Trở về với đạo đức truyền thống văn hóa

Vĩnh An

Đạo nào cũng tốt”, câu nói này thường làm tôi băn khoăn suy nghĩ . Cụ thể là tôi sống trong một xóm nghèo gồm nhiều nhóm tôn giáo khác nhau Phật, Khổng, Thiên Chúa và cả Hồi giáo In-đô. Tôi xin phép và xin lỗi tóm lại thành hai thành phần “cốt cán” là người theo đạo Chúa và người lương. Thật ra cách gọi này đã có trong các thế kỷ đầu, tín đồ đạo Chúa gọi mình là Ki-tô hữu, gọi người ngoại giáo là lương dân (pagan). Dĩ nhiên cách gọi này lúc đầu rất vô tư . Nó bị định hướng theo nghĩa xấu là tà giáo bắt đầu từ khi Ki-tô giáo trở thành quốc giáo trong đế quốc La-mã. Lúc đó việc truy quét và tiêu diệt các bè rối và tà giáo đã là một nhiệm vụ của chính quyền Rôma và Hàng giáo phẩm Rôma, mục đích là để gồm thu thiên hạ về một mối: một Vua trời + một vua đất còn được gọi là Thiên tử. 

Trong xóm tôi cũng thế, khi người đạo Chúa nói về mình và phe mình thì xưng nhà mình có đạo, thâm chí đạo gốc, còn nhà kia không có đạo, nhà nọ, đạo bụt v.v… Khi có chuyện bất bình với họ thì nói mỉa mai, gọn lỏn họ là những quân “vô đạo”. Xem ra chỉ có đạo Chúa mới là đạo thật như trong kinh bổn đã dạy, còn ngoài ra là đạo dỏm, tà đạo. Thế nhưng vào một ngày trời đẹp, tâm trạng phấn chấn, cũng người đã chửi người kia “vô đạo” lại lớn tiếng tuyên bố rất dễ thương rằng “Đạo nào cũng tốt, cũng dạy người ta đường lành phải theo v.v…” Tôi nghe mà lòng tự hỏi có thật ông tin như vậy không. Dù sao phải chăng ông luôn coi đạo mình là nhất?

Tôn giáo của mình là nhất !?        

Khi nói đạo nào cũng tốt nhưng nói đạo của mình là tốt nhất thường phải đưa ra những lý do khách quan để chứng minh như người ta thường thấy ví dụ như cơ chế vững chắc, mạnh mẽ, rồi giáo lý giáo điều, rồi thừa tác viên năng động v.v… Xin đi vào một vài điểm cụ thể. Nếu Ki-tô giáo La-mã có những nhà thờ hoành tráng, những tổ chức quy củ, những dòng tu lớn với các tu sĩ uyên bác thì ngày nay nhờ có toàn cầu hóa mà cơ ngơi và nhân sự của các đền đài thờ tự của ví dụ như Hồi giáo và Phật giáo không thua kém các nơi thờ tự của Rô-ma mà ở nhiều phương diện còn hoành tráng và đẹp hơn. Ở những nơi đó, người ta quy tụ lại để thờ phụng trong các lễ hội hoặc đạo tràng, pháp hội với cả trăm nghìn tín đồ một lúc và hàng chục diễn giả tài ba thuyết giảng. Họ có thua kém gì các linh mục dòng Tên hoặc dòng Đa Minh, Chỉ một điểm khác là bài giảng hai bên khác nhau: một bên đi từ Thiên Chúa siêu việt mà mình thừa nhận là được mạc khải cho dân Do Thái xuống các giới răn mà mình phải tuân giữ để được về trời hưởng hạnh phúc vĩnh cửu; còn một bên đi từ kinh nghiệm sống đầy đau khổ, vươn lên với cách sống đạo đức để nên một với thực tại tối hậu thanh tĩnh, hoan hỉ. Một chiều từ trời xuống người theo kiểu diễn dịch; một kiểu quy nạp từ trần gian lên trời.     

Về kinh sách, giáo lý, giáo điều, đây là vấn đề gây nhiều phiền toái cho Ki-tô giáo và cho các tôn giáo khác. Trước đây không ai nghi ngờ tính chính thức của các kinh sách, nhưng ngày nay sau khi những văn bản cổ được khai quật như ở Hamagadi, Ai Cập, người ta biết được kinh sách hiện hành là một phần nhỏ của kinh sách ban đầu, và nó được chọn làm tín biểu hay tín điều trong đạo. Với tình hình nhiều văn bản cổ xuất hiện thì liệu những kinh sách nền tảng cho tín biểu có còn đáng tin như trước nữa không. Tại sao Giáo hội lại giấu nhẹm những phát hiện văn bản khác đó. Phải chăng sau khi công bố tín biểu, chính giáo hội cũng tiếp tay tiêu hủy những văn bản không chính thức khác và bịt miệng những người không phục tùng GH. Xem ra hơi giống việc nhà Tần đốt sách chon các nho sĩ của đạo Khổng.

Về tín lý và giáo lý này, những người theo thuyết duy chính thống cho rằng chỉ có một chân lý mà GH sở hữu và chỉ có một cách biểu đạt chính thống của GH dựa trên thần học chính thức của Tô-ma Aquynô.

Dĩ nhiên các tôn giáo khác có cách hiểu chân lý tôn giáo của riêng họ với bộ quy tắc và thuật ngữ cũng như việc thực hành của riêng họ. Điều này ngay từ đầu do thiên kiến và thái độ kẻ cả, Kitô giáo cho rằng cả nội dung và cách biểu đạt của các tôn giáo khác về thực tại hoặc là mê tín hoặc là sai lầm. Sự phê bình này có trong cùng một giáo hội. Ví dụ như Tin Lành phê bình Công giáo là thờ ngẫu tượng khi trưng bày hình tượng các thánh. Thậm chí họ còn nói Giáo Hội ở Rô-ma thờ Satan.

Ở đây tôi không nói đến những điểm trái ngược nhau vốn thường gây chia rẽ và xung đột trong một bối cảnh xã hội đã có quá nhiều xung đột và bất đồng. Tôi sẽ nói về những điểm tương đồng và lấy các ý tưởng then chốt trong giáo lý Ki-tô giáo làm quy chiếu.

Nhiều đường đi nhưng đều gặp nhau    

Đó là ý nghĩa cùa câu chữ Nho: Đồng quy nhi thù đồ. Khi căn cứ vào những điểm quy chiếu theo cách trình bày của thần học Ki-tô giáo, chúng ta sẽ tìm ra dễ dàng những điểm các tôn giáo gặp nhau: Sáng thế, tội lỗi, cứu chuộc, thiên đàng và địa ngục và một số quan niệm khác…    

  1. Sáng thế

Ki-tô giáo, Do thái giáo và Hồi giáo có chung một sáng thế luận trong Kinh Thánh. Nhưng liệu đó có phải là mạc khải duy nhất cho nhân loại qua dân Do Thái với hai đơn tổ đầu tiên là Adam và Eva. Người ta có những trần thuật khác ở các khu vực khác như Ấn Độ trong đạo Hinđu với Sáng thế chủ Vishnou, như Trung quốc với truyền thuyết về ông Bàn Cổ v.v… Những trần thuật này với việc tạo dựng người nam  và người nữ buộc ta phải khẳng định thuyết đa-tổ của khoa nhân học. Thuyết đơn tổ của Do Thái khó mà được chấp nhận.

Với trần thuật về Sáng thế, truyền thống Do thái-Kitô giáo có câu chuyện vườn địa đàng (vườn Eden) để giải thích tội lỗi xuất hiện, do việc bất tuân của hai nhân vật chính ban đầu – Adam và Eva – Sau đó tội lỗi được dùng để giải thích mọi thứ đau khổ trên đời và nhất là cái chết. Trong khi truyền thống Á Đông coi đau khổ có nguyên nhân là nghiệp, karma. Theo tôi, cách nói này có cái nhìn khoan dung về con người hơn: khổ là hậu quả của hành động bạn làm. Bụng làm dạ chịu là trách nhiệm của bạn; bạn không phải trình diện trước một Quan Tòa có tóc bạc, râu dài và rất nghiêm khắc với một tâm trạng sợ hãi và luôn trách cứ bản thân, như trăm dâu đổ lên đầu tằm không chừa một khoảng hở. Lỗi tại tôi mọi đàng là thế.

Mặt khác trùng khớp với tội bất tuân của nguyên tổ có tội “ham hiểu biết” vì trái cây bà Eva hái ăn có tên là cây “biết thiện và ác”. Một người vô thần có thể mỉa mai rằng ông-vua-trời này có chính sách ngu dân. Dân càng ngu thì vua càng dễ trị. Ngoài ra còn có thêm tội mê sự dâm dục (trái táo thơm như da thịt đối phương). Phải chi Thiên Chúa có vợ như Thần Zeus có bà vợ là nữ thần Hera thì nguyên tổ đỡ bị cay cú biết bao.

Cuối cùng khi bị đuổi ra khỏi địa đàng, thì lao động khổ cực là hình phạt dành cho hai ông bà nguyên tổ. Các đảng phái lao động hoặc đảng công nhân hẳn phải khó chịu về cách hiểu lao động này. Với họ, lao động là một giá trị, không phải là hình phạt, tư duy này là của chủ nô hoặc của giới tư sản phi nhân.   

Tôi sẽ không nói đến khái niệm “dân Do Thái là dân được chọn” mà tôi coi như một truyền thuyết về nguồn gốc một dân tộc như huyền sử Lạc Long Quân và Âu Cơ của Việt Nam, như Tam Hoàng Ngũ đế của Trung Hoa. Biến cố quan trọng cho việc được chọn này là dân Do Thái vượt qua Biển Đỏ ráo chân. Ngày nay các nhà sử học và khảo cổ còn nhiều nghi ngờ về khả năng xảy ra của biến cố đó hiểu theo nghĩa đen. Phật giáo trong truyền thống Hindu, có lẽ cũng biết đến Sáng thế luận từ Trimurti của Ấn giáo nhưng điều quan trọng là phải coi tạo vật khách quan đó là mộng ảo và phải nỗ lực đạt đến thế giới như thị hay pháp giới tính của tâm giác ngộ như lời kinh Kim Cang: Nhất thiết hữu vi pháp/ Như mộng huyển bào ảnh/ Như lộ diệc như điễn/ Ưng tác như thị quán.

  • Cứu độ   

Cứu độ đặt ra vấn đề Đấng Trung gian như cầu nối giữa hai bờ: bờ mê và bờ giác ngộ. Đấng ấy không phải là Đấng Sáng Tạo nhưng có bản thể của Đấng Sáng Tạo. Đấng ấy còn được gọi là Đấng Khác (the Other) vì tuy là con người, nhưng Đấng Trung gian không giống mọi người ở điểm căn bản nhất là rất thánh thiện, không bị tội lỗi khống chế trói buộc. Nói cách khác, Đấng Trung gian phải đáp ứng hai quy chế vừa là phổ quát, vừa là cụ thể. Trong Kitô giáo, chính là Đức Giêsu-Kitô mà Phaolô muốn giới thiệu cho dân ngoại. Cái cụ thể nằm trong danh xưng Giêsu Nadaret, cái phổ quát nằm trong danh xưng Kitô, Đấng được TC xức dầu. Nhờ quy chế đó, ngài sẽ đưa mỗi người cụ thể chúng ta trở về cảnh giới phổ độ nơi an trụ của Đấng Phổ Quát. Nói cách khác sự cứu độ ấy là sự quy nguyên, hoàn nguyên: một cõi đi về. Lão giáo cũng nói về sự quy nguyên này với vận động phản phục và huyền đồng của vũ trụ.

Nho giáo truyền thống theo tôi cũng là một tôn giáo độc thần ẩn thân. Mỗi năm xuân thu nhị kỳ vua lên đàn Nam giao để tế Trời. Trong dân gian, dân chúng thờ Trời với bàn thiên trước sân nhà với hương hoa, gạo và nước lạnh. Tôi dùng chữ ẩn thân vì dựa vào câu nói của Khổng tử: Thiên hà ngôn tai, tứ thời hành yên, bá vật sinh yên. Qua câu nói này thì một Thượng Đế sáng tạo, phát ngôn không thấy rõ, nhưng việc hóa sinh và điều hành thì thấy rõ. Vậy trong Nho giáo có đấng trung gian cứu độ không? Tôi cho rằng có khi quy chiếu vào tam tài: Thiên-Nhân-Địa. Chữ nhân này giống chữ Ecce Homo trong Phúc Âm Gioan, chỉ đấng trung gian giữa Thiên và Địa, giữa cõi Trời và cõi nhân gian. So với người trong cõi thế, tài Nhân ấy gần với tài Thiên nhất nên còn được gọi là Thiên tử, được tôn xưng là Thánh thượng. Vì thế Đổng Trọng Thư đã thay tài Nhân bằng tài Vương: Thiên-Vương-Địa. Vì thế vua Nghiêu, vua Thuấn hoặc sau Nghiêu, Thuấn một Minh Quân bất kỳ chính là một đấng cứu độ (Mê-sia). Và không chỉ là cứu độ về chính trị mà là sự cứu độ toàn diện. Thờ vua với thờ Trời là một, có khi phải dùng cái chết để tỏ lòng trung thiết tưởng cũng là một sự tử đạo.

Phật giáo tuy không phải là một tôn giáo hữu thần, nhưng với Bồ tát đạo của đại thừa, ý tưởng cứu độ trở thành lý tưởng của các Bồ tát, những vị này đã tinh tấn tu hành vượt qua kiếp nghiệp, đủ để hưởng chánh quả Niết Bàn, nhưng không muốn vào Niết Bàn mà muốn trở lại trần gian hộ trì và cứu độ chúng sinh. Khi một cộng đoàn Phật tử đọc kinh Hồi hướng là lúc họ thực hành hạnh Bồ tát cho mình và cho người khác. Như vậy trong Phật giáo không chỉ có một đấng cứu độ duy nhất mà có rất nhiều: ngoài Đức Phật Thích Ca còn vô số chư Phật thị hiện để hoá độ chúng sinh (mà kinh Pháp Hoa có nói đến) và vô số Bồ tát với câu thần chú cứu chúng sanh: yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha.

Nhiều người thường nghĩ và cũng đúng rằng trong Ki-tô giáo chỉ có một đấng cứu độ duy nhất, không chỉ cho Ki-tô hữu mà cho toàn thể nhân loại: Đó là Đức Giêsu Kitô, Ngôi Hai TC. Đó là theo lý thuyết thần học, nhưng trong thực tế và theo lòng đạo bình dân, những vị khác góp phần không nhỏ vào chương trình cứu độ là Đức Trinh Nữ Maria Vô nhiễm, còn được gọi là Đấng Đồng Công Cứu chuộc[1],  các thánh bổn mạng, các thiên thần hộ thủ. Thật vậy quy chế vô nhiễm đã mặc nhiên biến Đức Maria thành thần linh, còn các thánh nhờ việc tu hành nên các ngài đã có những phép lạ không thua kém thiên thần như Thánh Martin de Pores, thánh Phanxicô Xaviêv.v… Vả lại Hồi giáo cho rằng Kitô gíáo không còn tư cách là một tôn giáo độc thần với Ba Ngôi Thiên Chúa rồi Đức Mẹ Maria và các thánh Cho nên ta có thể nói rằng Kitô giáo là một đạo cứu độ không khác một vài tôn giáo trong đó có Phật giáo với rất sự trợ duyên của nhiều thần lực. Theo tôi khác nhau, nếu có, là cứu độ Kitô giáo theo kiểu miêu-thuyết, còn Phật giáo theo kiểu viên-thuyết.

Kitô giáo tập trung vào mầu nhiệm cứu độ này trong bí tíchThánh Thể, mà theo thần học, vì tình yêu mà Chúa hiến thân minh làm thần lương nuôi sống hồn xác tín hữu (chỉ tín hữu mà thôi vì tình yêu phải có hai chiều đồng thuận[2] (?!). Thánh Thể là cao điểm tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại. Ki-tô giáo Rôma còn đưa ra thuyết chuyển đổi bản thể: bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa. Trước sự luận giải tràng giang đại hải thuyết ấy, một người bạn Phật giáo của tôi ôm đầu ngao ngán nói, “Tôi chịu thua thôi vì nhức đầu với lý luận dài dòng, phức tạp quá. Tôi chỉ cần đọc câu kinh Kim Cang là tôi ngộ ra ngay Thánh Thể là gì.” Sau đó anh bạn tôi ngân nga câu kinh ấy: “Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai.” Rồi anh nói tiếp; “Như Lai là Thánh Thể; còn bánh và rượu là tướng phi tướng.” Tôi phải mất nhiều năm để hiểu ý bạn mình.       

Còn các tôn giáo đa thần thì mỗi thần cá biệt là một cứu độ thần cho một lớp tín hữu nào đó. Điều này thấy rõ trong đạo Hin-đu. Có nhóm tín hữu thờ Shiva, có nhóm thờ thần Vishnou, hoặc thần Gainesha, thần Kali hoặc tùy duyên một thần nào đó.

  • Cảnh giới giải thoát

Cảnh giới giải thoát là đích đến của hành trình tu hành, thường gọi là thiên đàng khi tu hành đạt chính quả, đối cực của thiên đàng là địa ngục khi tu hành thất bại hoặc bị khinh thường, chế giểu hay chà đạp. 

Tôn giáo thường coi Thiên đàng là phần thưởng sau cùng dành cho những ai nỗ lực sống một đời thánh thiện, như lời khuyên bảo của Kinh Thánh, “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” Và chắc chắn, điều cao quý nhất trong thiên đàng là sự có mặt thường hằng, nhãn tiền của Thiên Chúa, Đức Mẹ Maria và các thánh. Sự có mặt này đủ làm nên hạnh phúc trường cửu của con người đạt đạo. Lúc đó những phần thưởng vật chất như các món ngon vật lạ trong thiên đàng Hồi giáo thậm chí 92 trinh nữ trong thiên đàng ấy dành cho các tín đồ Hồi giáo tử đạo đều trở thành không đáng kể. Niết Bàn hay Tịnh độ của Phật giáo cũng nhấn mạnh điều đó: ví dụ như Niết Bàn là trụ xứ của Phật Thích Ca, Tịnh độ là trụ xứ của Đức Phật Adiđà và các vị Phật Bồ tát khác. Đúng như công thức Thiền tông gói gọn: Trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật. Gặp Phật và thành Phật là kết quả tốt lành viên mãn mà hành giả phải đạt được, hoặc ngay trong đời này là hữu dư Niết Bàn, hoặc trong đời sau là vô dư Niết Bàn. Thiền tông thường nói ở đây và bây giờ (here and now) là để chúng ta đừng vọng tưởng điên đảo một thế giới đại đồng hoặc một thiên đàng mù không tưởng trong một tương lai mù mịt, phát sinh bởi lòng tham sân si của cá nhân hay tập thể, làm cho bao mảnh đời phải đau thương, tan nát.

Trước khi đi đến kết luận cho bài viết này, tôi muốn trả lời cho câu hỏi: trong cơ cấu của tôn giáo như thế, vai trò của các giáo sĩ, các chức sắc trong đạo là gì? 

Trước hết, trong Kitô giáo ta nên phân biệt hai loại tu hành: giáo sĩ triều (religieux séculier) và tu sĩ dòng (religieux régulier) đặc biệt là các đan sĩ (moines). Với hạng người đầu, họ chính là “bề tôi” trong giáo triều Rôma, làm các việc quản trị điều hành giáo xứ, giáo dân. Họ là nhân viên hành chánh của Giáo triều, thiết tưởng không nên bắt họ sống độc thân và bản thân họ phải công khai đòi hỏi đời sống hôn nhân, gia đình như quyền lợi của công dân trong nước Vatican, có chân trong Liên Hiệp Quốc.

Trong khi chính những tu sĩ dòng đặc biệt là các đan sĩ mới là những người tu hành đúng nghĩa, như những nhà sư Phật giáo, họ lìa bỏ thế gian và mọi sự thế gian để gắn bó với Chúa, như một cô dâu bỏ mọi sự nhà mình chọn nhà chồng làm sự nghiệp. Tu sĩ đan tu vào dòng như cô dâu về nhà chồng, chọn Chúa làm chồng để làm chứng, noi gương, nối tiếp và bảo vệ vĩ nghiệp cứu độ của Chúa. Vì thế giáo dân có thể không nghe theo giáo sĩ những việc trái với lương tâm như giết người Hồi giáo, hoặc như ghét bỏ con mình vì nó theo Phật giáo, nhưng nên học hỏi gương sáng của các tu sĩ và đan sĩ trong đời sống đức tin. Trong một xã hội hoạt náo và cuồng nộ như hôm nay, những dòng đan tu chiêm niệm sống đời cầu nguyện trong thinh lặng trở nên những dấu chỉ về huyền nhiệm và có sức cuốn hút đặc biệt đối với giới trẻ.

Kết luận

Những so sánh đối chiếu sơ lược trên với những điểm tương đồng quan trọng làm chúng ta phải suy nghĩ. Cấu trúc tương tự ấy theo tôi có lẽ là biểu hiện của một nguồn duy nhất. Đó là khát vọng vượt qua tương đối để gặp gỡ và hòa nhập vào tuyệt đối vĩnh cữu, vào cứu cánh mà Tịnh độ tông gọi là Thường Lạc Ngã Tịnh.

Khát vọng tuyệt đối chính là tinh thần, máu huyết của mọi tôn giáo kể cả Ki-tô giáo vì khi người ta cho mình sở hữu Thần Linh qua bí tích và nghi thức, người ta không còn khát vọng điều đã có sẵn và lấy ra lúc nào cũng được như rút tiền từ máy ATM, người ta ngày càng dễ rơi vào thái độ vô thần thực tiễn dù với danh nghĩa Kitô hữu. Phần tôi sau khi chin rục trong Ki-tô giáo hình thức công truyền đang thử đi tìm phần bí truyền hay mật truyền (apophatique) trong các tôn giáo truyền thống Á Đông.     

Khát vọng đó ngày nay đang gặp khủng hoảng giữa nền văn minh duy vật Tây phương hiện nay mà có người ví nó như đứa con ngỗ nghịch (enfant terrible) của văn minh Ki-tô giáo thời Trung cổ với duy vật thực chứng của thời kỳ Ánh sáng. Những sự tương đồng ấy chí ít có thể làm cho những ai ưu tư gìn giữ vốn văn hóa và truyền thống đạo lý của dân tộc không mất đi niềm hy vọng. Trái lại khi gạt bỏ tâm lý tự ti mặc cảm mình còn kém văn minh, còn lạc hậu v.v… chúng ta bình tâm khám phá lại những giá trị còn tiềm tàng trong văn hóa Á Đông để có đủ nghị lực vượt qua khủng hoảng lớn hiện nay. Là một học trò của giáo sư Kim Định, tác giả cuốn Triết lý cái đình, Cửa Khổng, Dịch Kinh linh thể v.v… Thầy cũng là người đề xuất triết lý an vi, đồng thời theo gương các nhà văn hóa ở Đài Loan, người viết có mấy gợi ý như sau:  

  1. Phục hưng các giá trị đạo đức của truyền thống dân tộc từ ba nguồn chính là Nho, Phật, Lão dù không cần dẫn chứng để khoe khoang tín ngưỡng hay tôn giáo của mình như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Người làm công chức phải là những công bộc của dân phải thực hành công chính, liêm minh; phải biết lễ nghĩa liêm sĩ với đồng nghiệp và nhân dân.Do xu hướng dân chủ của lịch sử nhân loại, cũng như căn cứ vào câu nói của Mạnh Tử: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, chúng ta phảiphục hồi ngũ luân để tái lập tôn ti, trật tự với một thay đổi quan trọng là tương quan quân-thần được thay bằng dân chủ như sau: Dân chủ – Phụ tử – Phu thê- Huynh đệ – Bằng hữu. Trong đó bằng hữu là mạch ngầm cho năm mối tương quan đó. Trong thực hành thì Dân chủ phải là bình đẳng pháp quyền, Phụ-tử phải nhân từ, hiếu thuận, Phu-thể phải tương kính, thủy chung, Huynh đệ và Bằng hữu phải tương thân, tương ái.    
  2. Để bảo vệ sự đoàn kết dân tộc tránh sự xung đột tôn giáo, mọi nhân đức căn bản trong các tôn giáo đều được đề cao, học hỏi, chia sẻ như nhân- nghĩa của Nho giáo, thương yêu của Kitô giáo, như từ bi, trí huệ của Phật giáo, như khiêm hạ, ẩn thân của Lão giáo v.v… Ngoài ra cũng nên gọi chung thực tại tối cao (hay tối hậu) của các tôn giáo bằng một danh hiệu chung ngoài danh hiệu riêng như Thiên Công (ông Trời) chung cho Nho giáo, Kitô giáo và Hồi giáo (bên cạnh tên riêng Allah); Nhất Như cho Phật giáo và Lão giáo.     
  3. Tổ chức các đại hội Liên tôn, xuân thu nhị kỳ, có đầy đủ chức sắc các tôn giáo. Thành lập một nghi thức và lời khấn vái chung cho quốc thái dân an, mùa màng thuận lợi; và giao cho đạo Cao Đài phần cung tiến và xướng tụng theo bản văn nghi thức. Ở mỗi tỉnh có thể có những đại hội liên tôn riêng.

Trong tình hình thế giới ngày nay như trong ngôi nhà lửa giữa cơn đại dịch khiến nhân tâm trở nên hoặc cuồng nộ hoặc vô cảm, những lời mạo muội này như những gợi ý nhỏ bé gây thức tỉnh, người viết mong rằng chúng ta phải sớm có hành động cứu vãn bởi luôn tin rằng không có sự tỉnh ngộ nào là quá muộn màng.  

VĨNH AN


[1] . Bất chấp việc Dòng Đức Mẹ Đồng Công ở Thủ Đức sau năm 2000 đã đổi tên thành Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. giáo dân vẫn không ngừng chạy đến xin ơn Đức Mẹ, mà không hề thấy sự “bất tiện” nào với Chúa.

[2] . Phải chăng vì thế mà Thánh Augustinô  nói rằng : “Để tạo dựng  ra tôi, Thiên Chúa không  cần hỏi ý tôi, nhưng để cứu tôi, Người phải hỏi ý tôi.” Sự đồng thuận tự do này có nhiều nhất trong tình yêu trai gái, và dường như có ít nhất hoặc không có trong tình mẹ thương con. Vậy tình mẫu tử có cao điểm không và lúc nào ? 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s