All posts by Đọt Chuối Non

Me? Me? Me?... Yeah yeah yeah amigo... What can me say about me-self?... me-self...me-self... Ole ole ole... me me me... I'm a young banana shoot... My dad is Banana Pa... My mom is Banana Ma... I am happy happy happy... I run around... oops... I can't run... I sing aloud... all day long... I sing in the rain... I sing in the shine... I sing day and night... I sing all the time... I watch the butterflies and the bees... and the cranes and the geese... Aha aha aha... here we go again... this little swallow circling on my head... the little swallow on my head... is about to poop on me... Hey, little fella, don't cha know where to unload ya poopa?... But, that's alright... I can swallow my pride to befriend a swallow... Yup yup yup... swallow my pride to befriend a swallow...

Thứ sáu, 26 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

Malagueña Salerosa – bản nhạc lãng mạn Mê-hi-cô của mọi thời đại, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Trần Đình Hoành.

Yêu và được yêu, Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Đừng xét bên ngoài , Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Nụ cười mang bình yên, Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Thị Thu Hiền.

Hội Xuân , Thiền Thi, anh Trần Đình Hoành.

Tôi biết tại sao con chim nhốt trong lồng vẫn hót, Thơ, song ngữ, chị Huỳnh Huệ và anh Lê Vĩnh Tài.

Mênh mông chiều vàng, Văn , chị Đàm Lan.

Cơ hội là do chính bạn tạo ra, Trà Đàm, Du Học, Chuyện Phố, chị Hoàng Khánh Hòa.

Kẻ cướp thành môn đệ, Thiền, Trà Đàm, Văn Hóa, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Thứ năm, 25 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

Mr. C The Slide Man – Cha Cha SLide, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Trần Đình Hoành.

Thông báo học bổng tu nghiệp: Revenue Watch Institute fellowship, Thông Tin, anh Trần Đình Hoành.

Thêm một cơ hội để làm đúng , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Không bao giờ thiếu bạn , Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Khả năng thành công, Danh Ngôn, song ngữ, chị Thanh Hằng.

Trảng cỏ biếc xanh , Thơ, chị Tôn Nữ Ngọc Hoa.

Quê Hương trường ca – Đoạn 6, Thơ, anh Inrasara.

Ngôi trường của mẹ, Văn , Văn Hóa, anh Trần Huiền Ân.

Tín điều của sinh viên , Trà Đàm, Teen Talk, song ngữ, chị Hoàng Khánh Hòa.

Thiền trong đời gã ăn mày , Thiền, Trà Đàm, Văn Hóa, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Kiến thức giả, Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Quê Hương trường ca – Đoạn 6

Hành trình tìm hơi thơ – hành trình từ Đất
Hành trình đi tìm quê hương – khởi hành từ nỗi nhớ quê hương
Bắt đầu từ bàn chân trần – trắng, từ con số không
Từ con số âm, có lẽ.
Ta không thể đi vào tương lai bằng giấc mê Quá khứ
Đi vào ngày mai bằng niềm tiếc Ngày qua
Không thể bay cao khi hồn còn trì nặng sâu mọt căm thù
Không thể đi xa khi chân còn kéo lê sợi tơ kiêu hãnh hão
Hãy để Tháp Cánh Tiên, Tháp Chùa với nhà trùng tu thi gan giông bão
Để yên Tara, Garuda trong viện bảo tàng
Po Klaung, Xah Bin – xin thắp ngọn nến, nén nhang
Coi chừng hai buồng phổi ta thiếu ôxi bởi khói!
Thế giới rậm rịt bao la cho ta ngàn cơ hội
Cơ hội của ta, cơ hội cho cháu con.
Để nuôi ta, ta rút tinh chất từ cha ông
Thì phải cất cho đời sau dòng nhựa*
Giữa đêm tối bão giông, hãy cúi rạp như ngọn cỏ
Ngọn cỏ ngóc đầu trong nắng mai.
Cây nở hoa từ u tối bùn lầy
Người thì lớn khôn từ trần ai bể khổ.
Hành trình đi tìm hơi thơ – hành trình tìm hơi thở
Trong bụi bặm trang sách, sa mù câu kinh
Dưới sần chai dấu chân, trên lãng đãng con đường
Người xưa bỏ lại trên cát.
Hơi thở mênh mang trong lời ru, câu hát
Tối mẹ ầu ơ hay chiều em nghêu ngao
Cánh tay anh gân guốc trên tầng cao
Hình lưỡi búa vẽ vòng cầu vào nắng trưa vọt ra hơi thở
Trên vầng trán cha đẫm sương quá khứ
Hơi thở ẩn tàng dưới nếp nhăn
Hơi thở dạt dào trong mắt sinh viên
Tìm hương Đất giữa khô khan bài học
Qua trang sách, mở phơi đường dân tộc
Con đường nhọc nhằn dẫn lối con đường xanh.
Hãy yêu hãy yêu như ta chưa từng
Đứa con đi hoang bỏ xa làng mạc
Mang bụi đất quê hương về miền xứ khác.
Và hãy yêu hơn con người chân chất
Sống một đời ôm mang đất – phù du
Những con người hiến thân cho hơi thở phong nhiêu

Inrasara

Ngôi trường của mẹ

Hồi ấy, làng Vân Hòa của tôi có trường công liên hương tại ấp Phước Hậu, nhưng làng quá rộng, từ nhà tôi ở ấp Bình Trị, hay ấp Bình Điền lân cận đến Phước Hậu đi bộ mất nửa buổi, vì vậy đa số trẻ con hai ấp này không đi học được. Nhỏ tuổi thì không đủ sức đi, tìm nhà quen gởi trọ cũng bất tiện. Lớn lên một chút thì còn lo giúp đỡ công việc gia đình, chăn trâu, dọn vườn, bẻ thơm… Để giải quyết việc này, cha tôi xin phép mở một “gia đình học hiệu” và cất gian trường bên cạnh nhà. Tuy nói là gia đình học hiệu nhưng thực tế cha tôi tìm thầy mời về dạy chương trình lớp Năm và lớp Tư cho cả trẻ con hai ấp Bình Trị, Bình Điền. Tôi còn nhớ thầy Vưu người Tuy Hòa và thầy Liên người tận ngoài Quảng Bình. Mẹ tôi có một gánh hàng xén, mỗi tháng chín phiên bán ở Chợ Đồn. Mọi chi phí cất trường, đóng bàn ghế, bảng đen, mua sổ sách bút mực cho thầy, việc ăn ở của thầy tại nhà tôi đều do mẹ tôi lo liệu, trích từ lợi tức trong gánh hàng xén ấy. Giữa tháng mẹ tôi “kiểng” thầy số tiền lương.

Học sinh chẳng những được học miễn phí, không phải đóng góp một khoản nhỏ nào, còn được tổ chức sinh hoạt như trường công, có bầy đàn, ca hát, tập các trò chơi, tìm dấu đi đường… Mấy môn này thì trẻ con thôn quê dễ rành lắm. Thay vì công bố vị thứ hàng tháng mẹ tôi xin thầy công bố vị thứ hàng tuần vào mỗi chiều thứ bảy. Trò nào học giỏi được thưởng. Phần thưởng là giấy manh, thước gạch, bút chì, ngòi viết và mực viên… cũng do mẹ tôi cung cấp. Hồi ấy chưa có tập vở, học trò dùng giấy manh đóng vở, tự gạch dòng bút chì để chép bài, làm bài. Ngòi viết có nhiều loại, chúng tôi gọi theo hình dạng là ngòi viết lá tre, ngòi viết rông, ngòi viết bầu và ngòi viết ễn. Mực viên dùng hai màu xanh và tím, một loại giống như viên thuốc aspirine, một loại viên hơi tròn. Mấy trò thường xuyên được thưởng thì giấy bút mực dư học cả năm, khỏi phải mua. Học ở đây xong, đứa nào cha mẹ cho học tiếp thì ra Phước Hậu vào lớp Ba, đứa nào không có điều kiện phải ở nhà thì cũng ít nhiều đã biết đọc biết viết.

Hai anh em tôi nhỏ nhất, cùng học một lớp. Thầy cho ra chơi là chạy vào nhà tìm kẹo bánh. Tôi rất thích loại kẹo bạc hà đựng trong ve thủy tinh hình giống như trái bầu, mỗi lần đi Dinh mẹ tôi mua về cho một vài ve. Cùng lớp, có mấy trò con trai ở Bình Điền lớn tuổi, đứng gần bằng thầy, dân làm ruộng đen thui và chắc nịch. Mấy trò con gái dân Xóm Chợ thì trắng trẻo ẻo lả… Chúng tôi hơn họ ở chỗ có một bộ “giáo khoa thư” và nhiều lúc được mẹ lật sách ra chỉ cho những hình vẽ, giảng giải. Thành ra trước khi biết chữ anh em tôi đã thuộc lòng, tranh nhau đọc câu: ”Sách này do Nha Học chánh Đông Pháp giao cho các ông Trần trọng Kim, Nguyễn văn Ngọc, Đặng đình Phúc và Đỗ Thận soạn. Nhà nước giữ bản quyền. Cấm không ai được in lại”, đã có những tờ tranh vẽ hình bà Trưng bà Triệu cỡi voi, ông Đinh Bộ Lĩnh bẻ bông lau làm cờ đánh giặc…

Học 24 chữ cái rồi vần xuôi, vần ngược, ráp vần, tập đọc… Vần xuôi nghe như cầu kinh, vần ngược nghe như thần chú. Khi biết đọc sách chỗ nào không hiểu tôi đem hỏi mẹ, được mẹ giảng giải rõ ràng. Bây giờ đã quên hết, chỉ còn nhớ hai chuyện. Chuyện thứ nhất, trong sách có hình vẽ một ông cỡi ngựa và nhiều người đang cuốc đất gánh đất hay làm gì đó, ghi là “Chánh tổng coi đê”. Con đường trước nhà tôi thỉnh thoảng có đồng bào dân tộc thiểu số cỡi voi đi qua. Voi, gọi là “ông bồ” tai to vòi dài… lạ lắm, cách ăn mặc của “thằng nài”, cái ống điếu, tiếng nói lơ lớ…cũng lạ lắm, vui lắm. Lúc ấy thường gọi chung đồng bào các dân tộc thiểu số là “người Đê”. Mỗi lần như vậy lũ trẻ chúng tôi gọi nhau đi “coi Đê”. Tôi lấy làm lạ, tại sao ông Chánh tổng cũng đi “coi Đê” như lũ nhóc chúng tôi. Mẹ tôi mới giảng cho biết về những con đê bên sông ngoài Bắc, trong hình là ông Chánh tổng đang trông coi dân chúng đắp sửa đê. Chuyện thứ hai, khi đọc bài “Trầu Cau” có câu “…người vợ chết hóa ra dây trầu không leo ở cây cau…”. Rõ ràng trong hình vẽ dây trầu quấn vào cây cau sao lại nói dây trầu không leo ở cây cau? Mẹ tôi giảng lại cho biết, xứ mình gọi là dây trầu thì ngoài Bắc gọi là dây trầu không.

Trong một năm thầy Liên dạy chúng tôi học hết chương trình lớp Đồng ấu và Dự bị để ra trường công liên hương học lớp Sơ đẳng (lớp Ba). Đầu năm 1945, chuẩn bị thi bằng Sơ học yếu lược, mỗi trò được cấp một giấy căn cước, dưới có chữ ký quan Tuần vũ tỉnh Phú Yên Trần văn Lý. Chữ ký dài, đầy đủ và rõ ràng, gần chữ v (văn) có một chữ v khác bằng bút chì màu đỏ. Tôi nói với mẹ: Quan Tuần vũ ký sai phải sửa lại chữ v. Mẹ tôi giảng cho biết đó là chỗ một thầy thông thầy phán đã xem trước, thấy đúng, làm dấu để quan Tuần vũ ký chứ không phải sai và sửa.

Tôi nhớ mãi chuyện này vì đây là lần cuối cùng chuyện trò cùng mẹ. Học lớp Ba tôi phải ở trọ, chủ nhật sau về thì mẹ tôi bệnh, rồi bệnh nặng và qua đời. Đau thương trùm lên gia đình tôi. Tiếp theo là những biến cố dồn dập của đất nước… Gia đình tôi rời khỏi làng Vân Hòa và xa cách mộ phần mẹ.

Bây giờ, mỗi khi hồi ức về mẹ, tâm tưởng tôi vẫn là tâm tưởng đứa trẻ lên bảy lên tám… Tôi tự hỏi: Bao nhiêu bạn bè thời thơ ấu ấy, nay ai còn ai mất, ai lưu lạc phương trời, ai đang ở làng quê, ai đã thành ông bà nội ngoại, kẻ giàu sang, người nghèo khó… Giữa bao nhiêu bận rộn của cuộc sống, có lúc nào họ nhớ lại những ngày học tại “nghĩa thục” của mẹ tôi không? Có lúc nào họ nhớ lại hình ảnh mẹ tôi không? Tôi nghĩ rằng họ không phải là kẻ bạc!

Trần Huiền Ân

Thứ tư, 24 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

ESPAÑA CAÑI (Vũ điệu Gipsy Tây Ban Nha) và vũ điệu Paso Doble, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Trần Đình Hoành.

Yêu thương lẫn nhau, Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Thị Thu Hiền.

Tình yêu của cha mẹ , Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Đi xa , Danh Ngôn, song ngữ, chị Thanh Hằng.

Hai góc địa cầu chung ước mơ , Thơ, chị Hoa Trang.

Trên bãi dương quê nghèo , Thơ, anh Bùi Minh Vũ.

Inrasara, chàng Kazik của Mỹ Sơn văn học, Chứng Nhân, Văn Hóa, anh Trần Can.

Người họa sĩ giàu có trên phố Chapel , Chuyện Phố, Văn Hóa, chị Hoàng Khánh Hòa.

Kết hợp giữa chính sách dân tộc và bảo vệ môi trường, thiên nhiên, Trà Đàm, Văn Hóa, chị Linh Nga Niê Kdăm.

Câu trả lời của người chết , Thiền, Trà Đàm, Văn Hóa, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Trên bãi dương quê nghèo

Tôi ước có lần về Đức Lợi
Nằm ngủ trên cát Bãi Ngang
Nhìn biển, nhìn sóng, nhìn ghe trên bờ
Nhìn những ngư dân mờ dần trong bóng tối
Bây giờ những con cá bơi xa bờ
Quẳng câu chỉ là trò chơi con nít
Nhưng tôi muốn thấy
Đêm nằm hong gió biển mặn mòi
Đặt tay lên cát li ti trắng
Nơi những bàn chân trẻ xa xưa
Kéo co, đá banh, ngủ quên bỏ học bài khuya
Tôi ước có lần về Đức Lợi
Dù cha không còn nữa, mẹ đã đi xa
Đó là ước mơ chân nhất
Ôi đôi mắt hiền của mẹ
Hiển hiện chợ xưa tay nách rỗ gạo một mình
Cứ như đâu đây
Mà vô thường
Băng qua vàng vọt những hàng dương
Dẫu chẳng còn một khỏanh cát trắng
Căn nhà nhỏ có còn thùng sách cũ
Mẹ bán trong mùa bão táp
Ngày rời quê trong nỗi buồn
Tôi biết
Mẹ tha thứ cho con lọt ra trên cát
Rồi biền bịêt
Nhưng tôi hiểu bài học đớn đau khi thiếu quê
Không có nơi nào hơn em ơi
Tôi xin một lần
Không thể đến nhà hàng say với người ta
để chẳng còn biết đường về Đức Lợi
Tôi xoa đôi tay tìm hơi ấm
Và mong sao những chiếc thuyền không nằm trên Bãi Ngang
Những con sóng không nhỡn nhơ ở bờ dương
Chẳng ấm ớ để trách ai
Từng đêm, đêm, tôi hỏi tôi
Những mẹ, những chị và em có còn đi quơ dương liễu
Có còn đi gánh cá ở Cửa Lỡ
Chở mắm qua đò hát hò không ngủ
Đi xem phim trắng đen mà cười vui như đám cưới
Tôi hỏi tôi
Tuổi trẻ nay còn đâu mà đắp cát xây thành chắn sóng
Mà lau tiếng thở dài của mẹ
Vá lại những vết nức dưới bàn chân cha
Có thể tôi tự trồng tôi như một cây dương liễu
Trên bãi dương quê nghèo
Và không mơ về những điều em không muốn
Cũng chẳng để làm gì
Biết đâu đó là cơ hội để được yên vui.

Bùi minh vũ. 1-2010

Thứ ba, 23 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

Maya Angelou và danh ngôn, Nhạc Xanh, Video, Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Lê Túy Phượng và chị Huỳnh Huệ.

Giọt Xuân Ca , Thơ, chị Hoa Trang Giọt Sương Tím.

Lý Bạch – Dữ Sử Lang Trung Khâm thính Hoàng Hạc lâu thượng xuy địch , Đường Thi, anh Nguyễn Hữu Vinh.

Mùa xuân Tây Bắc trong tôi, Văn, Nước Việt Mến Yêu, anh Trần Vân Hạc.

Bộ luật đạo đức của thổ dân da đỏ Mỹ , Trà Đàm, Văn Hóa, song ngữ, chị Hoàng Khánh Hòa.

Thiền của Joshu , Thiền, Trà Đàm, Văn Hóa, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Văn hóa sáng tạo, Trà Đàm, Kỹ năng lãnh đạo, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Thứ hai, 22 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

Nguyễn Thanh Tùng: Cậu bé mù trở thành đại sứ âm nhạc, Nhạc Xanh, Video, Chứng Nhân, Văn Hóa, anh Trần Đình Hoành.

Phát triển ở Singapore, Nghiên Cứu Xã Hội, anh Trần Đình Hoành.

Tây Nguyên: Tết yên vui ấm lòng người nghèo, Thông Tin, chị Hoàng Thiên Nga.

Một số sinh hoạt liên hệ đến người Việt vùng vịnh San Francisco , Thông Tin, anh Trần Đình Hoành.

Giao thừa , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Thực hiện giấc mơ, Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Thị Thu Hiền.

Lời của Giọt Sương, Thơ, chị Hoa Trang Giọt Sương Tím.

Xuân ngẫu hứng đi tìm, Thơ, anh Phạm Lưu Đạt.

Một đêm trừ tịch , Văn, chị Vivian Hoàng Nhất Phương.

Giải Nobel văn chương cho Việt Nam, tại sao chưa? , Văn Hóa, Trà Đàm, anh Inrasara.

Trong giấc mộng , Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Giải Nobel văn chương cho Việt Nam, tại sao chưa?

    (Bài viết được trích trong tập tiểu luận – phê bình: Thơ như là tiến trình)

    INRASARA

1. Không chỉ Việt Nam, văn học Đông Nam Á đang ở vị trí rất khiêm tốn so với văn học nhiều nước trên thế giới. Hai thập niên đầy sôi động, chỉ tính Giải Nobel văn chương thôi, trong lúc các nền văn học [lâu nay bị cho là] ngoại vi the peripheral literature khắp nơi đang nỗ lực giành và giành được bao thành tích chói lọi. Từ châu Phi, châu Mĩ La tinh cho đến châu Á. Hay sát cạnh ta: Nhật Bản, với những tên tuổi Yasunary Kawabata, Kenzaburo Oe, Haruki Murakami. Như thể một cách thế giải trung tâm ngoạn mục, thì Đông Nam Á cứ đứng nhìn, như là kẻ ngoài cuộc.
Huy chương giải Nobel văn học
Hãy bỏ qua bề tối hay vết xước của nó, nhìn lướt Giải Nobel văn chương, tác phẩm của các nhà đoạt giải sáng giá, dù khó phân biệt rạch ròi, luôn hội được một/ một vài hoặc tất cả yếu tố. Đó là:

Nhà văn nêu lên được tinh thần cốt tủy của con người thời đại họ sống: Albert Camus. E. Hemingway, S. Beckett,… Họ bắt trúng mạch, tìm lối viết thích hợp, đẩy vấn đề đến cùng và mở rộng nó tối đa. Hoặc họ tiếp nhận, triển khai tư tưởng mới, độc đáo tác động nhiều chiều đến tinh thần con người. Tư tưởng đó được thể hiện qua nhiều thể loại và bằng nhiều cách thức khác nhau. Hoạt động chữ nghĩa của J-P. Sartre là rất điển hình. Hay như những A. Solzhenitsyn, O. Pamuk,… nói lên vấn đề lớn của dân tộc, đất nước mình, rộng ra – thời đại mình, không kiêng nể hay hãi sợ. Họ chấp nhận trả giá. Hoặc khám phá lối thể hiện mới ảnh hưởng đến lối viết của người cùng thời hay thế hệ sau: W. Faulkner, G. Márquez,…

Đó là chưa kể các nhà văn không đoạt giải nhưng tác phẩm có tác động lớn đến văn học và tư tưởng thời đại: Leon Tolstoy, James Joyce, R.M. Rilke, F. Kafka, Marcel Proust, T.E. Eliot, Erza Pound, Vladimir Nabokov, Jorge Luis Borges, W.H. Auden, S. Rushdie…
Ở Việt Nam, có nhà văn nào làm được như thế?

2. Chuyện xửa xưa, văn học Đông Nam Á ngàn năm sống đời hạng hai và phái sinh hẩm hiu. Văn chương nôm na bản ngữ dù đồng hành với văn chương bác học được viết bằng ngôn ngữ “quý tộc”: Pali, Sanskrit hay Hán, nhưng luôn chịu phận lép và bị chính người bản địa xem thường. Mặc dù vài dân tộc có chữ viết khá sớm (như Champa chẳng hạn, bia Đông Yên Châu xuất hiện từ cuối thế kỉ thứ tư) nhưng mãi đến cuối thế kỉ thứ mười, người viết Đông Nam Á mới sử dụng nó vào sáng tác văn chương. Để chỉ từ thế kỉ mười bảy trở đi, nền văn học khu vực này mới cho ra đời các tác phẩm xuất sắc viết bằng chữ bản địa.

Nhưng định mệnh vẫn chưa thôi chơi khăm chúng ta. Vừa thoát khỏi nền văn học song ngữ đầy mặc cảm được vài trăm năm, văn học còn non trẻ này bị đánh tiếp đòn phủ đầu, khi văn học châu Âu sau đó là Mĩ, Nga tràn vào Đông Nam Á. Những cái bóng khổng lồ của bao nhiêu tên tuổi thi bá, văn hào, triết gia ngoại hạng làm ta choáng ngợp. Ta say sưa lao vào nghiên cứu, dịch thuật, học tập, bắt chước nhưng cạnh đó, bởi lòng tự tôn và tự ái dân tộc, không ít bộ phận sợ hãi, xa lánh và chống báng trước sức ảnh hưởng lấn áp của nền văn học và triết học xa lạ kia. Vọng ngoại và bài ngoại cứ là tồn tại song trùng trong tâm thức dân tộc Đông Nam Á.

Thế nào đi nữa, ta cũng đã có vài thành tựu. Thành tựu đến đâu đi nữa, ta vẫn cứ bị coi là ngoại vi. Người ngoài coi ta ngoại vi, đã đành. Chính ta tự coi mình và coi nhau như thế! Mặc cảm hậu thuộc địa còn trì nặng nơi tâm thức sáng tạo của mỗi người viết Đông Nam Á. Viết trong niềm mặc cảm hậu thuộc địa, thì nhà văn có thể đẻ ra tác phẩm lớn không?

3. Để vươn đến “tầm Nobel”, Việt Nam đã và đang chuẩn bị gì? – Rất ít, nếu không nói là chưa gì cả! Thử nhìn quanh xã hội nơi ta sống…

Mở mắt chào đời, ta thấy cha mẹ, anh chị, thấy cô bác, anh họ chị họ, ông bà họ nội ngoại, dì dượng gần xa, vô thiên lủng… Được thôi, nhưng dường tất cả sẵn sàng chỉ tay khuơ khoắng cháu nên thế này với mầy không được thế nọ đầy quyền uy, đe nạt. Từ bé thơ, tôi phải cắn răng chịu nhận bao nhiêu cái đét đít từ bàn tay một ông cậu bá vơ nào đó, không thể cãi. Ngó quanh, không một ai tỏ vẻ bênh vực tôi cả. Người lớn bảo thì phải nghe – vừa tập tò nhận thức, tôi luôn phải nghe câu đó. Lắng nghe và làm theo. Truyền thống gia đình Việt Nam trọng tình khinh lí đè nặng tâm hồn cá thể từ bao đời chưa có dấu hiệu chấm dứt. Có cha mẹ nào răn dạy con cắt đứt với mấy dây nhợ chừng chịt đó không? Có tấm gương chú bác nào soi sáng con cháu dấn bước trên con đường chinh phục đỉnh cao? Gia đình nào của Việt Nam tạo môi trường hay chuẩn bị đầy đủ điều kiện thiết yếu cho thiên tài tương lai ở khởi đầu cuộc viết? Từ “tứ đức tam tòng” hay “quân sư phụ” xa xưa cho đến nỗi “hi sinh đời bố củng cố đời con” của thời hiện đại, nó cứ thế. Nề nếp gia phong luôn được đặt lên hàng đầu, trói buộc tiềm năng sáng tạo của cá nhân. Nếu có gì thêm, thì chỉ như một tiếp nối nếp nhà, chứ không đi ngược lại hay phá hủy nó để làm ra cái mới lạ. Truyền thống gia đình dạy con cháu yêu quý nâng niu sự ổn định hơn là đam mê tinh thần mạo hiểm khai phá. Từ đó, cá nhân sớm hài lòng với thành quả nhỏ bé đạt được hơn là theo đuổi mục đích to lớn tối hậu. Tôi đã dở khóc dở cười khi cô bạn thơ tâm sự vừa viết thư cho cha “con đã trả xong nợ cho gia đình”, khi cầm trên tay tấm thẻ Hội viện Hội Nhà văn Việt Nam! Sẽ không bao giờ có sự phá cách, nói chi đến một phiêu lưu [tư tưởng] mang tính đột phá táo bạo nào sẽ xảy ra, ở đó.

Gia đình đã vậy, nhà trường cũng chẳng hơn. Chưa vội đề cập đến việc trang bị cơ sở vật chất tiên tiến nhất sẵn sàng cho phát kiến khoa học, ngay nhà văn chỉ cần một cây viết, một tập giấy trắng và… một đầu óc tư duy độc lập thôi, ta vẫn chưa. Thực tế, môn triết học – được cho là môn học nền tảng của mọi nền tảng giúp con người suy nghiệm cuộc sống chiều sâu – đến hôm nay vẫn chưa có mặt nghiêm túc trong các Đại học Việt Nam. Không có truyền thống triết học, ta cũng chưa sẵn sàng cho truyền thống đó.

Mục đích của nhà trường là đào tạo con người tiêu chuẩn, đâu cũng thế. Riêng Việt Nam, ta còn đẩy món tiêu chuẩn kia đi đến đầu mút của con người đóng hộp, bằng hệ thống và chính sách giáo dục theo-ism. Theo-ism từ “thuật nhi bất tác”, “Tử viết” suốt ngàn năm, theo-ism bám ta đến tận hôm nay. Cơ chế đó, sinh viên có làm ngược, làm khác ý thầy, tư duy khác chương trình sách giáo khoa dạy mới là chuyện lạ.

Ngồi giảng đường, giảng viên không khuyến khích sinh viên suy tư độc lập, thì làm gì hi vọng sau đó họ phát kiến í tưởng mới lạ, liều lĩnh khai phá lối viết mới mẻ, dám thể hiện mình (không phải thể hiện cái tôi chủ quan èo uột hay lớn lối như đã) mà không ngại thất bại? Khía cạnh này, hãy nghĩ đến A. Breton hay Alain Robbe-Grillet. Đây là rào cản vững chãi và ngoan cố nhất chúng ta tự dựng lên ngay trong nhà mình.

Câu chuyện. Thuở sinh viên năm nhất khoa Anh Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, giờ ngữ pháp tập đặt câu “Bởi vì… cho nên…”. Thay vì xử sự cho qua chuyện như mọi người, rằng “Bởi vì sáng nay trời mưa cho nên em đi học trễ”, tôi phức tạp hóa vấn đề bằng câu: “Bởi vì đất nước ta vừa trải qua chiến tranh cho nên chúng ta còn hạn chế về tự do”. Cô giảng viên bảo “em sai rồi”, tôi mới đứng dậy phân trần “thưa cô, em đúng mà”. Thế là anh lớp trưởng ngồi bàn bên quơ cây thước gỗ to cồ thọc mạnh vào mạn sườn tôi: – Sai là sai quan điểm, ngốc à.

Giáo sư dạy tôi nghĩ theo lối nghĩ của sách giáo khoa, đã đành; bằng hữu thay vì hỗ trợ và kích thích tôi tìm tòi sáng tạo thì lại đóng vai kẻ canh chừng không cho tôi bước chệch khỏi quỹ đạo giáo dục cho phép, nên – tôi cứ thế cúi đầu răm rắp làm theo thầy, theo sách. Tất cả tình nguyện trở thành tín đồ thuần thành của thứ chủ nghĩa theo-ism, rập khuôn có sẵn. Nơm nớp sợ khác người, sợ bị hiểu lầm hay sợ không ai hiểu mình, cuối cùng – sợ thất bại, cho dẫu tạm thời. Với một theo-ist được gò như thế, chuyện phá rào là bất khả.

Còn xã hội ngoài kia? Chưa nói đến cộng đồng làng xã với văn hóa làng xã luôn dị ứng với cái mới, cái khác mình, sẵn sàng tư thế miệt thị, áp chế tư tưởng vượt qua tầm hiểu của mình; ngay một tổ chức xã hội đầy quyền năng chuyên môn như Hội Nhà văn Việt Nam, cũng chưa có cái nhìn thoáng mở, chưa thực sự dũng cảm ủng hộ cái trái ngược. Phần thưởng dành cho sự độc đáo, sáng tạo càng hiếm hơn nữa. Giải thưởng thơ phần đông ưu ái các loại Thơ Mới biến thể của thứ mĩ học ở thời xa lắc, cho lí luận phê bình là những Tản mạn… hay Tạp cảm… đủ loại. Nếu có lỡ phá cách, ta luôn dỏng tai nghe ngóng tiếng nói từ báo chí, đủ loại báo chí phổ thông. Ngoảnh lại sự cố lùm xùm xung quanh Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam dành cho Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, mà hỡi ơi cho văn hóa làng xã ấy. Hành trạng công nhận trao giải – tố cáo chụp mũ – phủi tay chối bỏ lá phiếu của chính mình nơi vài thành viên Ban chấp hành – nói lên tất cả nỗi sợ hãi của tầng lớp được xem là ưu tú nhất của xã hội này. Thì làm gì mong mỏi từ giữa lòng xã hội ấy nảy ra cá nhân xuất chúng!

Cá thể nào có thể vượt được cơ chế đóng [hay he hé mở] từ gia đình, nhà trường đến xã hội kia? Đây đó, đã có không ít nhà văn ý hướng đạp đổ bức tường, đã có không ít nhà thơ quyết từ chối giấy phép xuất bản, cương quyết in photocopy tác phẩm để thể hiện tự do tư tưởng, tự do sáng tác của mình, và họ chấp nhận trả giá. Công cuộc không đáng này đã làm tiêu hao bao tinh lực của tuổi trẻ, thời gian qua. Vượt qua chúng là khó, nhưng không phải bất khả. Còn nhận ra và phá bỏ rào cản vô hình dựng ngay trong tâm thức ta, thì ngàn lần khó hơn. Đó là lề thói tư duy nhỏ lẻ, não trạng ăn theo, núp bóng phát sinh và được nuôi dưỡng từ nền “văn chương cỏ gianh” trong nền “văn hóa quà vặt” (từ dùng của Vương Trí Nhàn). Chỉ khi vượt qua nó, nhà văn mới có thể nói đến sáng tạo đích thực. Khi cuộc chuyển hóa tâm thức này xảy ra, biết đâu chính mấy thứ tưởng như trở lực kia, qua hành động công phá không ngưng nghỉ, nhà văn ta hóa thân lớn dậy để làm nên tác phẩm lớn.

4. Nhưng hỏi các cá nhân nhà văn, có ai trong chúng ta đã sẵn sàng để… lớn? – Rất ít!
Thiếu triết học, ta có thể đổ lỗi cho cơ chế với ngài khách quan, nhưng – theo quan sát của tôi – nhà văn ta còn chưa nắm bắt đầy đủ thực tế cuộc sống sôi động ngoài kia, nắm bắt và suy tư đủ sâu về nó. Đây đích thị một trớ trêu. Bởi “ba cùng” từng là khẩu hiệu các quan văn cổ xúy. Hội Nhà văn Việt Nam cùng các hội đoàn địa phương bỏ tiền của tổ chức bao nhiêu là cuộc thâm nhập thực tế, nhưng ta cứ thiếu.

Bởi, khi đi vào cuộc sống địa phương, ta vẫn qua loa, hời hợt.

Mới đây thôi, 27-4-2008, “Báo cáo Lịch sử Đất Mũi và 30 năm xây dựng – phát triển Cà Mau” – một văn bản khô khan nhưng ngồn ngộn sự kiện mới lạ được trình bày bằng thái độ nhiệt tình với sự phấn chấn hiếm có của đại diện Khoa giáo Tỉnh – được non hai chục nhà văn trẻ Sài Gòn nghe một cách hờ hững. Hơn nữa, không ai ghi chép cả! Như thể báo cáo chính trị – xã hội kia chả can hệ gì đến sáng tác thơ văn tôi.

Sau đó, mùa hè 2008, đoàn nhà văn TP Hồ Chí Minh đi thực tế huyện Bảo Lâm – Lâm Đồng. Mươi nhân viên Công ty Thuỷ điện Đồng Nai 4 cùng năm anh chị em thuộc đội ca nhạc dân tộc Châu Mạ, hai già làng nữa đón đoàn, trân trọng và đậm tình. Đốt lửa, rượu cần, thịt heo rừng quay, ca hát,… Vậy mà nhà văn ta “dấn thân” chưa đầy hai tiếng đồng hồ, đã xin kiếu, lên xe máy lạnh về thị xã ngay trong đêm khuya khoắt ấy. Trong khi ở đó vẫn còn mồi (bắt chước lối nói của Bùi Chát), nhà nghỉ có sẵn, không khí văn nghệ đang kì cao điểm. Tại sao không ở lại nhạc rừng by night với anh chị em? Để vui thôi, chứ chưa nói đến chuyện ba cùng [khổ] với đồng bào.

Đi thực tế, ta rất thiếu… cô đơn. Nhà văn luôn cõng theo lỉnh kỉnh bao nhiêu là “vấn đề” từ nhà về vùng đất mới. Dự lễ hội Katê Chăm, nhà văn khoái khách sạn nhiều tiện nghi hơn trú lại nhà dân, thích làm khách sang của gia đình sang trọng hơn là lăn xả vào chốn nghèo hèn và, đáng nói hơn cả là, luôn gánh cả đống chuyện văn chương chữ nghĩa ở tận thành phố theo mình. Hiếm ai tạo được “những ngày rỗng” toàn triệt để thu vào tầm mắt đất trời Phan Rang lạ lẫm, tò mò tìm biết bí ẩn bao mảnh vụn của nền văn hóa Champa, lắng nghe câu chuyện Chăm, cảm thông những tâm hồn cô đơn và kiêu hãnh Chăm,…
Chúng ta chưa học biết cởi bỏ cô gái ở lại bên này bờ sông như chú sãi kia trong một ngụ ngôn Thiền, mà một mực vác nàng theo suốt hành trình chữ nghĩa nặng nhọc.

Thứ nữa, thâm nhập vào mọi vùng tối, khoảng trống của ngôn ngữ để khai thác tối đa tiềm năng khả thể của ngôn ngữ, nhà văn ta chưa có đủ í thức đó. Nhất là nhà thơ, kẻ được coi như nghệ sĩ của ngôn từ. Chúng ta chăm chăm vào nội dung tư tưởng xã hội, tính giáo dục của tác phẩm mà bỏ bê [hoặc rất ít chú í] khả tính nội tại của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ bình dân, ngôn ngữ sống được sản sinh từ giữa lòng đời thực.

Bắc, Trung, Nam rồi sau đó, đất nước chia hai nảy sinh bao nhiêu là khác biệt về từ vựng và cách sử dụng. Sau Bảy lăm, sự thay đổi liên tục về chính sách (chỉ tính riêng nông thôn: chia ruộng đất, ba khoán, khoán sản phẩm, khoán trắng, rồi giải thể hợp tác xã, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…) đẩy cả ngàn từ vựng nóng hôi hổi cấp tập chào đời. Năm mươi tư dân tộc trong hơn tám mươi sáu triệu dân, trong đó sáu dân tộc có chữ viết truyền thống, có dân tộc sở hữu cả nền văn hóa – văn minh lâu đời, ngôn từ phong phú bao nhiêu mà kể. Nhưng hiếm hoi lắm chúng mới hân hạnh góp mặt trong thơ đương đại. Các chữ sang trọng đầy quen thuộc đến cũ mèm vẫn cứ chễm chệ trang trọng trong sáng tác thơ ca dòng chính lưu.

Khía cạnh này, thái độ sử dụng tiếng Việt của Nguyễn Hoàng Nam, Bùi Chát rất đáng ghi nhận. Hay gần đây, Đinh Linh với thơ tiếng Việt của anh:

“Truyền thống không phải là những lề lối, cách dùng cũ nhạt, ứ đọng, mà là di sản ngôn ngữ linh động của cả một dân tộc. Ngôn ngữ chợ búa, du đãng, những bài thơ tiền vệ, chữ lóng cũng thuộc về truyền thống. Thậm chí ngôn ngữ dùng sai, bởi con nít, những kẻ nói tiếng Việt không rành, chẳng hạn Hoa Kiều, Việt Kiều hay những nhân vật tỉnh Nghệ An, cũng thuộc về truyền thống. Nhà thơ có quyền, thậm chí có trách nhiệm, đùa với truyền thống, tìm những chức năng mới cho nó. Hơn nữa, bạn còn có thể mượn truyền thống người khác để làm phong phú ngôn ngữ mình.

Sự chưa đủ này lại là một rào cản khác.

Thêm: bao nhiêu là nỗi sợ hãi vây bủa nhà văn. Dưới hay trên, ngoài và trong, xa và gần! Sợ bị soi mói, bị chụp mũ, sợ tác phẩm không được in hay bị thu hồi sau khi phát hành. Sợ cho mình, sợ cho nhau và sợ nhau, nên ta rất sợ mình không giống ai…. Ta vừa viết vừa liếc nhìn người bên cạnh, người đi trước, đàn anh chị hay bạn đồng hành cùng trang lứa. Ta sợ đi một mình. Là nỗi chưa đủ cô đơn cho sáng tạo. Cô đơn đầu tiên và cuối cùng. Sự cô đơn cần thiết để tạo nên tác phẩm chiều sâu.

Chưa đủ cô đơn trong giai đoạn đầu tư thai nghén. Nhà văn bị cuốn vào cuồng lưu hội hè đình đám, hội thảo chòm nhóm, văn chương chưa ra trường phái đã biến thành phe phái. Chưa đủ cô đơn khi đối diện với trang giấy/ màn hình trắng. Bao nhiêu bóng u ám, giọng mơ hồ lởn vởn trong ta, quanh ta, sẵn sàng đe dọa thân xác ta, uy hiếp tinh thần ta; nó lên tiếng thì thầm khuyên nhủ hay trừng mắt răn đe ta nên thế này với không nên thế nọ, khiến ta lơi tay hay bẻ cong ngòi bút lúc nào không hay. Chưa đủ cô đơn cả lúc tác phẩm đã sinh hạ. Ta lắng tai nghe ngóng dư luận về nó, rằng nó có vấn đề gì không, các nhà phê bình có để mắt đến nó và, tệ hơn cả là ta mãi tư thế đứng ra bảo vệ nó khi nó bị chê bai.

Bấy lâu, ta luôn là con người của số đông, số đông trong giới văn nghệ, số đông giữa người đọc và, số đông cả khi chỉ ngồi một mình, cô độc!.

Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, từ đó nơi thẳm sâu tâm thức nhà văn ẩn chứa tinh thần tự kiểm duyệt. Tự kiểm duyệt theo nghĩa rộng nhất của từ này. Tự kiểm duyệt và hỗ trợ nhau kiểm duyệt trước khi bị kiểm duyệt. Hậu đổi mới là thời hoàng kim của tự kiểm duyệt, Phạm Thị Hoài nói thế. Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, nhà văn không dám sống tới cùng tư tưởng chọn lựa, không dám viết tới cùng, và nhất là không dám theo đuổi đến cùng dự án lớn lao không giống ai của mình [nếu nhà văn đã nghĩ ra được và hoạch định trước đó].

Mà đã sợ hãi, thì làm gì có sáng tạo đúng nghĩa!

Rào cản cuối cùng, là nhà văn chưa đủ í thức về nghề. Đại đa số nhà văn hôm nay chưa thoát khỏi quan niệm văn chương là trò chơi. Ch. Fredriksson: “Í tưởng dường như có tính tiên quyết, xem người nghệ sĩ làm gì và làm như thế nào với tác phẩm của mình, để làm sao cho tác phẩm ấy có hiệu quả nhất khi đến với công chúng. Nhưng dường như ở Việt Nam các nghệ sĩ ít thích bàn về điều này, họ thường thích làm tác phẩm hơn là nói về các tác phẩm của mình”.

Ít bàn, ông nói – thực ra là: không bàn, không muốn bàn, không dám bàn vì, không khả năng bàn, thậm chí, dị ứng với lí luận. Đó là ông nhận định về cánh làm mĩ thuật. Bên văn chương cũng không hơn. Sáng tạo đầy mơ hồ không trên nền tảng mĩ học cụ thể nào, nhà thơ mãi chịu định mệnh một tập, một bài thơ, là thế. Không ít sáng tác có dấu ấn là sáng tác ăn may, ăn mòn vào năng khiếu “trời cho”. Trời cho tới đâu hay tới đấy, chúng ta thói quen nói như vậy. Sự thể sẽ dẫn đến đâu? – Bế tắc!

Tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn hay các Trung tâm bồi dưỡng viết văn, các trào lưu văn chương trên thế giới hãy còn khá xa lạ với sinh viên. Tri thức cơ bản nhất về các hệ thẩm mĩ văn học nghệ thuật tiên tiến không được cập nhật, thế hệ nhà văn tương lai hiện đang ngồi ghế giảng đường còn không biết thiên hạ đanh đi đến những đâu nữa.

Chưa đủ í thức về nghề, nên ta chưa suy tư qui mô về nghệ thuật, suy tư có tính nền tảng và rốt ráo. Sau Bàn tròn văn chương kì thứ bảy, tôi làm cái sơ kết: BTVC được ba thành công nhỏ nhưng vỡ ra một thất bại lớn. Thành công trong tập hợp đa thành phần, đa xu hướng sáng tác, nhiều lứa tuổi khác nhau với số lượng người tham dự ngày càng tăng để thực sự cùng bàn về văn chương đương đại; đề tài hay tác giả – tác phẩm của Bàn tròn được chọn tự do, vô phân biệt; thành viên thảo luận tự do trong một không khí cởi mở, vô ngại. Là ba điều chưa từng xảy ra trước đó. Nhưng thất bại lớn nhất và duy nhất của Bàn tròn văn chương là chất lượng của í kiến. Cứ đặt bảy Biên bản Bàn tròn bên cạnh bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo, chúng ta dễ thấy hiện diện ở đó cả một vực thẳm.

Đó là vật chứng không thể chối cãi về tầm í thức về nghề của nhà văn hôm nay so với nhóm Sáng Tạo. Trong khi tuổi trung bình của ta gấp rưỡi thế hệ trước ở thời điểm họ thảo luận, và ta đi sau họ đến nửa thế kỉ!

Trong sáng tác nghệ thuật, đạt được sự phát triển tinh thần tuần tự nhi tiến, ngày càng sâu rộng, cao lớn như Rembrandt, Van Gogh, Beethoven hay Dostoievski là điều cực hiếm. Ở Việt Nam, một Chế Lan Viên hay Tô Thùy Yên là hiện tượng lạ. Còn thì, phong độ khá phập phù. Không phải nhà sáng tạo vĩ đại đã không rơi vào bế tắc, nhưng khác biệt lớn giữa bế tắc thật và giả là tinh thần, thái độ, rằng nó nghiệp dư hay chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp, ta tự tin làm việc trong bất kì hoàn cảnh nào. Chuyên nghiệp, ta chấp nhận giú mình nơi bóng tối vô danh trong thời gian dài. Ta không sợ cô đơn, không sợ cô độc, cả không sợ cô lập.

4. Mặt bằng độc giả là yếu tố không thể thiếu góp phần kích thích sự phát triển văn học. Nhưng ở điểm này, Việt Nam vẫn chưa có nhiều người đọc đúng nghĩa.

Trong các chuyến đi xuyên Việt, bằng tàu lửa hay máy bay hoặc xe du lịch chất lượng cao, nếu chịu quan sát ta sẽ thấy, ngoài số người ngủ gật hay làm chuyện vặt hoặc tán gẫu, có hai bộ phận đọc khác nhau: đọc sách và đọc báo. Chú í nữa, hầu hết người cầm trong tay cuốn sách dày là khách Tây, ngược lại: dân Việt Nam!

Đi vào các khu di tích văn hóa – lịch sử cũng xảy ra tình trạng tương tự, trong khi người Việt Nam xách theo gói đồ ăn với tờ nhật báo thì dân phương Tây luôn tay giở các trang sách. Đi du lịch, họ chuẩn bị sẵn tri thức tối thiểu về nơi họ sắp đến. Không hiểu, họ hỏi; hiểu lờ mờ, họ hỏi. Họ thắc mắc về sai biệt giữa thực tế và kiến thức được viết trong cuốn cẩm nang du lịch. Tại sao bức tượng kia không còn ở đó? Tại sao sách lí giải thế này mà cô thuyết minh như thế kia? Vân vân…

Ở xã hội nông thôn Việt Nam, vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà một gia đình trung lưu, đập vào mắt khách là tủ buffet chưng diện bát đĩa và… cái tivi đời mới. Mấy năm qua, ta có thêm máy vi tính. Hiếm gia đình có được tủ sách. Có – nhưng rất ít, chỉ lèo tèo vài chục cuốn.

Trước Bảy lăm, làng Caklaing quê tôi chưa tới ngàn dân có hai gia đình sở hữu tủ sách trên ngàn cuốn. Ở làng Hữu Đức là gấp đôi. Các tạp chí như Bách khoa, Phổ thông, Văn, Tư tưởng, Đại học,… được bày biện trang trọng là chuyện nhỏ. Tại vài hiệu sách tỉnh lẻ như thị xã Phan Rang, lứa trẻ chúng tôi dễ dàng tìm mua bộ Nho giáo, Thơ tiền chiến toàn tập, Bùi Giáng,… Hôm nay, nhân khẩu Caklaing tăng tám lần nhưng tủ sách gia đình thì hầu như tuyệt chủng! Chúng ta đọc báo, yên tâm rằng mình đã hiểu mọi chuyện. Độc giả ta hiếm cơ hội tiếp cận cái mới từ đó khó chấp nhận cái khác mình, cái xa lạ.

Độc giả phổ thông đã vậy, còn độc giả chuyên nghiệp thì thế nào? Khủng hoảng và tê liệt phê bình đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự lớn dậy của sáng tạo văn chương. Ta có đủ kiểu phê bình. Từ phê bình hũ nút đến phê bình hàng hai, từ phê bình quan phương đến phê bình du kích, phê bình bè phái hay phê bình chỉ điểm,… Riêng phê bình nhằm thúc đẩy văn học tiến tới thì rất hiếm. Một phê bình thoát khỏi hệ mĩ học cũ để mở ra hướng đi mới cho văn học.

Cứ ngoái lại xem Hoài Thanh đã ứng xử kịp thời và tài tình với phong trào Thơ Mới thế nào cũng đủ hiểu. Còn hôm nay, có nhà phê bình nào làm được thao tác đó? Không ai cả! Tháng 7-2008, trong buổi nói chuyện tại Khóa bồi dưỡng lí luận – phê bình văn học do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, tôi hỏi các học viên: Sau Hoài Thanh, có tác phẩm phê bình nào các bạn cầm lên để có thể nhận diện được một trào lưu văn học, một thời đoạn ngắn ngủn của thơ ca Việt Nam chưa? – Chưa!

Ngay í định làm một cuốn sách như thế, đến hôm nay – theo tôi biết – vẫn chưa (thực tế là có một, nhưng thất bại). Chúng ta tranh thủ viết tản văn, tạp ghi theo kiểu… tản mạn; chúng ta làm hội hè, hội thảo đủ loại; rồi thì rẽ sang làm công tác nghiên cứu, giảng dạy hoặc nhanh nhẩu nhảy vào cuộc cãi cọ nhảm nhí bằng phản ứng nhếch nhác chỉ bởi vài quy kết, xuyên tạc nhỏ nhen nào đó. Ta có đủ lí do chính đáng cho các sự vụ ấy. Trong khi tập trung vào công việc chính là phê bình thì, vẫn cứ chưa. Đành rằng, với nỗi “dồi dào” và “phong phú đa dạng” các tác giả, trào lưu, khuynh hướng văn chương xuất hiện trên đủ loại phương tiện thông tin, không nhà phê bình nào tự nhận quán xuyến tất cả. Nhưng ít ra người làm phê bình vẫn có thể chọn một/ một vài trào lưu nhất định để làm phê bình. Vậy mà mãi tận hôm nay, giới phê bình Việt Nam vẫn chưa cho ra đời tác phẩm như thế.

Dăm năm qua, tôi thử dấn vào “lập biên bản” sáng tạo của nhà văn hậu đổi mới, các tác giả viết trong cảm thức mới, sử dụng thủ pháp nghệ thuật mới. Các sáng tác của họ góp phẩn đẩy nhanh quá trình phi tâm hóa văn chương và xã hội Việt Nam. Nguyễn Hoàng Tranh, Mai Văn Phấn, Nguyễn Hoàng Nam, Đinh Linh, Phan Nhiên Hạo, Phạm Lưu Vũ, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Anh Hoài, Bùi Chát, Lý Đợi, Như Huy, Trần Nhã Thụy, Nhật Chiêu, Lê Vĩnh Tài, Vũ Thành Sơn, Đỗ Kh, Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Tôn Hiệt, Phan Bá Thọ, Đặng Thân, Lê Thị Thấm Vân, Trần Wũ Khang, Tuệ Nguyên, Khánh Phương,… Bao nhiêu là nỗ lực, bao nhiêu là hủy phá và sáng tạo đáng được ghi nhận ngay giai đoạn sung sức nhất của đời văn.

Tôi viết về họ, với hi vọng sau cao trào này, sẽ làm một tổng luận về thơ tiếng Việt hậu đổi mới. Để kết thúc một thời đoạn và mở ra một cái gì khác chưa thể biết được. Tôi không chắc mình có kham nổi công cuộc này không, nhưng thiết nghĩ, chỉ khi kịp thời ghi nhận đúng đắn nỗ lực và thành tựu khởi đầu của họ, nhà phê bình mới thật sự góp tay vãi một nắm phân đạm vào đám ruộng hợp tác xã văn chương tiếng Việt. Còn nhà văn có vươn ra cánh đồng văn chương thế giới hay không và vươn ra tới đâu, chỉ có họ trả lời được. Ở thì tương lai.

Sài Gòn, 9-2008 & 1-2010.

Thứ bảy, 20 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

All I Ask of You – Bóng Ma Trong Nhà Hát, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Tự tha thứ , Danh Ngôn, song ngữ, chị Huỳnh Huệ.

Xin em đừng để ngày mai, Thơ, anh Trần Vân Hạc.

Xuân Ca , Thơ, chị Vivian Hoàng Nhất Phương.

Văn và Hoa , Văn, Văn Hóa, anh Trần Huiền Ân.

Cuộc chiến T-Shirt, Video, Kỹ Năng Kinh Doanh, anh Trần Đình Hoành.

Tại sao đi du học?, Trà Đàm, chị Hoàng Khánh Hòa.

Ngủ ngày , Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Mở rộng tư duy, Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Văn và Hoa

Trong một buổi hội thảo về văn xuôi, nhà văn Cao Duy Thảo có phát biểu rằng văn chương không thể có phế phẩm, vì phế phẩm văn chương không thể dùng làm bất cứ thứ gì, việc gì. Một mớ gạch vỡ, ngói bể… còn đem làm nền, lót đường được. Miếng gỗ cưa hỏng, đục hỏng… còn đun bếp được. Nhả bánh “hư bột hư đường” hạ giá thành thức ăn gia súc. Văn chương mà hỏng chỉ vứt đi, vứt đi.

Vâng. Làm văn chương hỏng, bị vứt đi, thật tội nghiệp cho tác giả. Mất biết bao nhiêu tâm trí và công sức. Có thể tác giả đầy nhiệt tình nhưng thiếu khả năng, hoặc do một điều kiện khách quan tác động. Hóa ra cơ sự…

Cái đáng sợ trong văn chương đối với quần chúng là loại văn chương giả. Sự kiện éo le, hấp dẫn, từ ngữ bóng bẩy, cú pháp điêu luyện… tác giả tài tình như một phù thủy điều khiển âm binh, sai khiến những điều không thật này múa may, khoa trương làm lóa mắt người đọc và không ít người đọc bị mắc lừa, xúc động thật sự, có khi đi đến mê muội tin theo các điều giả ấy.

Ngược lại không phải không có trường hợp chính phẩm văn chương bị chê là khô khan, đơn giản, không khơi gợi được tình cảm nơi người đọc. Ở đây có thể ví như món ăn bổ mà không ngon, không khoái khẩu người thưởng thức nên không được ưa chuộng. Cũng có thể nói rằng như thế chưa phải là văn chương, bởi vì hai tiếng văn chương đã có ẩn ý là phải hay, mà đã là hay thì nội dung và hình thức song toàn.

Kinh nghiệm cuộc đời cho thấy cái gì là giả không thể tồn tại lâu dài, cũng như cái gì là thật không thể chìm khuất mãi. Một lúc nào đó, người đọc nhận ra ngay những éo le, hấp dẫn, bóng bẩy kia chỉ là lớp sơn hào nhoáng bên ngoài và người đọc hối hận: Tại sao lúc ấy ta lại tin như vậy, lại xúc động đến thế? Một khi đã “ngộ” những người đọc này càng khinh bỉ loại văn chương giả. Kẻ bi quan không còn chút niềm tin gì đối với văn chương, kẻ lạc quan gia công đi tìm điều thật.

Nói chuyện văn chương lại liên tưởng đến hoa.

Từ lâu có nhiều loại hoa giả. Lúc đầu còn thô thiển, càng ngày với kỹ thuật tinh vi nhiều loại hoa giả còn đẹp hơn hoa thật. Cùng với hoa thật, hoa giả đóng một vai trò quan trọng trong việc trang trí, khánh tiết. Có người chê hoa giả, cho là đồ giả thì không đáng quý, chẳng cần khen chê.

Cha tôi có bài thơ vịnh hoa giả:

Mượn tên đẹp đẽ cũng như ai
Cũng trúc, cũng lan, cũng thược, mai
Tết tới đua chen cùng chúng bạn
Xuân về hớn hở khắp trong ngoài
Nữ công chị hỡi trau tria với
Thưởng khách chàng ơi chớ phụ tài
Đành phận không hương nhưng có sắc
Đã từng lên án lại lên đài

Thật tình tôi không hiểu rõ ngụ ý của bài thơ là khen hay chê hoa giả, giả sử chê thì chê một cách khéo léo. Chỉ thấy rõ là khen tài người làm ra hoa, với quan niệm xưa đây là việc thủ công của nữ giới.

Nghĩ lại thì hoa giả đâu phải là hoa giả mà là sự phối hợp giữa mỹ thuật và kỹ xảo, người ta dùng một số nguyên liệu nào đó tạo ra một vật giả làm hoa, giống như hoa. Tác giả những hoa này nói thật nó là hoa giả, không đánh lừa người mua, vậy nó là “hoa giả thật”, nó không phải là hàng mị, hàng giả, hàng thứ phẩm, phế phẩm, hàng hỏng. Thích hay không thích là tùy ý từng người.

Hoa giả, nói cụ thể là hoa vải, hoa giấy, hoa ni-lông gì đó… là kết quả của sự bắt chước, mô phỏng, con người bắt chước trời đất, mô phỏng thiên nhiên mà tạo ra. Nó có cái nhược là không phải hoa thật hái từ cành cây, nó có cái ưu là là dùng được lâu, giữ cái đẹp được bền, không tàn, nên đỡ phải thay đổi, chứ theo giá cả bây giờ chưa chắc đã đỡ tốn.

Nhưng sở thích con người thường nhanh chóng thay đổi. Người sành điệu chơi hoa thật phải thay hoa luôn thì chơi hoa giả cũng phải thay luôn, nếu không sẽ bị “quê”, bị lạc hậu.

Hạng nghèo như tôi, không có tiền mua hoa thật và hoa giả, hai loại đều đắt cả. Thôi thì hái hoa dại trời cho, mọc ở bờ suối, vệ đường, sáng cắm, chiều bỏ… Cũng có màu sắc như ai và tự nghĩ rằng mình đây cũng biết yêu hoa, thưởng hoa như thiên hạ.

Trần Huiền Ân

Thứ sáu, 19 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

Amazing Grace – Ân Điển Diệu Kỳ, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Trần Đình Hoành.

Tạo dựng cuộc sống, Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Thành công của tình yêu , Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Thị Thu Hiền.

Tuyết nắng, Thiền Thi, anh Trần Đình Hoành.

Người phụ nữ phi thường , Thơ, song ngữ, chị Huỳnh Huệ và anh Lê Vĩnh Tài.

Đường hoa đẹp quá , Chuyện Phố, Trà Đàm, anh Trần Bá Thiện.

Sự nghiệp của Gisho , Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Vượt qua nỗi sợ hãi khi nói trước đám đông, Trà Đàm, Kỹ Năng Lãnh Đạo, chị Hoàng Khánh Hòa.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Thứ năm, 18 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

Try to remember – The Brothers Four, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Trần Đình Hoành.

Thích cái mình có , Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Gởi thông điệp yêu thương , Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Thị Thu Hiền.

Đường Xuân, Thơ, chị Hoàng Thiên Nga.

Xuân hứng – Võ Nguyên Hành , Đường Thi, anh Nguyễn Hữu Vinh.

Nợ nần, Văn, chị Đàm Lan.

Xao nọong ơi em đẹp như cầu vồng , Văn Hóa, Văn, anh Trần Vân Hạc.

Ấn hành kinh sách , Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Thứ tư, 17 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

Năm Dần nghe nhạc Cọp, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Trần Đình Hoành.

Vấn đề của thế giới , Danh Ngôn, song ngữ, chị Hoàng Khánh Hòa.

Chậm lại , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Quá khứ làm đau , Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Lục bát mùa xuân, Thơ, chị Vivian Hoàng Nhất Phương.

Lời xuân , Thơ, anh Trần Vân Hạc.

Có Những Diệu Kỳ Của Lòng Trắc Ẩn , Danh Ngôn, Trà Đàm, Teen Talk, Thiên Duy.

Người xưa và hoa mai , Văn Hóa, anh Trần Huiền Ân.

Phân giờ tấc ngọc , Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Có Những Diệu Kỳ Của Lòng Trắc Ẩn


.

Yêu thương và lòng trắc ẩn là những thứ thiết yếu, không phải xa hoa.
Không có yêu thương và lòng trắc ẩn, nhân loại không thể tồn tại

Love and compassion are necessities, not luxuries. Without them, humanity cannot survive.
.

Dalai Lama.
.

Tôi kể em nghe một câu chuyện mà tôi thực sự cảm thấy đau lòng!

Có hai gia đình kia đã là hàng xóm của nhau trong nhiều năm. Một bên là gia đình khá giả nhưng sống tách biệt với những người xung quanh. Bên còn lại là một gia đình “khuyết” với bà mẹ một thân một mình nuôi 3 đứa con khôn lớn, dù hoàn cảnh rất khó khăn nhưng họ vẫn được học hành chu đáo. Giữa người mẹ và người đàn ông trụ cột của gia đình kia có một sự hiềm khích về vấn đề tranh chấp đất đai cũng đã khá lâu, nhưng chưa tìm được tiếng nói chung nên không khí lúc nào cũng căng thẳng. Sẽ không có gì đáng nói nếu giữa họ, những người đã trưởng thành từ rất lâu kể cả tuổi tác lẫn vốn sống chỉ dừng lại ở sự xích mích của người lớn, không gây tổn hại đến bất cứ ai khác. Nhưng không, thật đáng buồn là một trong ba người con của người mẹ kia, vì quá bức xúc với hành vi xúc phạm của người đàn ông đối với bốn mẹ con với những lời lẽ nặng nề, đã có hành động đáp trả và không may, đã bị người đàn ông kia ném một viên gạch vào…đầu. Cô bé bị chấn thương rất nặng và phải nhập viện ngay sau đó trong tình trạng rất nguy kịch. Tôi ở cách nhà họ không xa, và khi nghe tin đã thực sự bất bình với hành vi của người đàn ông vô lương tâm đó. Mọi người đã không ngần ngại góp chút công sức và tiền bạc dù ít ỏi để giúp đỡ người mẹ kia chạy chữa cho con mình với một khoản chi phí thực sự khổng lồ so với điều kiện gia đình mình. Riêng người đã gây nên vụ việc thương tâm này, lại tỏ ra vô cùng thờ ơ và không một chút quan tâm thăm hỏi, động viên đến gia đình người hàng xóm bao năm của mình. Cho đến giờ, tôi chỉ được biết là cô bé đã vượt qua được “lưỡi dao của tử thần”, nhưng lại mang trên mình một di chứng nặng nề – bị mất hoàn toàn trí nhớ! Người con, người em giờ không biết mẹ mình, chị mình là ai, quả thực khiến ai chứng kiến cũng không thể kìm được nước mắt…

Lắng nghe những lời tôi kể, nước mắt em cũng đã không ngừng tuôn rơi. Em đã oà khóc và ôm chồm lấy tôi như một điểm tựa cho sự mềm yếu rất đỗi của một cô gái. Tôi thấu hiểu tâm trạng của em, người dù không được chứng kiến sự việc kia nhưng lại có một trái tim thật sự nhạy cảm và luôn nhói đau trước nỗi đau của người khác. Em và tôi đều đau lòng, nhưng em khóc, còn tôi thì không! Tại sao em nhỉ?

Em bảo rằng em quá yếu đuối, đến mức em muốn đôi mắt mình hết nước mắt đi, để em không bao giờ có thể khóc được nữa. Nước mắt rơi không chỉ làm nhoà đôi mắt em, mà còn làm lu mờ khối óc em, khiến em không thể quyết định bất cứ điều gì một cách sáng suốt. Em đã nói với tôi như vậy. Và tôi đã ngăn lời em lại, ngăn cả những giọt sương lấp lánh thôi rơi trên cửa sổ tâm hồn em. Tôi muốn em biết rằng, với tôi, em không hề yếu đuối, mà em là một con người có trái tim thật nhạy cảm và giàu lòng nhân ái. Không phải ai cũng có được thứ quý giá mà em đang sở hữu đâu…

Như tôi chẳng hạn!

Dù vốn sống chưa nhiều nhưng tôi cũng đã chứng kiến không ít bao đau thương bất hạnh của con người, của cuộc đời. Nhưng chưa bao giờ tôi có đủ nước mắt, và đủ can đảm để cho chúng rơi trước mặt người khác như em. Tôi…thèm được như em lắm, bởi khi người ta giải toả nỗi buồn bằng nước mắt, thì vết thương trong tim sẽ bớt đau đi rất nhiều, em ạ! Tôi quá “mạnh mẽ” đến mức bị người ta chê trách là vô cảm, nhưng trong thâm tâm tôi biết, cả tôi và em, không ai là người vô cảm…

Quá thân thiết đến mức hiểu hết con người em, dường như tôi nhìn xuyên thấu được tâm hồn em, một tâm hồn đẹp nhưng dễ xúc động, dễ bị tổn thương. Em luôn lo lắng cho người khác nhiều hơn cả chính bản thân mình. Em luôn thấy đau vì nỗi đau của người khác hơn cả những nỗi đau mà em phải trải qua. Cuộc sống của em không phải luôn đủ đầy, cũng không phải lúc nào cũng tràn ngập niềm vui, nhưng đôi mắt em vẫn luôn vương vấn nỗi buồn khi nhìn thấy một cụ già bơ vơ không nơi nương tựa, một gia đình thiếu cả miếng ăn manh áo dù tết đã đến rất gần, những em bé với khuôn mặt thiên thần hàng ngày phải lần mò theo từng bãi bồi ven sông kiếm sống…hay khi đọc một bài báo, xem một mẩu phim về chuyện thực của những số phận bất hạnh trên khắp mọi miền đất nước. Bản thân em luôn băn khoăn day dứt vì mình chưa đóng góp được một điều gì đó lớn lao cho tất cả họ, trong khi chính em đôi lúc cũng không có đủ quần áo ấm để mặc trong những ngày đông lạnh giá. Em ơi, chỉ cần em có tấm lòng, thì dù hành động nhỏ bé hay lớn lao cũng đều có ý nghĩa cả. Em đã từng quyên góp sách vở, quần áo, mua tăm tre, ủng hộ những số tiền nho nhỏ mình dành dụm được cho trẻ em nghèo, cho đồng bào gặp khó khăn trong những đợt bão lũ… rồi còn gì. Những việc làm đó, sao em không tính đến? Chúng nhỏ bé đến mức em không muốn nhận hay sao? Còn với tôi, chúng thật đơn giản mà đầy nhân văn, và giá như mỗi người trong tất cả chúng ta đều làm như em, thì cuộc sống của mỗi con người Việt chắc hẳn sẽ ấm no và hạnh phúc hơn nhiều đấy em à!

Tạo hoá ban cho con người món quà thật đặc biệt là nước mắt, và trong mỗi chúng ta đều tồn tại chúng. Có ai đó xem chúng như một phương tiện, có thể trước tiên là để…bảo vệ mắt, để thể hiện bản thân và thậm chí cả để kiếm sống, nhưng có lẽ không gì ý nghĩa hơn, là để biểu lộ tình cảm, thứ mà cũng chỉ con người là được tạo hoá ban tặng như một ân huệ lớn lao mà không có bất cứ thực thể nào khác có thể sánh được. Những giọt nước mắt, ở một góc độ nào đó, đều có giá riêng của nó, miễn là ta không dùng “những giọt nước mắt cá sấu” để đáp lại những tình cảm thật lòng, em nhỉ!

Tôi nhớ có lần cùng em xem một bộ phim tình cảm lãng mạn, em cũng đã chạnh lòng khi nhìn thấy cảnh chia li của đôi trai gái, và cả cảnh người mẹ khóc vì đứa con mình ra đi mãi mãi. Có cảm giác như em cũng có chút yếu đuối thật, và điều đó khiến tôi trở nên mạnh mẽ hơn để làm một bờ vai vững chắc cho em mỗi khi em buồn.. Tôi và em là hai người bạn thân thiết, và tôi thấy vui vì hạnh phúc của em, buồn trước nỗi đau của em. Lúc vui, nụ cười của em cũng lấp lánh những giọt sương của niềm hạnh phúc trên mí mắt. Em trong mắt tôi là một thiếu nữ thật đặc biệt, cả về vẻ bề ngoài giản dị đến một nội tâm sâu sắc đến mức có lúc tưởng như tôi bị ngạt thở trong những dòng suy nghĩ quá chín chắn mà em bủa vây lấy trí óc tôi, phản biện lại những cái nhìn có phần tiêu cực của tôi. Em luôn lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống, và tràn đầy hi vọng về một ngày mai tốt đẹp hơn cho tất cả. Đôi lúc tôi thấy em tự dày xéo mình trong những nỗi uất ức mà không chịu chia sẻ cùng ai, kể cả với tôi, người em quý mến và tin tưởng nhiều nhất, nhưng tôi vẫn để cho em sống như cách em muốn. Bởi sâu tận đáy lòng, tôi hiểu em luôn chọn cách tốt nhất để không khiến nỗi đau của mình trở thành sự trăn trở, lo lắng cho người khác. Em đã sống với phương châm “Sharing is Caring”, và em mỉm cười nói với tôi rằng, những thứ em được nhận lại còn tuyệt vời hơn những thứ em đã cho đi gấp ngàn lần. Và tôi luôn cảm phục con người mà em luôn cho là không hoàn hảo của mình.

Trong sinh nhật gần đây nhất của tôi, em đã tặng tôi một món quà mà có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ có thể quên được với lời nhắn: “Em chỉ ‘giàu’ đủ để tặng người em yêu quý nhất thứ này thôi!”. Và tôi sung sướng khi được trao tay một cuốn sách với tựa đề “Sự mầu nhiệm của lòng quan tâm” của Steve Goodier cùng dòng chữ tuy không đẹp nhưng được viết nắn nót ở trang giấy trắng tinh đầu cuốn sách: “Có mắt nhưng không thấy vẻ đẹp, có tai nhưng không nghe được âm nhạc, có óc nhưng không nhận ra chân lý, có trái tim nhưng không bao giờ rung động và do đó không bao giờ rực cháy, đó quả là điều đáng sợ”…Món quà vô giá ấy đã khiến trái tim tôi nhảy nhót tưng bừng suốt cả tháng vì niềm hạnh phúc giản dị đến từ tấm lòng của cô bạn thân thiết nhất! Và tôi cảm thấy tâm hồn đầy khô khan của mình như được chìm đắm trong hàng triệu triệu giọt phù sa của tình yêu thương từ những dòng nước mắt em vô tình đánh rơi trước mặt tôi, và từ trái tim đầy đa cảm của em…

Em đã từng hỏi tôi một câu và câu hỏi đó luôn in sâu trong tâm trí tôi có lẽ cho đến cuối đời: “Không biết sau này em sẽ làm được điều gì với đôi mắt lúc nào cũng đỏ hoe và sưng húp vì nước mắt nhỉ?”. Tôi biết em chỉ đùa vì trên môi em cũng không hiếm nụ cười, nhưng ẩn trong đó là một nỗi suy tư về sự “yếu đuối” em tự tạo thành một vỏ bọc cho mình. Tôi mỉm cười, không nói với em điều gì mà chỉ tự nhủ thầm: “Em yêu quý ơi, chính những giọt nước mắt của lòng trắc ẩn em sở hữu hôm nay, biết đâu sẽ là động lực lớn lao cho em nỗ lực cố gắng, để mai sau những ước mơ em ấp ủ cho mình và những mong muốn cống hiến cho con người, cho cuộc đời trở thành hiện thực thì sao?”…
.

Thiên Duy