa được giải “Order of Music,” giải thưởng cao nhất của nước Nhật. Ông đã có tiến sĩ danh dự từ các đại học Harvard, New England Conservatory, Đại Học Tiểu Bang Massachusette, và Wheaton College. Và dĩ nhiên là vô số các giải thưởng khác.

Năm 1992 ông thành lập dàn hòa tấu Saito Kinen Orchestra, để các nghệ sĩ Nhật có dịp trình diễn với các nghệ sĩ quốc tế. Ngày nay dàn hòa tấu này đã có tên tuổi quốc tế.

Trong thập niên 1980’s Ozawa có nói: Người Nhật coi thường tài năng của người Nhật, chỉ đến khi quốc tế chấp nhận rồi thì người Nhật mới thấy được tài năng.

Sau đây mời các bạn xem vài bản cổ điển quen thuộc, do Ozawa và dàn hòa tấu Berliner Philharmoniker trình diễn:

1. Múa đao (Sabre dance) trong bài vũ Gayaneh, của Aram Khachaturian.
2. Vũ khúc Polovtsian trong nhạc kịch Prince Igor của Alexander Borodin.
3. Overture 1812 của Tchaikovsky (phần 1)
4. Overture 1812 của Tchaikovsky (phần 2)

Xin mời !

Hoành
.

Sabre dance from ballet Gayaneh, by Aram Khachaturian. Berliner Philharmoniker

.

Polovtsian dances from opera Prince Igor by Alexander Borodin. Berliner Philharmoniker.

.

Tchaikovsky – 1812 overture. Berliner Philharmoniker. (Part 1)

.

Tchaikovsky – 1812 overture. Berliner Philharmoniker. (Part 2)

Daily English Discussion–Wednesday 7/22/09–Hà Lội and Hồ Chí-Minh

Hi everyone,

Below, FYI, are the pictures of Hà Lội on July 20, 2009, and Hồ Chí-Minh on July 21, 2009.
.

Hà Lội, July 20, 2009
Hà Lội, July 20, 2009

Hồ Chí-Minh, July 21, 2009
Hồ Chí-Minh, July 21, 2009

.

I guess this swimming affair will be here for a while, because these things cannot be fixed in a day.

But shouldn’t the “leader ships” of these two cities start sailing and giving the people a clear plan with a clear deadline of how and when the swimming will stop?

In the meantime, we can make life more bearable by telling jokes about it. 🙂

Have some jokes, imaginary or real life stories, to tell?

Have a great day! 🙂

Hoanh

Làm những quyết định khó khăn

Chào các bạn,

Nếu so sánh giữa người lãnh đạo một nhóm và các thành viên của nhóm, thì mọi người đều như nhau—đôi khi thành viên có thể giỏi hơn lãnh đạo về kỹ thuật và có thể làm được tất cả những gì lãnh đạo làm. Duy có một điều chỉ có lãnh đạo có quyền và có nghĩa vụ làm, đó là “ra quyết định.”

Người lãnh đạo bắt buộc phải chịu trách nhiệm về hoạt động của nhóm, và không thể bán cái theo kiểu, “Tại vì cả đám đòi vậy chứ đâu phải ý tui.” Và bởi vì phải có trách nhiệm, lãnh đạo phải có nhiệm vụ ra quyết định cho nhóm, để chỉ đạo công việc. Không thể bán đi nhiệm vụ này được.

difficultdecision1

Dĩ nhiên là các lãnh đạo có kinh nghiệm đều biết là nên bàn với cấp dưới một tí trước khi ra quyết định, vì quyết định như vậy sẽ tốt hơn, nhờ có sự thông thái của nhiều cái đầu họp lại, và cũng được mọi người hăng hái, nhờ quyết định có được ‎các ý ưa chuộng của các thành viên.

Hoặc, trong những trường hợp “đằng nào cũng tốt,” lãnh đạo có thể cho phép các thành viên biểu quyết để lấy quyết định, nhưng đương nhiên lãnh đạo vẫn phải chịu trách nhiệm 100% về quyết định từ biểu quyết, vì đó chính là quyết định mình đã chọn.

Thỉnh thoảng, trong một tình huống khó khăn nào đó, lãnh đạo đối diện với nhu cầu phải làm những quyết định khó khăn. Những tình huống này chính là những bài thi, phân tách lãnh đạo tài ba khỏi các lãnh đạo bình thường.

Có 2 loại tình huống khó khăn:

1. Loại thứ nhất là khó khăn từ bên ngoài, và không ảnh hưởng đến nội bộ nhóm: Ví dụ: Thống kê mới cho biết công ty Số Một có thị phần 40% thị trường, công ty Số Hai 25% thị trường. Đó là một khó khăn cho công ty Số Hai. Nhưng khó khăn này thực ra không khó lắm để công ty Số Hai biến nó thành sức mạnh của mình. Giám đốc công ty Số Hai có thể nói với các cộng sự viên của mình: “Công ty Số Một có mặt đã 10 năm, được 40%. Mình mới có 2 năm đã được 25%. Xem ra mình rất khá. Các bạn nghĩ là mình có thể qua mặt họ được không? Trong bao lâu?” Từ đó mọi người sẽ hăng hái lên chương trình “Trở Thành Số Một” trong một thời gian nào đó.

Các loại “khó khăn” này rất dễ được các lãnh đạo giỏi biến thành sức mạnh.

difficultdecision3

2. Loại tình huống khó khăn thứ hai là khi khó khăn đó ảnh hưởng đến nội bộ của nhóm và có tiềm năng làm cho cả nhóm hay vài thành viên của nhóm không vui. Ví dụ: Kinh tế xuống, phải giảm 25% nhân lực của nhóm, tức là cho ¼ nhóm nghỉ việc. Hay, một người khá trong nhóm làm lỗi lầm gì đó nguy hại đến “sức khỏe” của cả nhóm đến nỗi phải cho nghỉ việc. Hay, người lãnh đạo có kinh nghiệm thấy được một nguy hại đang đến, trong khi đó các nhóm viên chẳng ai thấy được và cứ nhởn nhơ đường khác.

• Đây là những tình huống khó khăn, vì hầu như quyết định nào cũng có thể làm cho cả nhóm không vui và xuống tinh thần, đó là chưa kể tiềm năng chống đối lãnh đạo. Trong những tình huống khó khăn, “vốn liếng” có sẵn của lãnh đạo có thể giúp lãnh đạo vượt qua khó khăn đễ dàng hơn. Vốn liếng đó là “lòng tin” của các thành viên vào lãnh đạo.

Lòng tin này đến từ 2 điều. Điều thứ nhất là thâm tình–mỗi thành viên đều tin là lãnh đạo quan tâm lo lắng chăm sóc cho mình. Điều thứ hai là khả năng—mỗi thành viên đều tin là nếu mình không thấy điều gì mà lãnh đạo thấy thì tốt hơn là “cứ tin vào anh/chị ấy.”

Hai điều này tạo nên “lòng tin,” gọi là trust. Người Mỹ hay nói, “Trust has to be earned through time” (lòng tin phải được xây dựng qua thời gian). Tức là ta không thể nào có được lòng tin của các thành viên trong một ngày một giờ. Phải qua thời gian, các thành viên sẽ từ từ hiểu được tâm y’, tác phong, khả năng của lãnh đạo.

• Trong những tình huống khó khăn, người lãnh đạo nhờ vào (1) vốn liếng “lòng tin” và (2) kỹ năng lãnh đạo của mình để làm cho đa số, nếu không là tất cả, thành viên bớt bức xúc vì quyết định khó khăn của mình.

— Ví dụ 1: Kinh tế xuống, phải giảm 25% nhân lực của nhóm, tức là cho ¼ nhóm nghỉ việc:

a. Nếu lãnh đạo có công thức để chọn số 25% phải nghĩ việc này mà mọi người đều xem là công bình, thì mọi nguời, kể cả người bị nghỉ việc, sẽ bớt bất bình hơn. Ví dụ: Dùng thâm niên công vụ.

b. Nếu lãnh đạo (thực ra là công ty) có chính sách giúp đỡ người bị nghĩ việc, như là cho họ một số tiền, giúp họ được huấn luyện kỹ năng mới, giúp họ tìm việc mới… thì mọi người sẽ cảm kích với lãnh đạo hơn.

difficultdecision2

— Ví dụ 2: Một người khá trong nhóm làm lỗi lầm gì đó nguy hại đến “sức khỏe” của cả nhóm đến nỗi phải cho nghỉ việc. Thông thường nhất với người giỏi là người này có khuynh hướng “lập băng” riêng trong nhóm và có thể chẻ nhóm làm đôi. Điều này rất đáng buồn vì người giỏi mà có cái tôi cao và lòng trung thấp thì có thể làm thế. Một nhóm như thế là đang trong vòng nguy hiểm sống chết. Và cũng rất khó cho lãnh đạo trong tình huống này. Rất nhiều tổ chức lớn nhỏ trên thế giới gặp tình huống này.

a. Cách hay nhất, dĩ nhiên, là làm việc hòa bình, nói chuyện để anh chị em có thể sống chung hòa bình đoàn kết.

b. Nếu không xong, phải cho người đó nghỉ việc. Việc này rất khó cho lãnh đạo, đau đớn như là cắt đứt một cánh tay của mình, và cũng làm cho cả nhóm không vui. Vì vậy tốt hơn là đợi một tí để các thành viên đều hiểu là tình trạng chia đôi không thể được kéo dài, rất hại cho cả nhóm, và không còn cách giải quyết khác. Đây giống như là ly dị. Chẳng có ly dị nào mà không làm cho cả nhà trầm uất. Lãnh đạo chỉ có thể làm giảm cơn đau được tí nào hay tí nấy mà thôi. Đây là lúc “vốn liếng” lòng tin giúp người lãnh đạo rất nhiều. Nếu mọi người tin rằng lãnh đạo luôn vì mọi người và vì nhóm, thì họ sẽ cảm thấy bớt buồn hơn.

— Ví dụ 3: Người lãnh đạo có kinh nghiệm thấy được một nguy hại đang đến, trong khi các nhóm viên chẳng ai thấy được và cứ nhởn nhơ đường khác. Đây cũng là một trường hợp khó khăn vì chỉ có lãnh đạo thấy được tương lai. Dĩ nhiên là lãnh đạo sẽ cố gắng giải thích cho các thành viên điều mình thấy. Nhưng giải thích tương lai thì đối với người nghe cũng có thể như là thầy bói nói, họ không thấy tương lai được, dù là giải thích cách nào. Trong trường hợp này nếu lãnh đạo có được lòng tin của mọi người, thì thành chuyện dễ. Thường thường là mọi người sẵn sàng nghe theo lãnh đạo, dù chính họ không thấy vấn đề, nếu họ có lòng tin vào lãnh đạo.

Nhưng nếu lãnh đạo chưa có được lòng tin thì đôi khi tự mình quyết định sẽ gây ra nhiều chống đối, càng có hại cho nhóm. Đôi khi lãnh đạo phải để cho nguy hiểm tới và mọi thành viên đều thấy được cơ nguy, lúc đó mới chỉ cho mọi người cách vượt khỏi cơ nguy, thì mới có được ủng hộ của thành viên.

Các thí dụ trên đây cho ta vài khái niệm căn bản về các quyết định khó khăn. Nói chung, đã là khó khăn thì có thể gây ra đau đớn và khủng hoảng. Cái nền chính để giữ mọi sự được chắc chắn bền vững trong cơn khủng hoảng là lòng tin vào lãnh đạo. Và lòng tin này phải có từ trước khi khủng hoảng đến, phải được xây dựng và tích tụ nhiều năm trước. Nếu có lòng tin, chuyện lớn có thể thành nhỏ. Nếu không có lòng tin, chuyện bé xé ra to.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Âm nhạc thổ dân da đỏ

Chào các bạn,

Theo lý thuyết về di dân vẫn đang trong vòng tranh luận, thổ dân da đỏ–những ngựời đầu tiên sống ở Mỹ châu–dến từ Châu Á khoảng 12 ngàn năm trước đây, qua một giải đất gọi là Beringia nối liền Á Châu (Tây Bá Lợi Á) và Mỹ Châu (Alaska), mà ngày nay nằm dưới lòng biển ở Bering Strait. Ta quen gọi họ là da đỏ, nhưng thực ra họ tóc den, da vàng, mũi tẹt, chẳng khác người Việt lắm. Continue reading Âm nhạc thổ dân da đỏ →

Người Mỹ trầm lặng trên đồi Buông

Chào các bạn,

Đây là một câu chuyện hiếm có và rất cảm động, trên Sài Gòn Tiếp Thị.

Mến,

Hoành

.

Người Mỹ trầm lặng trên đồi Buông


Ông Robert đặc biệt thích cho gà, vịt ăn

SGTT – Robert Poduna Vac hay ngồi bệt trước hiên nhà nhìn ra khu đồi trước mặt, nơi đó có vạt rừng keo và cau do chính ông tạo dựng nên. Dáng ngồi và khuôn mặt bình thản của Robert gợi cho người ta cảm giác ông đã thuộc về nơi này từ lâu lắm…

Lúc tôi đến, ông mặc một chiếc áo lam của người Phật tử, tay cầm tràng hạt, mắt chăm chú nhìn lên tượng Quan âm toả hào quang điện chấp choá trên tường. Ông đang đắm chìm trong một cảnh giới không thể quấy rầy.

Vì tôi yêu em

Nhà ông ở trên đỉnh đồi Buông, thuộc một xã miền núi hẻo lánh của Quảng Nam – xã Tam Lãnh (huyện Phú Ninh). Tại sao một chuyên gia phần mềm của một công ty lớn ở Washington, lại từ bỏ tất cả để đi làm nông dân ở chốn rừng núi này, thật khó giải thích. Mỗi người nói mỗi kiểu, riêng Nguyễn Bích Giang, cô gái đầu của người phụ nữ sắp là vợ Robert, giải thích hơi lạ: “Kiếp trước ổng nợ mẹ em nên kiếp này ổng phải trả”.

Giang nói: “Ổng từ bỏ quê hương, tiện nghi, tiền bạc, thậm chí bỏ cả đạo gốc (Robert đã cải đạo Thiên Chúa sang đạo Phật) để theo mẹ em, một phụ nữ đã có đời chồng, ba đứa con, nghèo xơ xác làm nghề rửa bát thuê. Ổng sống chung với mẹ ba năm rồi nhưng tối ai ngủ giường nấy, ổng ngủ một mình còn mẹ ngủ với em. Ông hy sinh tất cả vì mẹ mà không đòi hỏi điều gì cả”. Bà Lữ Hà Thy Nhơn (1969), vợ sắp cưới của Robert, cũng thú thật như vậy: “Robert bị tai nạn giao thông dẫn đến đau cột sống, không thể ân ái vợ chồng được…” Bà Nhơn cũng tiết lộ, Robert coi điều đó là một thiệt thòi cho bà, thỉnh thoảng ông đưa bà cả chục ngàn USD và khuyên bà nên đi chơi đâu đó. Nhưng bà chối từ. Bà không muốn phụ ông, một người bà coi như đấng cứu nạn của đời mình.

Robert đã biến cô lọ lem Thy Nhơn nghèo xác xơ thành một “công chúa” ở đất Tam Lãnh này. Ngày trước bà Nhơn chỉ có một túp lều dưới chân đồi, trong đó ngoài cái giường tre không còn gì nữa cả. Robert đã sắm cho gia đình bà từ… cuộn giấy vệ sinh sắm lên. Ông bỏ tiền đổ đất nền lên cao và dựng lên đó một ngôi nhà khang trang thuộc loại nhất nhì của Tam Lãnh bây giờ. Ông chuộc lại toàn bộ đất đai (3ha) mà ngày trước vì túng thiếu mẹ bà đã bán, và dựng lên đó một trang trại với rừng keo, cau xanh ngát, với hàng trăm con gà, vịt, bồ câu… Ba đứa con bà được ông sắm sửa từ cái áo, cái quần, ông đi hỏi vợ cho cậu con trai giữa và chuẩn bị làm đám cưới cho cô con gái đầu của vợ, Nguyễn Bích Giang. Ông làm tất cả những điều đó, với số tiền chi ra bằng gia tài một người giàu có ở Quảng Nam để được gì? “Nhiều khi tôi cũng thắc mắc như vậy, nhưng ông chỉ nói đơn giản, vì tôi yêu em”, bà Nhơn kể.

Âm thanh của sự trầm lặng

Robert về quả đồi này được bốn năm. Cả xã hầu như không ai nói được tiếng Anh (trừ vợ ông), ông không biết tiếng Việt. Vì vậy Robert có lẽ là người ít nói nhất của Tam Lãnh. Mỗi khi khách đến nhà, vợ ông huyên thuyên, còn ông theo thói quen ra ngồi bệt trước hiên nhà, hút thuốc và nhìn ra rừng. Bà Nhơn nói, Robert không thích ồn ào, mỗi khi đi đâu, ông đều khuyên nên chọn chỗ yên tĩnh.

Robert ít nói nhưng không hề lãnh đạm với mọi người. Do nhà có chăn nuôi nên hay thuê phụ nữ chung quanh đến thái chuối cây để làm thức ăn cho chúng. Những ngày đầu thấy bà con ngồi bệt xuống đất làm việc, ông lẳng lặng lấy xe máy chạy 30km đường núi xuống Tam Kỳ (tỉnh lỵ của Quảng Nam) mua một lô ghế nhựa nhỏ đem về cho bà con ngồi. Những nông dân đến làm thuê cho ông, ông không nói chuyện với ai nhưng không hề quên ai. Có lần một người đang làm bị ốm phải nghỉ. Thấy anh ta không đến, ông hỏi vợ rồi vào lấy mấy trăm ngàn đồng đưa vợ bảo đem đến cho anh ta uống thuốc. Qua trường mẫu giáo thôn thấy bàn ghế các em xập xệ, ông làm thinh về lấy mấy triệu đồng qua cho trường để sửa chữa. Một lần nghe bà con định tu sửa lại cái miếu thôn, ông đưa tiền cho bà con mua vật liệu và đích thân đi mua sơn về bỏ hai ngày lụi cụi sơn lại miếu. Các cụ bô lão trong thôn sững sờ.

Chốn về của kẻ độc hành

“Chúng ta về quê em sinh sống đi”, ông đề nghị bà Nhơn khi hai người đang ở Sài Gòn.
“Thế còn công việc của anh, về đó chúng ta lấy gì mà sống?”
“Tôi xin nghỉ việc công ty. Em đừng lo, tôi có điều kiện để em sống một đời không lo lắng”.
“Nhưng anh thích điều gì ở đó?”
“Tôi thích sự tĩnh lặng của nó”.

Ông về hôm trước, hôm sau bà con đã thấy ông ra đồng. Nhà bà Nhơn có mấy sào lúa, từ cày cấy, đổ nước, gặt hái…ông tham gia hết. Với tiền bạc của mình ông dễ dàng trở thành một đại điền chủ của Quảng Nam. Nhưng không, ông chắt chiu từng hạt lúa trên đám ruộng của mình. Những trưa nắng như đổ lửa, bà con thấy ông đầu trần, vận mỗi cái quần đùi, lết bàn chân đi tới đi lui trên sân để đảo lúa cho khô. Ông phơi phóng, gìn giữ từng hạt lúa không phải cho mình vì ông chưa… ăn cơm được. Ngày ngày, khi gà trong thôn vừa gáy, ông đã dậy, vác cuốc ra đồi chăm lo rừng keo, rừng cau, dựng cây này lên, bón gốc cho cây kia. Đang làm, sực nhớ điều gì, ông tất tả chạy về. Ông lấy cái ô lúa mà vợ đong sẵn hú gọi gà, vịt, bồ câu đến để cho ăn. Có lần chuyên gia phần mềm Robert cho gà, vịt ăn đến suýt chết vì quá nhiều, con nào con nấy diều phồng lên cứng ngắc, đi không nổi. Từ đó, bà Nhơn phải đong khẩu phần gà, vịt cho Robert…

Trang trại cho thu nhập bao nhiêu, Robert không cần biết. Điều Robert cần là được làm công việc của một nông dân. Robert ước ao được chết như một… nông dân, nghĩa là có cái mộ. Bà Nhơn biết điều này qua một lần Robert tâm sự: “Ở bên Mỹ khi chết thiêu xác mang tro rải biển, thấy lạt lẽo cuộc đời quá. Tôi muốn được như người dân quê em, có một ngôi mộ, nhỏ cũng được, nhưng là cái còn lại của mình sau cuộc đời này”.

Một lần Robert về Mỹ, bà Nhơn im lặng kêu người xây một ngôi mộ cho ông bên cạnh cái trang trại với rừng cây, gà vịt mà ông tạo dựng nên. Khi trở lại biết chuyện này ông khóc nức nở vì cảm động: “Em đã toại nguyện một mong muốn lớn nhất của đời tôi. Cả đời này tôi mang ơn em”. Bên ngôi mộ mình, ông tâm sự đã từng có một người vợ, từng tha thiết mong những đứa con. Nhưng vợ ông ba lần mang thai ba lần hỏng vì cô nghiện rượu. Ông ly dị vợ và sau đó bị tai nạn giao thông, chuyện có con coi như khép lại vĩnh viễn. Vì công việc ông sống nhiều nước, nhưng đi đâu ông cũng cô đơn, cũng thấy thiếu vắng. Chỉ có ở đây, ở đồi Buông này, mà ông hiểu theo tinh thần đạo Phật là buông xả tất cả, ông mới thấy lòng mình yên tĩnh.

Đêm đêm theo lời khuyên của bà Nhơn, Robert đem máy cassette ra mộ mình mở băng kinh Phật “cho ấm ngôi nhà mai sau”. Ông rất hay đi chùa. Đến đâu ông cũng cúi đầu lạy Phật thành kính. Mỗi ngày hai thời, ông mặc áo lam, cầm xâu chuỗi đứng niệm Phật. “A di đà Phật” là bốn tiếng Việt duy nhất mà ông thuộc và sử dụng hàng ngày.

Robert Poduna Vac vừa xin được Giấy chứng nhận độc thân từ đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam. Ông cần thủ tục này để làm hôn lễ với bà Nhơn. Một đám cưới có phần kỳ lạ, đám cưới mẹ lại diễn ra sau đám cưới con (Bích Giang), chú rể 73 tuổi, cô dâu 41 tuổi, đám cưới thì có, động phòng thì không.

Đoàn Nguyễn

Daily English Discussion–Tuesday 7/21/09–Kim Lien Tunnel flooded again

englishchallenge

Hi everyone,

Kim Lien tunnel is flooded again. Both the Japanese contractor and the Vietnamese project manager keep saying that it is natural for water to be in the tunnel and that the construction job is of high quality. Sorry, it is only natural for the worst construction quality of the world. It is not natural for the basement of my house to be flooded with water.

Sorry, guys. If you have a tunnel and it is flooded every time it rains, you must be absolutely insane to believe these guys that the job is of good quality. What kind of good quality is that?

And why no one raises serious issue with them? They’ve been giving out all kinds of excuses. Isn’t that simple enough to say “We want a tunnel that works”? Isn’t that simple enough for the world to understand?

I think the government should hire an international auditor, one of those international accounting firms, and ask it to audit both the financial transactions and the engineering works of this project. These international firms will know what good engineering firms to hire.

Have a great day!

Hoanh

Dạ khúc

serenade2
Chào các bạn,

Bài thơ Dạ Khúc của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường rất đẹp và lãng mạn. Mình đã dịch ra tiếng Anh vài năm về trước. Hôm nay post ở đây để chia sẻ với các bạn. Và trong khi đọc, mời các bạn nghe Andre Rieu trình tấu violin với piano phụ họa, bản Dạ Khúc của Erico Tocelli (mà chị Loan Subaru đã giới thiệu trước đây).

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành.

.

Serenade

serenade3
Was there an evening like that evening
On hot sands I dragged back
Long way, thirsty lips blistered
You came gently as the rain

Was there an evening like that evening
Love filled the heart
You came bringing your whole Spring
As bright and warm as flowering

Was there an evening you stopped playing
And gave me the burning kiss
The pain started since
As sweet as fresh grapes

Was there a dream-besieged evening
Your brows curved pouting
On the pillow you loosed sadness
Tangled like blue silk strands

Was there an evening now still living
The moon shone eternity
You vowed an offering
Of your whole life to me

Is there an evening like this evening
My room drowned in darkness
Silent am I a shadow
The flower withers, and you don’t know.

    Translated by TDH

.


.


Dạ khúc

Serenity
Có buổi chiều nào như chiều xưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa

Có buổi chiều nào như chiều qua
Lòng tràn đầy thương mến
Mang cả xuân thì em đến
Thăm nồng như một bông hoa

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi
Cho tôi chiếc hôn nồng cháy
Nỗi đau bắt đầu từ đấy
Ngọt ngào như trái nho tươi

Có buổi chiều nao mộng mị vây quanh
Nửa vành mi cong hờn dỗi
Em xõa muộn sầu trên gối
Rối bời như mớ tơ xanh

Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi
Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn
Em có lời thề dâng hiến
Cho anh trọn một đời ngựời

Có buổi chiều nào như chiều nay
Căn phòng anh bóng tối giăng đầy
Anh lặng thầm như là cái bóng
Hoa tàn một mình em không hay

    Hoàng Phủ Ngọc Tường
    100 Bài Thơ Tình Chọn Lọc, tr. 175
    Nhà XBGD, Hà Nội, 1994

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Yanni và kỷ nguyên nhạc New Age

Chào các bạn,

Sau thế chiến thứ hai, các chiến binh về nhà, và… sinh con, tạo ra một thế hệ trẻ em gọi là baby boomers. Thế hệ này là phần chính của đời sống nước Mỹ, và có lẽ là của thế giới, từ đó đến nay. Mới ra đời là nhu cầu của baby boomers đã tạo ra những phát minh mới về thực phẩm và vật dụng trẻ em cùng những đại công ty trong ngành, như công ty thực phẩm trẻ em Gerber và kem dánh răng Crest.
woodstock
Vừa mới qua, hoặc chưa kịp qua tuổi teen, baby boomers đã thành phong trào nỗi loạn văn hóa trên thế giới. Đây là thế hệ hiện sinh của Jean Paul Sartre, Albert Camus… của hippi, Woodstock, the Bealtes, Bob Dylan, Joan Baez… của cần sa… và biểu tình chống chiến tranh tại Việt Nam.

Đến giữa thập niên 1970’s, từ sau chiến tranh Việt Mỹ, và cả thập niên 1980’s, đây là thế hệ của những kẻ “nghiện làm” (workaholic), của “cá tính A” (type A personality), của thành công kinh tế và khởi đầu của cuôc cách mạng thông tin. Đây là thời của Bee Gees, Diana Ross…

Nghệ thuật New Age
Nghệ thuật New Age

Đến đầu thập niên 1990’s baby boomers bắt đầu chậm lại, và bắt đầu nghe nhạc nhẹ, âm hưởng dịu dàng tự nhiên (consonant sounds) như âm hưởng nhạc cổ điển, nhưng với các khí cụ điện tử mới, nhất là synthersizer, và những nguồn nhạc từ các nền văn hóa khác—như văn hóa người da đỏ, Á châu, Phi Châu.. cùng những khí cụ cổ truyền của các nền văn hóa này. Đó là nhạc New Age. Cùng lúc, tính khám phá của Baby Boomers chuyển sang khám phá văn hóa tâm linh của các nền văn hóa khác, bên cạnh Thiên chúa giáo—Phật giáo, Ấn độ giáo, tín ngưỡng người da đỏ… Đó là văn hóa New Age đang sống mạnh ngày nay tại Mỹ và Âu châu cũng như ảnh hưởng rộng đến toàn thế giới.
yanni
Khoảng đầu thập niên 1990’s trong làng nhạc New Age xuất hiện một thiên tài: YANNI. Yanni, tên thật là Yiannis Hrysomallis, sinh năm 1954 tại thành phố Kalamata, Hy Lạp. Tự học piano, keyboard và soạn nhạc. Anh có cử nhân tâm l‎‎ý học và chưa bao giờ học nhạc trong một lớp nhạc nào.

Album Dare to Dream năm 1992 và In My Time năm 1993 được dự tranh giải Grammy. Anh bắt đầu nỗi bật 1994 với video Yanni Live at the Acropolis, đây là video bán chạy thứ hai trong lịch sử âm nhạc, sau Michael Jackson’s Thriller 9 triệu đĩa.
Từ đó đến nay anh đã trình diễn trên 20 quốc gia với tổng số trên 2 triệu khán giả. Đạt được 35 đĩa bạch kim và vàng. Yanni là một trong những người thành công nhất trong việc giúp hệ thống TV công ở Mỹ thu đóng góp từ công chúng. Đại Học Minnesota của tiều bang Minnesota (Mỹ) tặng anh bằng tiến sĩ văn chương danh dự.

Yanni thường tìm các ca nhạc sĩ tại nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước nhỏ ít người để ‎ý, cộng tác trình diễn, nên nhạc của anh thường mang âm hưởng lạ, ngôn ngữ lạ và khí cụ lạ. Nhạc có âm hưởng êm ái của các nốt nhạc êm tai và hòa âm tự nhiên (consonant notes, tonal chords), cái buồn sâu lắng của gam thứ, nhưng lại có vận tốc tuôn chảy ồ ạt triền miên của hàng hàng lớp lớp sóng biển cuộn vỗ chập chùng, như người viễn xứ hoài hương đứng trước đại dương.

Từ năm 1988 đến nay, nhạc của anh được sử dụng trong mỗi kỳ Thế Vận Hội,và dĩ nhiên là trong rất nhiều cuộc tranh tài thể thao khắp nơi.

Trong các video sau đây chúng ta sẽ thưởng thức, bên cạnh các nhạc cụ tân thời, âm nhạc của một số nhạc cụ dân tộc của các nước:

DUduk
DUduk

Didgeridoo
Didgeridoo

Nghệ sĩ Didgeridoo
Nghệ sĩ Didgeridoo

Hammered Dulcimer
Hammered Dulcimer

Harp
Harp

Conga và bongo
Conga và bongo

Didgeridoo: Nhạc cụ của thổ dân miền bắc Australia, bằng gỗ, thường là gỗ bạch đàn (khuynh diệp), dài khoảng 1,3m, thổi bằng miệng và tạo ra âm thanh rền rĩ rất lạ lùng.

Duduk: Sáo cổ truyền từ 3 ngàn năm trước của nước Armenia (Chị Loan Subaru đã viết bài về Duduk trước đây).

Hammered Dulcimer: Theo truyền thuyết, có nguồn gốc từ Iran 2 ngàn năm về trước. Gồm các dây đàn căng ngang thùng đàn, chơi bằng cách dùng hai “búa” nhỏ gõ vào dây đàn.

Harp: Đàn cho nhiều dây căng thẳng góc với thùng đàn. Harp đã thành hình từ thời cổ đại tại nhiều nơi trên thế giới. Người ta đoán là harp thành hình từ âm thanh tạo ra của sợi dây cung căng ngang cái cung. Bên Âu châu, truyền thuyết là harp thành hình từ Ai Cập 4 nghìn năm trước công nguyên và vùng Iran-Iraq 3 ngàn năm trước công nguyên. Sau đó người Moors đưa vào Âu châu thời trung cổ. Đến thế kỷ 18, nữ hoàng Marie Antoinette vợ vua Louis 16 của Pháp, cổ vũ harp như là cây đàn cho phái nữ. (Marie Antoinnette và Louis bị cách mạng dân quyền của Pháp xử tử). Cũng vì vậy mà các nhạc sư từ đó đến nay không soạn nhạc harp, vì chê là đàn của phái nữ 😦

Trống bongo và conga: Bongo và conga đến từ Cuba, do người nô lệ da đen mang từ Phi châu sang khi bị bắt sang Cuba làm nô lệ. Người nô lệ làm trống bằng các thân cây rỗng, nhưng sang Cuba thì trống làm bằng gỗ và một mặt căng da, mặt dưới để rỗng. Bongo và Conga luôn luôn đi cặp đôi, một lớn một nhỏ, và chơi bằng hai bàn tay. Trống ngắn chừng hai tấc là trống Bongo; conga cao khoảng hơn 1m. Bongo và conga khởi đầu được dùng theo nhịp Rumba, sau đó là salsa, changui và son khi các loại nhạc này phát triển ở miền đông Cuba vào thế kỷ 19.

Năm Video đầu tiên dưới đây đều trích từ DVD Yanni Live! The Concert Event và gồm có các nhạc sĩ chính sau đây:

Yanni: Keyboard, s‎ynthesizer.
David Hudson [Australia]: Didgeridoo
Samvel Yervinyan [Armenia]: Violin
Sayaka Katsuki [Japan]: Violin
Victor Espinola [Paraguay]: Harp
Ramon Flores [Mexico]: Trumpet
Michelle Amato [USA]: Vocal (giọng hát)
Victor Espinola [Paraguay]: Vocal và harp

Video thứ sáu là một Aria, tức là một đoạn nhạc cho giọng người, dùng như là một khí cụ âm nhạc hơn là hát, tại buổi trình diễn ‘Yanni Live at the Acropolis’ năm 1993 tại Hy Lạp.

Video thứ bảy là Yanni trình tấu piano bản Reflection of Passion (Ảnh hình đam mê)

Mời các bạn thưởng thức
.

1. Yanni – Rainmaker

Didgeridoo: David Hudson [Australia]; Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Vocal: Michelle Amato [USA]; Vocal/ Harp: Victor Espinola [Paraguay] Yanni Live! The Concert Event


.

2. Yanni – The Storm

Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Violin: Sayaka Katsuki [Japan]; Harp: Victor Espinola [Paraguay]; Trumpet: Ramon Flores [Mexico] Yanni Live! The Concert Event.


.

3. Yanni – Prelude & Nostalgia

Duduk: Pedro Eustache [Venezuela]; Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Violin: Sayaka Katsuki [Japan]; Violin: Armen Movsessian [Armenia] Yanni Live! The Concert Event


.

4. Yanni — For All Seasons

Vocal: Michelle Amato [USA]; Trumpet: Ramon Flores [Mexico]; Flutes: Pedro Eustache [Venezuela]; Hammer Dulcimer: Dan Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Harp: Victor Espinola [Paraguay], Yanni Live! The Concert Event.


.

5. Yanni — World Dance

From DVD album Yanni Live! The Concert Event performed by Dan Landrum, Pedro Eustache, Samvel Yervinyan, Sayaka Katski, Victor Espinola, Armen Movsessian, Zachary Carrettin, Walter Rodrigues.

6. Yanni — Aria

“Yanni Live at the Acropolis” 1993.


.

7. Reflection of Passion (Yanni on the piano)

Daily English Discussion–Monday 7/19/09–Teen smoking and drinking bans

Hi everyone,
englishchallenge
In this new piece, Milan of Italy is enforcing a ban on teenagers’ drinking. If a teen under 16 years of age is caught drinking alcohol, his/her parents will be fined up to 500 USD. In a country that has produced and exported wines for centuries, that kind of ban is unthinkable.

In the US, the legal cigarette-smoking age is 18 and drinking age is 21. A retail store may lose business license if it doesn’t check customers’ IDs and keeps selling cigarettes or wines to under-aged folks.

Viet Nam doesn’t have any rule prohibiting teens’ smoking or drinking, does it?

What do you say to that?

Viết giản dị và sâu sắc

Chào các bạn,

Bài này là để trả lời câu hỏi, Làm thế nào để viết giản dị và sâu sắc?

Giản dị và sâu sắc liên hệ rất mật thiết với nhau. Những gì sâu sắc thường rất giản dị. Ví dụ: Chàng nói với nàng, “Anh yêu em”—tất cả những bó hồng nhung của thế giới, tất cả thi ca của thế giới, tất cả âm nhạc của thế giới vẫn không làm đầy được ba chữ “Anh yêu em.”

Nhưng, sâu sắc và giản dị là hai kỹ năng khác nhau. Sâu sắc là suy tư. Giản dị là giải bày, hoặc bằng lời nói hoặc bằng lời viết. Trong phần sau đây, chúng ta sẽ nói đến sâu sắc trước, rồi sẽ nói đến viết giản dị sau.

I. Làm thế nào để suy tư sâu sắc?

Thực ra từ “sâu sắc” rất tương đối—sâu sắc với người này, vẫn có thể là nông cạn với người kia. Nhưng tại đây ta không cần quan tâm đến chuyện đó; chỉ cần biết là hôm nay ta sâu sắc hơn ta hôm qua là đủ rổi.

Muốn suy tư sâu sắc ta chỉ cần nắm vững 3 điều thôi:

Suy tư
Suy tư

1. Càng suy nghĩ và kinh nghiệm về một việc gì, ta càng sâu sắc về việc ấy. Sâu sắc đến từ suy tư và kinh nghiệm. Nhưng, kinh nghiệm không phải là một cái gì nằm ngoài tiến trình suy tư, kinh nghiệm là 50% của suy tư, vận dụng não bộ để suy tư là 50% còn lại. Có những điều mình đọc năm 18 tuổi, đến 40 tuổi mới “ngộ” được nó, không phải là vì IQ của mình cao hơn ở 40, nhưng vì kinh nghiệm sống cao hơn.

Nhưng nói đến kinh nghiệm thì các bạn trẻ cảm thấy hơi thiệt thòi rồi. 😦 Nhưng không sao. Người lớn tuổi hơn thì đã phải “trả nợ đời” (pay their dues) nhiều lắm rồi, biết hơn một tí cũng là công bình thôi. Hơn nữa, mình trẻ hơn thì mình lại có sức mạnh khai phá của người tiền phong cầm rìu rựa phá rừng thành rẫy. Nếu mình làm việc với người lớn tuổi hơn, lấy kiến thức của họ về con đường cũ làm kiến thức tạm của mình, và mình dấn thân vào khai phá con đường mới, thì mình có thể nắm được cả quá khứ đến tương lai.

Dù sao đi nữa thì suy tư là suy tư và sống. Cho nên đọc sách, nghiên cứu, thảo luận là một chuyện; nhưng cũng cần phải “đi ra ngoài và làm gì đó” (Go out and do something!).
flighttofreedom
2. Phải vượt thoát các “công thức suy tư”

Chúng ta không tự nhiên mà biết suy tư. Từ bé ta đã được học hàng nghìn công thức suy tư cho hàng nghìn vấn đề. Ví dụ: Đi thưa về trình—không làm như thế là vô lễ. Con gái thì phải thùy mị, không chơi trò bắn súng đánh nhau. Chửi thề là quyền ưu tiên cho đám con trai. 😦 Đó là tiến trình “văn minh hóa” của một con người. Nếu không học được những công thức suy tư như thế thì chúng ta có lẽ là không khác gì chú khỉ trên rừng.

Nhưng những công thức suy tư cần thiết cho sự phát triển nhân cách, cũng có tiềm năng biến chúng ta thành những người máy robot khi lớn lên nếu chúng ta không biết cách “vượt lên tầng cao hơn” để suy tư thực sự tự do. “Vượt lên tầng cao hơn” không có nghĩa là phá bỏ mọi công thức, mà là biết khi nào dùng công thức, khi nào không, khi nào chính mình tạo ta công thức mới cho mình. Đó là mức sáng tạo của tất cả mọi loại nghệ thuật.

Ví dụ: Hoc vẽ thì lúc đầu là phải theo công thức màu gì trộn với màu gì ra màu gì, màu gì dùng để diễn tả tình cảm gì, cách nhìn và đo lường phối cảnh, luật quân bằng… Học viết thì văn phạm, chấm câu, bố cục… Học đàn thì ngồi thế nào, tay bấm thế nào, lúc nào mạnh yếu nhanh chậm ra sao… Học võ thì bước nào trước bước nào sau, một hai ba bốn thế nào… Một lúc nào đó người học trò đã thành thuộc các công thức và đã bắt đầu lên hàng thầy, thì hầu như là quên mất công thức, vì công thức đã vào máu mình rồi. Và bậc thầy thực sự là nguời có thể bỏ công thức và sáng tạo công thức mới khi thấy cần. Đây là mức sâu sắc của nghệ thuật.

Suy tư cũng thế thôi. Một lúc nào đó, ta cần có cái nhìn của một trẻ thơ để hỏi “tại sao?” trước những công thức suy tư đã giúp ta trưởng thành, để ta không bị ngục tù tư tuởng và có thể biến hóa sáng tạo. Ví dụ: Đi thưa về trình. Lúc còn nhỏ đó là công thức văn hóa. Nhưng bây giờ lớn một tí rồi thì “tại sao?” Lớn rồi có còn cần nó như hồi còn con nit hay không? À, có lẽ nó không còn mấy cần thiết như là một vấn đề lễ nghĩa, nhưng vẫn có thể cần đối với người trong nhà như là vấn đề an ninh. Thời đại này, đủ thứ bất an xảy ra ngoài đường, đi đâu nên nói cho ai đó trong nhà biết mình đang đi đâu và khi nào sẽ về, lỡ có chuyện gì người nhà còn biết đường mà mò. Về trễ thì gọi điện về báo tin để người nhà khỏi lo. Đó là suy tư sáng tạo. Hỏi “tại sao?” để thay đổi cái cũ thành cái mới, hoặc đôi khi xóa cái cũ nếu thấy nó thực sự chẳng cần thiết. (Các cô thư ký của mình luôn luôn biết mình ở đâu và khi nào về, kể cả khi mình đi restroom. Để nếu có thân chủ gọi đến, cô không phải trả lời: “Ông ấy ở đâu tôi cũng không biết và chẳng biết khi nào ông ấy về.” Thân chủ sẽ có cảm tưởng là văn phòng này chỉ lo du hí và chẳng ai biết “what is going on” hết).

Đừng bị đóng khung vào các công thức suy tư và ứng xử. Như vậy mới thực sự tự do sáng tạo. “Muốn vào nước thiên đàng thì hãy như trẻ thơ.” Muốn đến đỉnh cao thì hãy vượt khỏi khung công thức người lớn. Nhưng… nhưng… nhưng… một bậc thầy đã nhuần nhuyễn công thức nói là phải vuợt thoát công thức thì khác với một người học trò nhập môn chưa rành công thức nào. Chúng ta chỉ có thể vượt thoát công thức để sáng tạo khi đã nhuần nhuyễn công thức. Không học công thức nào và không rành công thức nào, mà đòi gạt bỏ công thức, thì chưa làm học trò được, đừng nói là sẽ thành thầy sáng tạo.

cherry-heart
3. Chú tâm vào quả tim con người

Tất cả mọi vấn đề lớn nhỏ trên đời, ngoại trừ toán học và khoa học thiên nhiên, đều qui vào qủa tim con người và liên hệ giữa các con người—xã hội học, chính trị học, kinh tế học, thương mãi, nhân chủng học, khảo cổ học, đạo đức học, luận l‎ý học, tôn giáo học, triết học v.v… Tất cả những sinh hoạt gì liên hệ đến con người đều có gốc rễ trong quả tim con người. Ví dụ: Chính trị cho người Việt. Nếu cứ lấy các thống kê và các công thức chính trị của Mỹ rồi giải thích chính trị Việt nam thì hỏng bét. Các thống kê đó phải được hiểu với hiểu biết tâm lý người Việt. Tượng tự như thế, các công thức mô hình chính trị các nước có thể là chẳng mấy liên hệ với khung cảnh và tâm lý người Việt. Kinh tế cũng thế, có thể có một tin chiến tranh ở đâu đó và giá vàng ở vài nơi trên thế giới xuống, nhưng giá vàng ở Việt Nam có thể lại lên, vì dân Việt có máu thích trữ vàng làm an ninh—cứ rục rịch là mua vàng.

Chú tâm vào quả tim con người là chú ‎ý quan sát quả tim của chính mình thường xuyên. Nếu biết quả tim mình thì mình biết được 90% quả tim của mọi người trên thế giới, vì sự khác biệt thực sự giữa mọi người rất ít. Mà quan sát thì cần một tí tĩnh lặng và nhìn.

Ví dụ: Nhìn trời mưa và đang muốn làm thơ, tự động là một công thức suy tư nhảy ra: “Mưa rơi mang mang buồn.” Nếu viết công thức này xuống, thì bài thơ có thể nghe chán phèo vì mấy triệu người đã víết công thức này cả trăm năm rồi. Thay vì thế, quan sát tâm mình một tí, có thể là mình đang nhớ đến ngày mưa năm đó hẹn nàng ở quán Hoài, nhìn mưa đợi nàng, như thường lệ, trễ hẹn 😦 Vậy thì bắt đầu bằng, “Nước bay trước mặt quán Hoài, hàng xe lầm lũi bên ngoài phố mưa…” Hay hay dở thì chưa biết, nhưng chắc chắn là sáng tạo hơn công thức đã bị lạm dụng “Mưa rơi mang mang buồn.” Mà sáng tạo thì có tiềm năng sâu sắc. Ít ra là sâu sắc hơn công thức có sẵn.

Tất cả các vấn đề triết l‎y’ xã hội chính trị kinh tế cũng thế thôi. Dùng cái tâm mình làm thước đo trước, sau đó mang ra cho mọi người, không chính xác 100% vì người và ta khác nhau, nhưng ít ra cũng được 90%.

Tóm lại, muốn suy tư sâu sắc, ta nên chú trọng vào 3 điều: 1. Suy tư và sống. 2. Vượt thoát các công thức. và 3. Quán sát tâm mình.

II. Làm thế nào để viết giản dị

Trong các dịp huấn luyện các luật sư mới ra trường viết lách, mình luôn luôn nhắc đến 3 qui luật viết: 1. Giản dị. 2. Giản dị. Và 3. Giản dị.

Giản dị, vì viết là để chia sẻ với người khác, nếu không giản dị người đọc sẽ không hiểu mình viết gì, và như thế là mình đã thất bại trong việc chia sẻ. (Nếu viết chỉ để cho mình đọc, như là làm thơ chẳng hạn, thì không cần ai hiểu. Nhưng nếu đã đăng ra ngoài mà còn nói là tôi viết để chỉ cho tôi đọc, thì đó là không thành thật. Chỉ cho tôi đọc sao lại đăng ra ngoài?)

Nguyên tắc viết giản dị đòi hỏi ta chú tâm đến các điểm sau:
khán giả
1. Biết người đọc mình nhắm đến là ai: Giản dị với các vị cử nhân thì khác với giản dị với các vị mới chỉ học xong lớp năm. Cho nên, nghĩ đến đọc giả mình nhắm đến, trong khi viết.

Nếu đọc giả có thể có đủ mọi trình độ, ví dụ từ lớp 10 đến tiến sĩ (như ĐCN chẳng hạn), thì ta phải viết đủ giản dị để người học lớp 10 cảm thấy mình hiểu hết bài viết, và người tiến sĩ cũng hiểu hết bài viết nhưng sâu hơn vài tầng. Điều này cũng không khó mấy, chỉ cần thêm vào bài cho người lớp 10 vài từ có vẻ vô thưởng vô phạt cho lớp 10, nhưng mang l‎y’ lẽ sâu xa cho người cấp tiến sĩ. Ví dụ: “Yêu người thì thường được người yêu lại.” Câu này thì lớp 10 hiểu được ngay, nhưng người mức tiến sĩ thì thấy sự quan trọng của chữ “thường”—À chị này nói thế có y’ là lâu lâu cũng có ngoại lệ, yêu người thì được nguời đâm sau lưng. 😦

Ngay cả khi viết cho người có trình độ cao, ta vẫn phải tưởng tượng là họ chẳng biết gì mấy, viết như viết cho người có trình độ thấp hơn một tí vì: (a) Người bận việc đọc rất nhanh và không muốn đọc lại. Viết càng giản dị càng giúp họ trong việc đọc. (b) Trong các việc ta đã suy nghĩ và nghiên cứu nhiều, người đọc không rành việc ấy bằng ta, cứ xem như là ta đang giải thích cho học trò là chắc ăn nhất. Ví dụ: Viết một về vụ án gửi lên thẩm phán, bạn đã tốn mấy tháng liền, mỗi ngày 12 tiếng, nghiên cứu vụ này. Trong vụ này bạn là thầy ông thẩm phán, ông ta chẳng biết ất giáp gì hết, vậy thì khi viết cho thẩm phán cứ viết thật giản dị như viết cho học trò của bạn.

simplicity
2. “Nếu tôi viết, bạn đọc mà không hiểu, thì đó là do tôi viết tồi, chứ không phải vì bạn đọc tồi.” Luật này là luật viết quan trọng số 1.

3. Chỉ viết về một điểm chính cho một bài. Hai điểm chính, như bài này–suy tư sâu sắc và viết giản dị–là đã hơi quá nhiều. Ba điểm là giới hạn tối đa. Bốn điểm là no-no.

4. Dùng từ giản dị. Đừng dùng từ phức tạp, trừu tượng và chuyên môn.

Từ giản dị là từ dùng thường ngày. Ví dụ: “Đừng xả rác ngoài đường” thì dễ hiểu và mạnh mẽ hơn là “Phải đề cao ‎y’ thức y tế cộng đồng.” (Nói gì vậy??). “Anh yêu em” thì rõ ràng hơn là “Anh xúc cảm tràn dâng trong tâm tưởng với ảnh hình dấu ái tuyệt vời của em.” (What is that?? Muốn gì thì nói thẳng ra đi cha nội :-))

Từ cụ thể thì dễ hiểu và mạnh mẽ hơn từ trừu tượng. Ví dụ: “Hãy vun trồng nước non sông núi này; hãy tưới nước cho hoa nở trên mọi cánh đồng” thì mạnh mẽ và dễ hiểu hơn là “hãy nâng cao lòng ái quốc và tình yêu xứ sở.”

Từ chuyên môn chỉ nên dùng với người cùng ngành chuyên môn. Ví dụ, thay vì “Độc quyền kinh tế làm tăng giá, giảm cầu và giảm hiệu năng kinh tế quốc gia” thì nên viết “nhà độc quyền có quyền bán ít hàng để có thể tăng giá đến mức cắt cổ, làm người tiêu thụ rất bị thiệt thòi.”

5. Viết câu ngắn. Ví dụ:

    “Ai cũng bảo xòe bàn tay ra, trong ấy có cả quá khứ vị lai. Tôi thì không tin rằng chỉ cần ngồi lẩm nhẩm với mình mà đọc được cái gì chưa đến. Còn quá khứ thì đâu chỉ nằm trong lòng bàn tay. Tôi vay ngân hàng ba mươi triệu, quá khứ của tôi nằm ở ngân hàng. Tôi vay của người hàng xóm đôi lời chì chiết. Quá khứ giờ đang nằm ở nhà hàng xóm. Tôi vay em một thời yêu thương. Chuyện này thì cầu mong quá khứ còn náu mình đâu đó nơi em.” Kể Chuyện Tôi, Tấn Ái.

6. Dùng các dấu chấm câu để giảm vận tốc đọc của người đọc. Ví dụ:

    “Nếu bạn hỏi tôi thích làm gì nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là: ‘Tôi thích chăn bò!’. Có thể bạn không tin, nhưng thật tình, tôi thích chăn bò lắm! Tôi rất thích nhìn vào đôi mắt to trong veo của con bò nhà tôi, đen láy và ướt át, chúng luôn khẽ khàng nấp dưới hàng mi dài cụp xuống. Trong đời, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một đôi mắt nào buồn đến thế. Nó toát lên vẻ ẩn nhẫn, cam chịu, và hiền lành khiến cho tâm hồn trẻ thơ ngập tràn thương cảm. Một tình bạn thầm lặng bắt đầu từ đó!” Hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng, Đông Vy.

link

7. Dùng các từ nối kết—nhưng, và, vì thế, do đó, vậy thì, thế thì…– để nối kết những chuỗi lý luận với nhau. Ví dụ:

“Tư duy là bên trong và hành động là bên ngoài. Tư duy chi phối hành động. NHƯNG cuộc đời đưa ta đến bao tình huống khác nhau mỗi ngày, đòi hỏi những hành động khác nhau cho từng tình huống. Hành động thì khi nhanh khi chậm, khi như sâu lắng suy tư, khi như ánh chớp như thể không kịp suy tư, khi thì dịu dàng, khi thì dũng mãnh… VẬY THÌ tâm tư ta thế nào trong những tình huống như vậy? Tâm tư ta cũng biến chuyển vô thường như hành động theo từng tình huống hay sao?” Liên hệ giữa tư duy và hành động.

8. Đặt mỗi “đơn vị ý tưởng” (thought unit) trong một đoạn (paragraph) riêng. Nhưng nếu đoạn này quá dài thì cắt ra thành hai ba đoạn cho đỡ rậm mắt và nhức đầu người đọc.

Hoặc, nếu một câu nào đó mà ta muốn nhấn mạnh, thì tách câu đó ra thành một đoạn. Ví dụ:

    “Tâm tính của mỗi người là một bộ máy tâm sinh lý đặc biệt, cứ như thế mà vui buồn yêu ghét. Không phải muốn đổi tâm tính là có thể làm xong trong một ngày, một tuần. Nếu cơ thể cần được tập luyện mỗi ngày, khá lên mỗi ngày một tí, vài ba năm mới được như vận động viên, thì tâm tính cũng thế, cũng phải được rèn luyện mỗi ngày, không, mỗi phút giây ta sống. Và phải kiên nhẫn một thời gian thì mới có được kết quả ‘trông thấy’.

    Nhưng tại sao ta phải suy tư tích cực? Trời sinh sao để vậy không được sao?

    Trước hết, tâm tính của ta không phải do trời sinh. Các yếu tố di truyền có dự phần một tí, như là sinh ra thì có hai tay hai chân, nhưng có đai đen Judo hay một cơ thể èo ọt bệnh hoạn là do ta. Trí lực và tâm lực cũng thế, trời sinh ra có tâm trí, tích cực hay tiêu cực là do ta.” Tư duy tích cực là gì?

9. Nếu được thì nên đánh số 1,2,3, a,b,c như dàn bài cho các đơn vị ý tưởng (như bài này đây).

10. Bất kỳ bài nào, dù là viết kiểu gì, đều có 3 phần: Mờ đầu, thân bài và kết luận. Có khác nhau là chỉ về hình thức một tí thôi. Mở đầu là để giới thiệu mình muốn nói về việc gì. Thân bài là phân tích, l‎ý luận, giải bày. Kết luận là để mình muốn đọc giả nghĩ gì, cảm xúc gì, làm gì, chia sẻ gì. Ví dụ:

    Mở đầu: “Nếu bạn hỏi tôi thích làm gì nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là: “Tôi thích chăn bò!”. Có thể bạn không tin, nhưng thật tình, tôi thích chăn bò lắm! …”

    Kết luận: “Để bây giờ, rất nhiều khi thấy chán chường những con đường chen chúc người xe và khói bụi, mệt mỏi với cuộc sống vội vã đua tranh, tôi lại thèm quá những ngày huy hoàng cũ, khi tôi còn là một cô bé chăn bò. Bởi thế, nếu một ngày nào đó không tìm thấy tôi trong chốn đô thị bon chen, bạn hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng …” Hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng, Đông Vy.

proofreading

11. Duyệt lại. Nếu bạn là chuyên gia về kinh tế viết một bài về kinh tế cho đọc giả không phải là dân kinh tế, thì sau khi viết xong, đưa bài cho một người bạn chưa biết đánh vần chữ “tiền” đọc lại. Nếu bạn này nói chỗ nào không hiểu thì viết lại chỗ đó, cho đến khi bạn đó nói là thực sự hiểu toàn bài.

Viết là một nghệ thuật. Càng viết nhiều thì nghệ thuật càng nâng cao và càng có nhiều kỹ năng để nghiên cứu thêm. Nhưng hy vọng các qui luật căn bản trên đây cũng có thể giúp các bạn đi được một đoạn khá dài.

Điều cuối cùng mình muốn nhấn mạnh trong liên hệ giữa suy tư sâu sắc và viết giản dị là: Chỉ khi bạn hiểu được một vấn đề rất sâu sắc bạn mới đủ khả năng để trình bày vấn đề đó rẩt giản dị. Nếu bị lúng túng quá trong việc giản dị hóa một vấn đề, có thể là bạn phải nghiên cứu và suy nghĩ thêm về vấn đề đó, cho đến lúc nắm vững đủ để trình bày đựợc cho cả các em bé tiểu học, nếu cần.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến.

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Daily English Discussion–Saturday, July 18, 2009–Vegetarian diet

Hi everyone,

Giac Ngo online is opening a writing competition on “scientific fasting” (ăn chay khoa học). I have the feeling that they mean vegetarian diet. (Not sure what “scientific” really means 🙂 ) This is a very interesting issue for me too.

This year I started to eat brown rice, sesame seed and sea weed for several months. I felt very good. But then I lost so much weight and muscle strength after several months, more than I wanted, so I stopped and switched to tofu.

Right now I eat tofu as the main food, which is much better for physical strength.

I just boil the tofu and dip it in soy sauce. Sometimes I fry (using sesame oil or olive oil or other vegetable oil). It feel good. I feel my muscles have much more strength than brown rice.

I would suggest tofu as the main food if you are going for a long time. Several martial artists I know eat mainly tofu.

Anyone has some thing interesting to share?

Have a great day!

Hoanh

Liên hệ giữa tư duy và hành động

Chào các bạn,

Tư duy là bên trong và hành động là bên ngoài. Tư duy chi phối hành động. Nhưng cuộc đời đưa ta đến bao tình huống khác nhau mỗi ngày, đòi hỏi những hành động khác nhau cho từng tình huống. Hành động thì khi nhanh khi chậm, khi như sâu lắng suy tư, khi như ánh chớp như thể không kịp suy tư, khi thì dịu dàng, khi thì dũng mãnh… Vậy thì tâm tư ta thế nào trong những tình huống như vậy? Tâm tư ta cũng biến chuyển vô thường như hành động theo từng tình huống hay sao?
shaolinmonks
Một trong những điều làm mình suy nghĩ rất nhiều năm là trong tất cả mọi tôn giáo của thế giới, đạo Phật là hòa ái nhất. Điều này thì không cần phải nghiên cứu lịch sử tôn giáo; chỉ cần nhìn quanh thế giới hiện tại một vòng ta cũng thấy ra ngay. Nhưng mà cái nôi và kho tàng của võ học Trung quốc lại nằm trong Thiếu lâm tự. Tương tự như thế, đạo Lão là đạo rất vô vi và hòa ái, thì cũng có phái Võ Đang là đĩnh cao võ học về nhu quyền. Tại sao lại như vậy?

Dĩ nhiên là một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện. Nhưng cuốc đất cũng tráng kiện, không nhất thiết phải là cao thủ võ lâm. Và đã đi tu thì cũng chẳng cần phải phòng thân, vì như trong truyện đời Phật Thích Ca cũng như nhiều vị bồ tát khác, thí thân mình là chuyện thường tình. Chỉ còn cách ly’ giải duy nhất là võ học thì giúp được người cô thế nhiều hơn, nhất là ngày xưa khi vũ thuật tự chính nó là môn vũ khí lợi hại.

Nghĩa là, ngay trong gốc rễ của các truyền thống đạo học lấy tĩnh lặng làm gốc, thì vẫn xem cái động bên ngoài như là một phần chính của cuộc sống thế gian, vì thực tế cuộc đời đòi hỏi hành động khi thì nhún nhường khi thì dũng mãnh.

Điều này thì chẳng có gì mới mẻ hay khó hiểu cả. Nhưng câu hỏi vẫn là: Thế thì tâm ta thế nào? Nó có xung động theo hành động bên ngoài không? Làm sao một cái tâm tĩnh lặng, điều khiển một vị cao tăng xuất chiểu đấm đá? Làm sao để ly’ giải hiện tượng xem ra là xung khắc này?
mecon1
Những câu hỏi này đưa mình đến một liên hệ thâm sâu và chặt chẻ nhất trong tất cả các liên hệ con người—liên hệ mẹ con. Mẹ thì thương con thâm sâu, vô điều kiện, vô giới hạn thời gian và không gian, vô giới hạn l‎y’ lẽ, vô giới hạn đạo đức đúng sai. Mẹ luôn thưong con. Đơn giản thế thôi.

Nhưng mẹ hành xử với con đủ kiểu—khi thì ôm ấp vỗ về, khi thì ngăn cấm, khi thì nghiêm phạt, khi thì dịu dàng, khi thì cứng rắn. Nhưng dù hành động thế nào đi nữa, thì trong từng giây phút đó mẹ vẫn thương con.

Thế thì giữa những gì xem ra là xung động của hành động bên ngoài và cái hòa ái của tĩnh lặng bên trong vẫn có hòa hợp và vẫn có thể l‎y’ giải được. Như cây cổ thụ đầu làng, lá cành luôn xôn xao dao động với bao ngọn gió, nhưng thân và rễ vẫn luôn chắc chắn tĩnh lặng.
treeinthewwind
Và phải chăng chính cái tĩnh lặng chắn chắn của gốc rễ cho phép lá cành được xôn xao mà cây không vì đó mà ngã nghiêng tróc gốc?

Thế thì, những tình huống khác nhau trong ngày đòi hỏi ta có những hành động khác nhau. Làm thế nào ta biết được nên hành động thế nào?

Rất dễ để cho chúng ta có những quy luật rõ ràng và chắc chắn, như là “Nếu kẻ thù tát má này thì đưa thêm má kia.” Điều này thì cũng không khó, nếu kẻ thù tát mình thì nhịn một tí cũng chẳng có gì là khó khăn mấy.

Nhưng nếu kẻ thù tát người khác và tạo ra bất công xã hội thì sao? Đây không phải là tát mình, mà là tát vào cả xã hội?

Những người trộm cắp hà hiếp người khác thì sao?

Chắc chắn đó là những tình huống đòi hỏi ta phải làm gì đó, với con tim yêu ái, yêu người và yêu đời.
waves
Đây là khi con tim tĩnh lặng và hòa ái của ta giúp ta quyết định phải làm gì trong tình huống này khi tình huống này đang xảy ra. Đó là là quyết định ta không thể tính trước được mà chỉ có thể quyết định ngay khi nó xảy ra. Vào lúc một tình huống đang xảy ra với những sự kiện đặc thù của nó–ai đang làm gì với ai, tại chỗ nào, trong không khí nào, cái hại cái lợi của hành động của họ thế nào, những điều gì mình nên làm để can thiệp, những điều gì mình có thể làm, những gì mình không nên làm… hàng chục câu hỏi như thế vận hành có thể chỉ trong vài tích tắc, và computer trong đầu của ta phải duyệt qua tất cả thông tin lúc đó và quyết định ngay lập tức ta phải làm gì.

Những lúc đó ta không có thời giờ để triết lý. Nhưng nếu con tim ta đã có sẵn tĩnh lặng và hòa ái, thì dù chỉ trong vài giây suy nghĩ, năng lượng tĩnh lặng và hòa ái vẫn là năng lượng mạnh nhất ảnh hưởng vào quyết định của não bộ.

Và cuối cùng, dù ta quyết định thế nào đi nữa, ta cũng có thể an tâm là quyết định của ta đã được đặt trên nền móng của một con tim thật sự tĩnh lặng và hòa ái.

Và dù là sóng có thiên hình vạn trạng, nhanh hay chậm, dịu dàng hay bão tố vì những ngọn cuồng phong bên ngoài, ta vẫn biết được bản chất của nước là trong suốt và tĩnh lặng thế nào.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Nghệ sĩ dương cầm Yundi Li

Chào các bạn,

Li Yundi (李云迪) (sinhngày October 7, 1982) tại thành phố Trùng Khánh, Tứ Xuyên, Trung Quốc là một nhạc sĩ piano cổ điển, nổi tiếng nhờ là nhạc sĩ dương cầm trẻ tuổi nhất thắng International Frederick Chopin Piano Competition lúc 18 tuổi vào năm 2000. Hiện nay Yundi Li sống ở Hồng Kông và trình diễn dương cầm cùng dàn đại hòa tấu Hong Kong Philharmonic Orchestra.

Yundi Li có tiếng đàn rất sống động, nhún nhẩy, nhiều thay đổi cường độ và, do đó, mang theo nhiều cảm xúc. Người ta có thể nghe được cảm xúc tuôn ra từ mỗi nốt đàn. Sở trường của Yundi Li nhạc Chopin, người ta có thể cảm nhận được sự khác biệt khi Yundi trình tấu Chopin, so với trình tấu Prokofiev chẳng hạn.

Sau đây mời các bạn thưởng thức vài vidéo của Yundi Li

1. Chopin’s “Fantasie” Impromptu, C thăng thứ, Op. 66 No. 4
2. Chopin Dạ Khúc (Nocturne Op. 9 No. 2).
3. Ba bản cùng lúc: Verdi’s “Rigoletto” Opera Fantasy, bản nhạc đông phương “Hoa Hướng Dương” (Sun Flower), và “La Campanella” của Liszt.
4. Traumerei của Schumann
6. Và hai ngày liền thi đấu lúc 18 tuổi tại International Frederick Chopin Piano Competition, năm 2000.

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !!

Hoành

.

Chopin’s “Fantasie” Impromptu in C-sharp minor, Op. 66 No. 4

.

Yundi Li plays Chopin Nocturne Op. 9 No. 2

.

“La Campanella” in B minor S. 141. Composed 1838, revised 1851. Liszt was 27 when he composed this piece.

.

Pianist Yundi Li plays Liszt’s piano reduction of Verdi’s “Rigoletto” Opera Fantasy, an Oriental piece by composer Wang titled “Sunflower” and finally another Liszt, the 3rd Etude based on a variation of a theme of Paganini, “La Campanella” in B minor S. 141.

.

Traumerei (Shumann)

.

Yundi Li – 14th International Chopin Competition (2000). This is an 18 year old Yundi Li’s performance at the 14th International Chopin Competition in 2000. Uncut, plays straight through two days worth of amazing performances