Nguyễn Khôi bình “Lời Thề Lá Sen” của Nguyễn Đăng Luận
Tháng 7, Thi nhân về quê, tới Ao Sen đầu làng…vừa mùa Sen nở lục biếc chen hồng, lòng bật lên một “Ý Xưa” (cổ ý) :
-
Sen lá như dù biếc
Sen hoa tựa má đào
Nhớ ai chưa gặp mặt
Thơ thẩn mãi bên ao
(Phù Thúc Hoành)
“Ý Xưa” là lối thơ tả tình theo tứ thơ cổ, nên thường gọi “cổ ý”. Gặp cảnh sinh tình nảy ra ý thơ…với cái thói đa tình của Thi nhân xưa nay đều thế. Ở Phù Thúc Hoành (Đại Việt-đời Lê) thấy Sen trên ao mà người thì chưa thấy vẫn đẻ ra một tứ thơ lạ “nhớ ai chưa gặp mặt” rất phi lý nhưng lại thật là thơ để Thi sĩ có cái cớ “thơ thẩn mãi bên ao”…


Trong một ngày giao mùa từ xuân sang hè, cố nhà văn Băng Sơn- người chuyên viết về Hà Nội đã có những dòng nói hộ tâm tư nhiều người như sau: ” Ta cảm nhận được thiên nhiên cũng như thời gian đang chầm chậm lướt qua bên ta như cánh buồm bình thản dong về chân trời, mang theo bí mật mà suốt đời ta tìm hiểu cũng không thể nào thấu được…Hà nội mến yêu ơi, đất nước kỳ vĩ ơi, ta muốn chắp tay cảm tạ, bởi lòng ta cũng đang dào dạt sang mùa…”
Đối với rất nhiều người Việt Nam ở khắp đất nước và ở khắp các phương trời xa xôi, Hà Nội là nỗi niềm đau đáu nhớ thương…Và Hà Nội cũng đã trở nên gần gũi thân quen một cách lạ lùng đối với nhiều thế hệ người VN cũng như đối với không ít vị khách nước ngoài… Điều đó có thể lý giải bằng nhiều nguyên cớ- mà nguyên cớ trực tiếp nhất, và cũng sâu xa nhất, chính là bởi Hà Nội có bốn mùa thật rõ rệt và đặc sắc, mà người ta có thể cảm nhận được qua da thịt từng sự thay đổi nhỏ bé của hoa lá, mặt sông gương hồ, con đường lối ngõ, những gương mặt người…Và chúng góp phần tạo nên cái được gọi là Hồn sâu thẳm của Hà Nội.
Trong những ngày bão lũ miền trung vừa qua, cứ đêm đêm, tôi ngồi trên mạng để tìm tim tức-hình ảnh về thảm cảnh của lũ cùng tấm lòng của cả nước hướng về miền trung…Đêm càng sâu, vài vùng quê Hà Tĩnh mà tôi từng được biết và thậm chí biết rõ vì nhiệm vụ công tác, lại càng hiển hiện mồn một trong tâm tưởng, giờ lại như thêm xoáy sâu bởi dòng lũ cuốn, bởi mặt nước đục ngầu mênh mông mấp mé nóc bao ngôi nhà ọp ẹp- trên đó là những thân hình co ro bám víu chờ cứu trợ, những ánh mắt người già tuyệt vọng, những bàn tay con trẻ hoảng loạn giơ ra từ các viên ngói dỡ… Giữa lúc miên man và nhức nhối với bao hình ảnh, ấn tượng, nghĩ ngợi, cảm xúc hỗn độn khó tả, đột nhiên, tôi dường như được nghe thấy một tiếng nói thâm trầm âm u từ một chốn nào xa xôi lắm… Những lời thốt ra từ gan ruột của một người đàn ông đứng tuổi, giọng vùng Nghi Xuân thuộc phủ Đức Quang, trấn Nghệ An xưa- lúc mơ hồ tựa sương khói giữa không trung, lúc như dao sắt nung đỏ đặt trong hồn… Tôi thảng thốt, không hiểu mình mơ hay tỉnh…
Bộ phim “Bi, đừng sợ” đã làm dấy lên những luồng dư luận cực kỳ đa dạng và trái chiều đến đối cực mà chưa từng thấy ở bất kỳ bộ phim Việt nào trước đó.
Là một người thơ yêu thiên nhiên, yêu hoa cỏ đến độ ” Tình có nụ cười bối rối các loài hoa”, NNB – người tự nhận là “một lãng du yêu”, trong khi nói về các loài hoa như trà mi, hoa sữa, hoa quỳnh, cả loại “hoa chân chim” – bước chân của “chim trống lặn lội đi tìm” chim cái, v.v, anh không thể không nói đến Hoa nhài. Phải chăng, “Hoa thơm ai giắt mái đầu/Mây kia bất tử một mầu nhớ thương” mà NNB ngẩn ngơ, trước hết chính là hoa nhài? Ta có thể hình dung, trong một đêm nọ, “Sân trăng tình lại ngồi kề bên nhau/ Mái đầu lại chụm mái đầu “, người thơ đã kể về một loài hoa thực đáng yêu song từng bị chịu đựng nhiều bất công hơn cả – đó là hoa nhài:
Tôi sẽ không gọi Lý Phương Liên là nhà thơ – mặc dù chị xứng đáng và cần được gọi như vậy, nhất là khi danh xưng “nhà thơ” đang bị lạm dụng. Tôi cũng sẽ không dám nói nhiều tới nội dung – nghệ thuật những sáng tác thơ ca của chị, vì “Sau biết bao chìm nổi, nương dìu nhau mà sống, 40 năm sau, tập thơ “Ca bình minh” của Lý Phương Liên và tập “Thơ Nguyễn Nguyên Bảy” ra mắt bạn đọc” (Thanh niên Oline), đã có nhiều người viết làm công việc đó một cách công tâm, sòng phẳng. Với tư cách là một người yêu thơ, và là một người bạn vong niên rất lâu của chị, nhân Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII đang diễn ra, tôi chỉ muốn nhìn lại đôi chút về “Hiện tượng Lý Phương Liên” sau một quãng thời gian đủ hình thành dăm bảy thế hệ người viết…

Thị trấn Xuân Hòa – Vĩnh Phúc hai mươi năm trước…
Một trại giam ở Bắc Giang. Người đại úy quản giáo dẫn một tù nhân đàn ông còn trẻ đi từ phòng giam tử tù về phía cổng trại. Khi đi qua một khu phòng giam nữ, kẻ đang đi tới những khảnh khắc cuối cuộc đời chợt dừng lại, hất mặt về phía có một người đàn bà tì mặt qua chấn song đang gào khóc nức nở, và anh ta hét lên như cố biểu lộ vẻ yêng hùng: “Im ngay! Đừng có khóc! Vớ vẩn!”