Kỷ niệm 70 năm ngân hàng Việt Nam (6-5-1951 – 6-5-2021) – Con đường thứ 5 (4 bài)

***

Kỷ niệm 70 năm ngân hàng Việt Nam (6-5-1951 – 6-5-2021) – Con đường thứ 5 – Bài 1: Ngân hàng không khóa

SGGP Thứ Hai, 3/5/2021 07:0

LTS: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có 5 con đường huyết mạch chi viện cho chiến trường miền Nam, đó là: Đường mòn Hồ Chí Minh, Đường ống xăng dầu Trường Sơn, Đường Hồ Chí Minh trên biển, Đường mòn Hồ Chí Minh trên không, và con đường thứ 5 không hình, không dạng với những câu chuyện gắn với “binh chủng tiền”. Kỷ niệm 70 năm Ngân hàng Việt Nam (6-5-1951 – 6-5-2021) là dịp nhắc nhớ về con đường thứ 5 này.

Đội vận chuyển tiền C100-đơn vị vận tải của đoàn 559 - Bộ Quốc phòng chuyển tiền và hàng vào Nam trên đường Trường Sơn huyền thoại. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước cung cấp

Đội vận chuyển tiền C100-đơn vị vận tải của đoàn 559 – Bộ Quốc phòng chuyển tiền và hàng vào Nam trên đường Trường Sơn huyền thoại. Ảnh: Ngân hàng Nhà nước cung cấp

Khi có mặt ở Vụ Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Hà Nội vào một ngày tháng 4-2021, tôi đã nghĩ, những câu chuyện về “binh chủng tiền” ngày ấy cần được kể lại thật tỏ tường để thế hệ ngày nay hiểu và cảm nhận được. Nhưng, khi nghe một chuyên viên tại đây cho biết, phần lớn các nhân chứng lịch sử hồi ấy đều đã mất, các bác còn sống cũng già yếu lắm rồi, tôi thấy lòng mình đầy nuối tiếc…

1. Tôi nhận được một túi sách vở viết về lịch sử ngân hàng, trong đó có cả những CD phim tuyên truyền dịp kỷ niệm 60 năm, rồi 65 năm thành lập ngành ngân hàng. Những lời nói, đoạn phim, hay trích dẫn trong đĩa CD vẫn còn đó, nhưng phần lớn những nhân chứng lịch sử, những người làm nên “binh chủng tiền” thời kỳ đầu đã đi xa… Tôi đã đọc gần như hết những tài liệu mình có về những ngày đầu thành lập ngành ngân hàng (tháng 5-1951), với nhiệm vụ trước mắt thời điểm đó là phát hành giấy bạc Cụ Hồ và quản lý kho bạc, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với địch.

Có thể gọi đó là một sự trưởng thành của “nền kinh tế kháng chiến”. Tuy nhiên, trong tình thế lúc ấy, không thể áp dụng chủ trương “bao vây kinh tế địch”, bởi điều này đồng nghĩa với việc ta tự bao vây kinh tế mình. Sản phẩm vùng tự do sẽ bị ứ đọng, không nơi tiêu thụ, do đó không tranh thủ lấy hàng đổi hàng mà chỉ dựa vào kho dự trữ tiền Đông Dương vốn rất hạn chế để mua các nhu yếu phẩm từ vùng Pháp tạm chiếm thì khi tiền Đông Dương cạn, việc nhập hàng sẽ bế tắc, ảnh hưởng không nhỏ đến công cuộc kháng chiến.

Và những tài liệu thời kỳ này cho thấy, ta đã mở mũi tấn công địch trên mặt trận tiền tệ ngay trong vùng tạm chiếm. Đội ngũ cán bộ ngân hàng vừa mưu trí, vừa gan dạ để cùng Đảng bộ và người dân địa phương xây dựng cơ sở “mỗi nhà dân là một ngân hàng”. Để hạn chế sự ảnh hưởng của địch, trên mặt trận tiền tệ, chúng ta cũng phải cố gắng đẩy lùi sự ảnh hưởng của tiền Đông Dương và tiền liên bang. Dùng tiền Đông Dương mua sắm vũ khí, thuốc men và mang tiền Đông Dương đổi ra giấy bạc Cụ Hồ ngay cả trong vùng địch đang tạm chiếm.

Trong hàng núi thông tin về ngành ngân hàng thời điểm đó, có một thông tin đáng giá về tỉnh Hưng Yên, vốn là khu vực tiếp giáp với vùng tự do. Nơi đây, kẻ địch đánh phá không ngừng. Xã Đại Tập (huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên) lúc bấy giờ là căn cứ kháng chiến và bị địch đánh phá ác liệt, nhưng những người cộng sản – làm nhiệm vụ cán bộ ngân hàng – vẫn ở lại với dân để giữ thế trận. Trong một đoạn phim tài liệu của Ngân hàng Nhà nước, có phần trả lời của cụ Vũ Kim Ngân (nguyên cán bộ ngân hàng tại Liên khu III) như một sự gợi mở: “Muốn củng cố cơ sở thì phải ở lại với dân, dân có tin thì họ mới nuôi…, phải ở lại với dân để giữ dân, giữ đất. Bấy giờ, làng Đại Tập bị địch đánh rất ác liệt, có thể nói là nơi gian khổ nhất của tỉnh Hưng Yên… nhưng người cán bộ vẫn cứ bám trụ”.

2. Chúng tôi tìm về thôn Động Xá (thị trấn Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên), làng quê yên bình với những cánh đồng xanh mướt, dấu xưa một thời khói lửa, nay chỉ còn là di tích.Đội vận chuyển tiền C100 – đơn vị vận tải của đoàn 559 – Bộ Quốc phòng chuyển tiền và hàng vào Nam trên đường Trường Sơn huyền thoại. Ảnh do Ngân hàng Nhà nước cung cấpNgày ấy, tên tỉnh là Hưng Yên nhưng khói lửa quân thù thì… không yên. Như lời cụ Vũ Kim Ngân trong đoạn phim tư liệu: “Còn đất thì dân còn và cán bộ còn về, bởi vậy là dù địch càn và đánh phá… cũng quyết bám trụ với dân. Dân họ không cần biết tôi làm gì, chỉ biết đó là cán bộ cách mạng thì họ ra sức che chở”. Để hạn chế sự chi phối của kẻ thù, giấy bạc Cụ Hồ theo chân cán bộ ngân hàng vào cả vùng tạm chiếm và địch hậu, được nhân dân ủng hộ nhiệt tình, cuộc đấu tranh trên mặt trận tiền tệ cũng cam go không thua gì chiến trường.

Một con đường tiền tệ được mở ngay trong vùng địch chiếm đóng và vùng địch hậu, Thái Bình lúc bấy giờ bị kẻ thù chiếm gần hết. Cụ Vũ Kim Ngân mạnh dạn đề xuất Thường vụ Tỉnh ủy cho mở hai bàn đổi tiền thử ở chợ Cầu và chợ Gốc (tỉnh Thái Bình), 20 gánh tiền được nhân dân ủng hộ và không đủ tiền để đổi… Cán bộ ngân hàng buộc phải chuyển tiền từ Thanh Hóa về Thái Bình và giấy bạc Cụ Hồ được nhân dân sử dụng công khai lẫn bí mật, tiền mình càng mở rộng thì ta càng chiếm ưu thế trên mặt trận tiền tệ để đấu tranh với địch. Huyện Kim Động ngày ấy là vùng tiếp giáp giữa ta và địch, là nơi để cán bộ ngân hàng bí mật đi về, cùng các chiến sĩ vũ trang vận chuyển tiền ra vào vùng địch, một con đường tiền tệ thoắt ẩn thoắt hiện để địch không tài nào đón đầu đánh phá được.

Đón chúng tôi đầu thôn Động Xá, vẫn nguyên màu áo bộ đội, tác phong chỉnh tề của một cựu chiến binh là bác Đào Công Ký (87 tuổi, thành viên tham gia vận chuyển tiền từ Thanh Hóa về Thái Bình). Đưa chúng tôi về căn nhà giản dị nằm sâu trong thôn, bác Ký kể: “Năm đó, nhóm chúng tôi nhận nhiệm vụ, trên vai là túi đồ 15kg, bơi qua sông Đà, sông Đáy và những đồn bót của giặc. Bơi qua sông thì đỉa bám đầy người, ông nào lên trước thì đỡ người sau. Lên bờ, lấy tay vuốt từ đầu tới chân, đỉa rơi đầy dưới đất”.

“Sức bộ đội nhưng chỉ 15kg, có lẽ cũng không quá khó khăn, phải không bác?”, tôi hỏi. Bác Ký giải thích: “Thực ra, 15kg đeo trên người để bơi qua sông là vừa đủ, vì còn phải đem theo vũ khí, lỡ khi qua các đồn bót nếu không may bị phát hiện, còn sẵn sàng chiến đấu. Mà ngày đó vác túi trên vai rồi bơi qua sông, qua bót của địch cũng không ai biết mình đang mang thứ gì, chỉ biết nhận đúng nơi, giao đúng chỗ để hoàn thành nhiệm vụ, nhận túi 15kg thì giao lại đúng 15kg, còn ngày thường ở với dân, dân nuôi thì cho gì ăn nấy”.

Hơn 100 gánh tiền, chuyển từ Thanh Hóa về Thái Bình, về tới đâu, tiền được đổi với người dân thành tiền Đông Dương đến đó và địch dù phát hiện cũng không biết tiền đến từ đâu. Một con đường vận chuyển rõ ràng về mặt địa lý nhưng lại gần như vô hình để kẻ địch khó bề phát hiện và người cán bộ ngân hàng thời kỳ ấy còn tài tình khi xây dựng một kho tiền khổng lồ nhưng lại không có khóa. Giấy bạc Cụ Hồ đổi cho dân xài và thu về tiền Đông Dương, dùng tiền Đông Dương để mua vũ khí, thuốc men… cho cán bộ tại các khu căn cứ. Giấy bạc Cụ Hồ được nhân dân ủng hộ, mở rộng sử dụng cũng đồng nghĩa mặt trận tiền tệ ta chiếm ưu thế, nhưng tiền Đông Dương cũng phải thu đổi lại nhiều và được cơ sở cất giữ trong một cái kho không khóa, đó là những hầm bí mật ở nhà dân, hầm dưới các đền, chùa…

Một cuốn sổ tay, 10 bao đựng tiền, 1 khẩu súng, 2 quả lựu đạn và 1 nắp hầm bí mật là tài sản của người thủ kho ngân hàng ngày ấy. Trong suốt mấy năm địch càn qua quét lại nhưng tiền không mất một đồng, vàng không mất một ly. Trong một đoạn phim tài liệu, cụ Nguyễn Duy Ưởng (thủ kho tiền đặc biệt Ngân hàng Quốc gia Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp) có nhắc: “Lúc đó, chỉ có Trung ương và tỉnh mới biết tôi là thủ kho ngân hàng, còn huyện chỉ biết tôi làm cán bộ ngân hàng vậy thôi chứ không rõ làm gì. Chúng tôi cũng không được đi lại nhiều và bí mật cả lối ra lối vào. Tiền về thì ghi nhận đó chứ cũng không biết là bao nhiêu vì được giữ trong hòm, chỉ có thể kiểm tra số hòm chuyển về và chuyển đi chứ không được phép mở”.

Một con đường vận chuyển tiền vô hình, một cái kho tiền không khóa nhưng mảy may không mất đồng nào, bởi tinh thần phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân cao hơn cả mọi suy nghĩ cá nhân.

Đồn bót kẻ thù dày đặc, suốt 2 năm (1952-1954) vận chuyển tiền từ Thanh Hóa về Thái Bình, không ít lần các nhóm vận chuyển bị ca nô của Pháp áp sát khi qua sông, thậm chí các bác, các chú còn giáp lá cà với giặc ở các bót đồn ven sông.

Kỷ niệm 70 năm ngân hàng Việt Nam (6-5-1951 - 6-5-2021) - Con đường thứ 5 - Bài 1: Ngân hàng không khóa ảnh 2
Bác Đào Công Ký. Ảnh: QUANG PHÚC

“Một lần giáp lá cà, đội đi đầu mở đường quyết đánh trả, chấp nhận hy sinh để bảo vệ những đội đi sau, ngay cả chính ủy của đội cũng bị địch bắt sống…”, nói tới đây giọng bác Đào Công Ký chùng xuống. Bác tiếp tục: “Sau này, xong nhiệm vụ mới biết túi đó là tiền, thời đó nghèo đói, nhưng chẳng ai mảy may suy nghĩ riêng tư gì, chỉ mong hoàn thành nhiệm vụ, mong ngày yên bình không còn giặc giã. Tiền mang trên vai, mà bụng thì đói meo vẫn cứ bơi qua sông ào ào thôi, chỉ biết hoàn thành nhiệm vụ được giao”.

———————

KIM LOAN

***

Kỷ niệm 70 năm Ngân hàng Việt Nam (6-5-1951 – 6-5-2021) – Con đường thứ 5 – Bài 2: Khi bí mật được… giải mật

SGGP Thứ Ba, 4/5/2021 08:55

Từ năm 1965 đến 1975, có một con đường tiền tệ chi viện cho chiến trường miền Nam, mà quyết toán cuối cùng lên đến con số gần 700 triệu USD và tuyệt đối bí mật. 

Cán bộ tham gia vào con đường huyền thoại này hoạt động đơn tuyến và tài liệu liên quan đến con đường này mãi đến năm 2009 mới được “giải mật” vì nhiều lý do đặc biệt.Ông Lê Văn Châu (giữa) trao đổi với phóng viên Báo SGGP.  Ảnh: QUANG PHÚC

Quỹ tiền tuyệt mật

Cuộc kháng chiến dài lâu, tiền để mua sắm vũ khí, vật tư y tế và nuôi quân… là cả một câu chuyện lớn. Thời đó, hậu phương miền Bắc không ngừng chi viện sức người sức của cho chiến trường miền Nam. Ngày ngày, lớp lớp thanh niên dũng lược “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, trong khi các đoàn tàu không số ngang dọc Biển Đông cùng… một con đường vô hình mà hữu dụng – con đường tiền tệ. 

Trong những tài liệu mà ngân hàng cung cấp, tôi nhìn thấy bí số B.29 xuất hiện trong những năm tháng ác liệt nhất, khi mà kẻ thù quyết tâm đánh phá miền Bắc. Lúc đó, việc chi viện cho tiền tuyến lớn vốn đã cách trở nay càng khó khăn bội phần. 

B.29 là gì? Theo tài liệu, năm 1965, từ đề xuất của đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, phụ trách vấn đề chi viện miền Nam, Bộ Chính trị quyết định thành lập “Quỹ Ngoại tệ đặc biệt” với phiên hiệu B.29. B.29 tồn tại và hoạt động như một “ngân hàng ngoại hối đặc biệt” phục vụ riêng việc chi viện cho chiến trường bằng ngoại tệ, gồm các loại tiền: USD, tiền Sài Gòn, tiền riel Campuchia, tiền kip Lào và tiền baht Thái Lan. 

Tôi không thể hình dung giữa một nơi rộng lớn như trụ sở Ngân hàng Nhà nước, người ra vào tấp nập, làm sao có một tổ chức hoạt động công khai nhưng lại tuyệt mật không ai biết như thế? Thành lập và đi vào hoạt động suốt 10 năm, B.29 cũng chỉ có hơn chục cán bộ và dù có cơ sở ngay trong trụ sở ngân hàng, mọi hoạt động vẫn công khai bình thường, nhưng đảm bảo tuyệt đối bí mật và an toàn. Vì B.29 chịu sự chỉ đạo đơn tuyến như nguyên tắc của hoạt động tình báo, bởi vậy có thể nói đây là tổ chức tình báo kinh tế đầu tiên của Việt Nam. Tiền của B.29 khi chuyển về Hà Nội được cất giữ nghiêm ngặt tại tầng hầm bê tông của ngân hàng, do B.29 quản lý và vận chuyển vào chiến trường miền Nam theo nhiều con đường khác nhau. Kho chứa tiền bí mật này được cán bộ B.29 gọi vui với nhau là “buồng hạnh phúc”.

Tôi đã tìm gặp ông Lê Văn Châu (85 tuổi, nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) tại nhà riêng. Ông khẳng định rằng: “Điều cốt tử đối với cán bộ và những hoạt động của B.29 ở miền Bắc là phải tuyệt đối bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác và hơn nữa phải theo dõi, giám sát được lộ trình của dòng tiền chi viện cho tiền phương”.

Theo những gì mà ông Lê Văn Châu kể thì tài sản ngoại tệ thuộc B.29 là dành riêng cho miền Nam nên được điều hành một cách hoàn toàn độc lập, không liên quan gì đến vốn ngoại tệ công khai của Nhà nước tại miền Bắc. Vốn của B.29 được gửi tại Vietcombank. Đến lượt mình, Vietcombank lại gửi vốn đó ở nước ngoài, tại các ngân hàng đại lý quốc tế lớn đáng tin cậy. Như vậy, B.29 được coi như “khách hàng tiền gửi đặc biệt” và “ngân hàng đại lý đặc biệt” trong quan hệ với Vietcombank.

Mọi nguồn thu của B.29 cũng nằm ngoài ngân sách Nhà nước. B.29 hạch toán theo chế độ kế toán riêng, mọi hoạt động thu, chi đều có báo cáo định kỳ đơn tuyến cho cấp trên, trực tiếp là Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị từ năm 1967 (khi Phó Thủ tướng Phạm Hùng vào Nam lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam). Cách hạch toán của B.29 cũng rất đặc biệt: Dùng USD làm đơn vị tiền tệ để hạch toán cân đối tổng hợp chung theo phương pháp kế toán kép. Việc đóng gói tiền để vận chuyển vào Nam do C100 – đơn vị vận tải của Đoàn 559 Bộ Quốc phòng, chịu trách nhiệm.

Đặc phái viên và “bùa hộ mệnh”

Tiền từ những tổ chức quốc tế ủng hộ được vận chuyển về B.29 tại Hà Nội thường được công khai như: đường sắt liên vận quốc tế, các hãng hàng không quốc tế như Trung Quốc, Liên Xô, Pháp, CHDC Đức, Tây Đức, Thụy Sĩ, Thụy Điển… và những cán bộ chuyển ngân hoạt động như những “khách VIP” đi công tác, với lộ trình đều tuyệt mật theo nguyên tắc đơn tuyến.

Cụ thể, những cán bộ của B.29 ở nước ngoài vận chuyển tiền từ nước ngoài về Hà Nội luôn có hộ chiếu đỏ (hộ chiếu ngoại giao). Thời điểm đó, ông Lê Văn Châu là đặc phái viên của B.29 với danh nghĩa là Tùy viên Kinh tế Bộ Ngoại giao tại Bắc Kinh (Trung Quốc). Ông Châu nhớ lại: “Anh em thường gọi vui với nhau, hộ chiếu như bùa hộ mệnh rồi xách cặp diplomat (một loại cặp da cao cấp – PV), ngồi ở phòng VIP với tư thế nhà ngoại giao trước khi ra máy bay”. Thời đó, cặp diplomat không sẵn như bây giờ, chỉ cán bộ làm công tác ngoại giao mới dùng và mỗi chuyến vận chuyển tiền như vậy, trong cặp vài triệu USD tiền giấy là chuyện thường. Trong cuộc trò chuyện với ông Lê Văn Châu, cụm từ “đặc phái viên B.29” được nhắc đến nhiều lần. 

Ngoài ông Lê Văn Châu, chúng tôi gặp ông Lê Hoàng (97 tuổi, nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, nguyên Phó Tổng giám đốc – Chủ tịch Vietcombank) hoạt động trong danh nghĩa thường trú của Vietcombank tại Paris. Tiếp tôi tại nhà riêng ở phố Phương Mai (Hà Nội), ông xúc động nhắc về B.29. Thời ấy, ông Lê Hoàng phụ trách nhận nguồn viện trợ từ các nước Bắc Âu, trong vai một người làm nghiệp vụ thanh toán ngân hàng của Vietcombank. Ở tuổi xưa nay hiếm, những ký ức và nghiệp vụ năm đó ít nhiều đã nửa nhớ nửa quên trong ông, nhưng ông vẫn nhắc mãi một điều cốt tử cán bộ B.29 đều nằm lòng: “Bí mật tuyệt đối, nhanh chóng và an toàn chi viện cho chiến trường miền Nam”.

Khi tôi hỏi, ông có sợ bị lộ thân phận trong những năm tháng hoạt động ở nước ngoài không, ông khoát tay: “Khi chuyển tiền về, tôi xách cặp diplomat ra sân bay từ Paris về Mátxcơva bằng hộ chiếu đỏ, từ Mátxcơva về Hà Nội thì đi bằng máy bay của nước bạn nên đảm bảo an toàn”. Thời đó, “đặc phái viên” xách từ 2-3 triệu USD trong cặp diplomat là chuyện thường. Ông Lê Hoàng kể tiếp: “Có lần tôi trực tiếp nhận điện mật từ Phó Thủ tướng Phạm Hùng, cần tiếp viện 5 triệu USD tiền giấy. Tôi tìm cách thu gom và vận chuyển bằng mọi cách, trong vòng một ngày, tiền đã về Hà Nội. Chiến trường cần tiếp viện, nhưng cũng có lúc gặp trục trặc phải chậm một hoặc vài ngày, lực lượng bộ đội ta có khi phải nhịn ăn hoặc chi tiêu ở mức thấp nhất, nhưng điều này chỉ thỉnh thoảng xảy đến. Vì các đặc phái viên ở nước ngoài đã thiết lập những đường dây và đầu mối rất chắc chắn”.

Và để phối hợp thật chính xác mọi tác nghiệp nhận, “chế biến” và chuyển tiền giữa các đặc phái viên B.29 ở nước ngoài, phải có một đầu mối trung tâm. Tại Bắc Kinh, ông Lê Văn Châu là “trung tâm của 3 trung tâm”, ông là đầu mối liên hệ giữa “Anh Bảo” (bí danh Ngân hàng Po Sang Bank Hồng Công), Ngân hàng Trung Quốc ở Quảng Châu và B.29 ở Hà Nội. Cụ thể, ông có nhiệm vụ nắm bắt, điều phối nguồn viện trợ ngoại tệ, tham gia đàm phán và tiếp nhận viện trợ từ các nước bạn, đồng thời quan hệ với “Anh Bảo”, giúp ta “chế biến” tiền mặt USD và các biệt tệ là tiền Z Sài Gòn, riel Campuchia, kip Lào và baht Thái Lan. 
Để đảm bảo bí mật và thông suốt, những thông tin được chuyển bằng mật mã qua hệ thống cơ yếu của ngành ngoại giao và quốc phòng. Ông Lê Văn Châu nhớ lại: “Lúc đó, tôi thông thạo tiếng Trung, tiếng Anh, nói được tiếng Pháp và biết dùng mật mã nữa. Vì đâu chỉ có nghiệp vụ ngân hàng buộc mình phải học ngoại ngữ, mà việc học mật mã để đảm bảo bí mật tuyệt đối khi liên lạc với trong nước”.

Có lẽ vì có quá nhiều bí mật đặc biệt liên quan đến yếu tố ngoại giao, tài chính quốc tế nên những câu chuyện trên đây mới được “giải mật” từ năm 2009… 

“Bùa hộ mệnh” là hộ chiếu đỏ và các con đường ngoại giao để nhận và vận chuyển tiền, nhưng công việc của đặc phái viên B.29 chưa dừng lại ở đó. Đối với các nguồn viện trợ quốc tế tại các nước Âu Mỹ, bằng rất nhiều loại bản tệ khác nhau như: bảng Anh, franc Pháp, franc Thụy Sĩ, lire Italy, couronne Đan Mạch… thì việc “chế biến” ra USD được giao cho đại diện Vietcombank ở Paris tiến hành ngay tại Pháp và Thụy Sĩ, rồi bằng “giao thông ngoại giao” đưa qua đường Mátxcơva về Hà Nội. 

Tuy nhiên, nhiệm vụ này cũng không dễ dàng gì với ông Lê Hoàng, vì tại các nước Âu Mỹ, tiền mặt chỉ để chi tiêu lặt vặt, ai chuyển đổi hàng triệu USD lập tức bị để ý. “Chúng ta giải quyết bằng cách nhờ sứ quán của các nước xã hội chủ nghĩa tiêu giúp. Đằng nào họ cũng phải trả lương, mua sắm những thứ sinh hoạt cần thiết trên thị trường. Sau đó, bạn trả bằng cách chuyển khoản vào tài khoản của Vietcombank. Đó là một trong những cách để hình thành tài khoản ngoại tệ của chúng ta ở nước ngoài. Cũng theo lệnh của B.29, ta lại chuyển khoản để chi trả cho những “khách hàng” của chúng ta ở miền Nam và Campuchia. Số USD còn lại, tôi phải chuyển từ Paris về Mátxcơva theo con đường ngoại giao”, ông Lê Hoàng kể lại.

____
KIM LOAN

***

Kỷ niệm 70 năm ngân hàng Việt Nam (6-5-1951 – 6-5-2021) – Con đường thứ 5 – Bài 3: Đơn vị mang bí số N.2683

SGGP Thứ Tư, 5/5/2021 08:39

Một ngày giữa tháng 4-2021, chúng tôi cùng các thành viên N.2683 về thăm Trung ương Cục miền Nam, thắp nén nhang trước bia tưởng niệm Ban Kinh tài và viếng Nghĩa trang liệt sĩ Đồi 82, nơi nằm lại của 144 liệt sĩ là cán bộ Ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam. N.2683 ở đây là “Ban tài chính đặc biệt”, tiền thân là B6 (một phần của Ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam), đơn vị tiếp nhận chi viện từ B.29.

Các cô chú đơn vị N.2683 thắp nhang trước bia kỷ niệm thành lập  Ban Kinh tài tại Trung ương Cục miền Nam (tỉnh Tây Ninh)

Các cô chú đơn vị N.2683 thắp nhang trước bia kỷ niệm thành lập Ban Kinh tài tại Trung ương Cục miền Nam (tỉnh Tây Ninh)

Chuyển tiền AM

Có thể hiểu thế này: A là USD, M là tiền mặt – phương thức chuyển tiền AM là chi viện trực tiếp tiền mặt cho chiến trường miền Nam. Từ B.29, tiền được chi viện vào Nam theo 3 con đường – đường Hồ Chí Minh trên biển và đất liền, đường hàng không. Ngày ấy, cùng với những đoàn người, đoàn xe “xẻ dọc Trường Sơn”, có những chuyến xe chở “binh chủng tiền”, chi viện cho miền Nam.

Việc đóng gói và vận chuyển tiền vào chiến trường miền Nam do C100 – đơn vị vận tải của Đoàn 559, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm. B.29 phối hợp với C100 chế tạo ra những thùng đặc biệt chống cháy để vận chuyển tiền.

Ông Lê Văn Châu (nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) kể: “Tiền sau khi cho vào thùng kẽm, tiếp tục được cho vào thùng gỗ ngụy trang… Trong lớp lớp những đoàn xe chở hàng ra mặt trận, có những chuyến xe đặc biệt chở những hòm sắt hàn kín được giao nhận theo những quy định nghiêm ngặt, có mật danh là “hàng Z”. Đó chính là những hòm ngoại tệ chi viện cho miền Nam, vào các chiến khu, các chiến trường ở Nam bộ cũng như Tây Nguyên, Tây Ninh…”.

Con đường thứ 2, tiền đi theo các đoàn tàu không số trên đường Hồ Chí Minh trên biển vào Nam. Cả 2 cách vận chuyển trên, dù tiền được đóng thùng và ngụy trang cẩn thận, tuy nhiên vẫn có nguy cơ bị địch phát hiện và mất khá nhiều thời gian. 

Theo tài liệu giải mật từ năm 2009, chuyển tiền AM theo 2 con đường trên có nhiều nhược điểm: chậm, dễ bị lộ vì tiền phải qua nhiều trung gian sau đó mới đưa vào Trung ương Cục bằng tiền mặt; đường đi rất chậm, dễ bị ách tắc, dễ bị địch phát hiện qua theo dõi thị trường Sài Gòn và Hồng Công. Khối lượng vận tải ngày càng lớn trong khi Mỹ tăng cường đánh bom phá hoại, nên có lúc không tránh khỏi thiệt hại trong quá trình vận chuyển. B.29 đã nhận lại các loại tiền giấy ngoại tệ và biệt tệ bị cháy, tổ chức sắp xếp lại và bí mật mang đi tiêu thụ hơn 1,2 triệu USD trên thị trường tiền tệ quốc tế, đây là kết quả quan trọng về nghiệp vụ đặc biệt của B.29. Tuy nhiên, có hơn 4 triệu USD mặc dù thận trọng cẩn mật trong các hòm sắt, hòm thiếc nhưng đã bị địch đánh bom.

“Khi dỡ ra, tờ USD còn nguyên dạng nguyên hình, nhưng đụng vào tơi ra như bột”, ông Lê Văn Châu nhớ lại. 

Con đường thứ 3 nhanh hơn, đó là đường hàng không. “Tiền được đặt trong “vali ngoại giao” hoặc nếu nhiều thì đóng vào các thùng ghi ngụy trang như đồ hộp xuất khẩu, đi theo tuyến hàng không Hà Nội – Phnom Penh hoặc Hà Nội – Quảng Châu – Phnom Penh. Cán bộ B.29 bề ngoài đóng giả là cán bộ ngoại giao, bay 3 giờ đến Phnom Penh. Từ Phnom Penh lại lấy ô tô biển đỏ ngoại giao của sứ quán ta chạy hướng đến Trung ương Cục miền Nam giao cho đồng chí Phạm Hùng mất thêm 3 giờ nữa. Như vậy 30 ngày đêm, rút xuống còn 6 giờ. Gần như hàng quý đều có chuyến “hàng mẫu” từ Hà Nội sang Phnom Penh và cứ như thế, nhiều chục triệu đô la Mỹ đã về đến Trung ương Cục miền Nam an toàn, nhanh chóng”, ông Lê Hoàng – nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, nguyên Phó Tổng Giám đốc – Chủ tịch Vietcombank, kể lại.

Bác Bảy Thu (82 tuổi, tên thật Võ Hồ Việt) làm công tác chăm sóc sức khỏe cán bộ N.2683 và kiêm luôn một tay phụ tá việc văn phòng cho bác Mười Phi kể: “Hơn 10 năm hoạt động, N.2683 gần như hoạt động bí mật tuyệt đối, kẻ địch không thể nào phát hiện được. Chính các bác, các chú, các cô là đồng đội còn không ai biết ai, giải phóng vô mới biết, rồi lâu lâu mới gặp”.Vợ bác Bảy Thu, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Thị Kim Cúc (80 tuổi), từng làm việc cho Văn phòng Ban Tài chính đặc biệt, nói thêm: “Công việc đơn vị các bác là công việc đơn tuyến. Có nghĩa việc ai nấy biết, giao tiền nhưng không ai biết ai. Thậm chí trong 1C (đơn vị nhỏ) cũng không được biết nhau. Như hai bác, là vợ chồng nhưng không hề nói cho nhau biết công việc của mình. Hồi bác nghỉ hộ sản 3 tháng, nhận nhiệm vụ xong dẫn 2 đứa con nhỏ đi làm mà bác trai đâu có biết. Đó là quy định bí mật tuyệt đối. Để chi? Để nếu địch có phát hiện thì cũng không kiếm được người thứ 2. Tới hòa bình bác mới dám kể lại cho ổng…”.
 

Những người sống trong kho tiền

Buổi họp mặt truyền thống của N.2683 được tổ chức tại TPHCM vào giữa tháng 4-2021. Từng người có mặt trong buổi gặp gỡ đó, được bác trưởng ban liên lạc giới thiệu, nhưng không phải ai cũng biết nhau, dù từng hoạt động cùng đơn vị. Điều đó nói lên sự bí mật tuyệt đối của đơn vị này. 

Chúng tôi gặp một số cô chú ở đây, để được hiểu về những con người từng “sống trong kho tiền” ở Trung ương Cục miền Nam. Cô Năm Hoa (Mai Kim Bé, 74 tuổi, ở huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh) là một người như vậy. 15, 16 tuổi, cô Hoa tham gia cách mạng, làm giao liên, đến năm 17 tuổi thì theo B6 (tiền thân của N.2683)… bắt đầu bằng việc nhận nhiệm vụ viết thư mật giao cho ông Mười Phi (Nguyễn Văn Phi, Bí thư Đảng ủy, Trưởng ban Tài chính đặc biệt – N.2683), Ba Châu (Lữ Minh Châu, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó trưởng Ban Tài chính đặc biệt – N.2683). 

Tiền chi viện từ B.29 về đến Trung ương Cục miền Nam và bắt đầu được chia nhỏ về các căn cứ của ta để mua sắm vũ khí, thuốc men, nuôi quân…

“Tui với má xếp vàng miếng Kim Thành cả một cần xé, rồi phủ bầu bí lên trên, có bữa thì xếp tiền rồi có một bộ phận khác nhận chuyển về Cầu Muối, quận 4, Sài Gòn. Hồi đó, thiệt tình hông biết là tiền, vàng ở đâu quá trời, nhà mình thì nghèo rớt mùng tơi, chứ không có suy nghĩ túi riêng túi tư gì hết, chỉ mong hòa bình”, cô Hoa nhớ lại.

Và cũng như B.29, những ai tham gia vào N.2683 cũng hoàn toàn bí mật và hoạt động đơn tuyến. Cô Hoa kể tiếp: “Tui được giao nhiệm vụ ngụy trang tiền, vàng vậy đó, rồi sẽ có người khác mang đi tới những điểm cần và làm những phần việc tiếp sau. Làm nhiệm vụ nên không được phép tò mò, thắc mắc, cấp trên chỉ đạo sao thì làm y vậy. Tới sau này hòa bình mấy chục năm rồi, nhiều lần họp mặt mấy anh chị em, kể ra mới hay hóa ra hồi xưa tụi này chung đơn vị… Hồi đó nhà cô ở Tây Ninh, có hầm luôn bây, hầm đó là giấu cán bộ lẫn tiền luôn, hầm này ông Ba Trung (đảng ủy viên của N.2683) ra vô thường xuyên. Có một bữa, ông Mười Phi tới, trước nhà là địch nó lùng, sau nhà là ruộng lúa, đâu có trốn được. Tui dẫn ông Mười Phi xuống hầm liền. Tui bị quở, khoan tính chuyện cho vô Đảng vì chuyện này. Hầm của ai nấy trốn, không được có người thứ 2, vì nguyên tắc hoạt động đơn tuyến, để rủi lỡ có bị bắt thì cũng không có khai. Nhưng mà tình thế đó thì biết làm sao hơn. Tui nghĩ, hầm có lộ thì mình đào hầm khác, tính mạng lúc đó phải giữ được trước rồi tính tiếp. Tui giải thích vậy, ông Mười Phi cười ngất: “Con nhỏ này nhỏ mà lanh ghê”, sau đó cấp trên xem xét tình huống lúc đó, nên tui vẫn được kết nạp Đảng”.

Sau lần thăm lại chiến khu xưa cùng các cô chú của N.2683, chúng tôi ghé nhà thăm cô Liên, người mà các cô chú của N.2683 vẫn thường gọi vui là: “Bả hồi xưa sống trên đống tiền”. Cô Liên tên thật Trần Thị Kim Liên (74 tuổi, ngụ quận Tân Bình, TPHCM) là thủ kho ngay Trung ương Cục miền Nam. Hai chữ “trách nhiệm” và “tuyệt mật” gần như gắn với cô Liên suốt đời.

Cô Liên dặn chúng tôi: “Bây hông được hỏi khó cô nghen, có những chuyện bí mật khi làm nhiệm vụ lúc đó, bây giờ lớn tuổi cũng ít theo dõi tin tức, cô không biết có được công bố hay chưa, nên cô hông kể, đừng giận nghen”. Làm sao mà chúng tôi có thể giận cô, một người mà đã một lần làm nhiệm vụ thì suốt đời trung thành và bảo vệ tổ chức như vậy. Cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng một phần cũng là nhờ những người như cô.

“Phía dưới trụ sở Trung ương Cục là hầm giữ tiền, lúc đó rừng tới 3 tầng cây, rậm lắm, cô làm thủ kho, nên sau này mấy ổng mấy bả mới ghẹo là sống trong đống tiền là vậy đó. Mà thiệt là không sai, tiền nhiều lắm, đứa con gái lớn cô cũng sinh nó hồi ở rừng luôn, vậy tính ra là nó cũng sinh ra trên đống tiền luôn”, cô Liên hóm hỉnh.

Những năm chống Mỹ, địch càn quét, đánh phá dữ dội, dọc theo sông Vàm Cỏ Đông, máy bay địch oanh tạc, tiền vận chuyển về bị ướt nhẹp. “Cô tranh thủ bằng mọi cách phơi khô, rồi lấy nồi, chảo, xoong, bàn ủi, mấy cái bằng kim loại, rồi hơ cho nóng, để tiền lên cho nhanh khô. Tiền giấy mà, ướt lâu thì dễ rách mà điều kiện dưới hầm, nếu không khô thì tiền bốc mùi thúi không chịu nổi”, cô Liên nhớ lại.

KIM LOAN – VÕ THẮM

***

Kỷ niệm 70 năm ngân hàng Việt Nam (6-5-1951 – 6-5-2021) – Con đường thứ 5 – Bài 4: Mưu trí và dũng cảm

SGGP Thứ Năm, 6/5/2021 07:11

Những ngày chiến tranh ác liệt nhất ở chiến trường miền Nam, chi phí cho kháng chiến tăng lên rất nhiều, phương thức chuyển tiền trực tiếp cho chiến trường miền Nam (AM) càng thêm khó khăn, tốn kém. Một chiêu chuyển tiền khác được đề ra là FM – “chơi theo luật chơi” nghĩa là sử dụng chính hệ thống ngân hàng của thế giới và của chế độ Sài Gòn để chuyển tiền cho cách mạng.

Kỷ niệm 70 năm ngân hàng Việt Nam (6-5-1951 - 6-5-2021) - Con đường thứ 5 - Bài 4: Mưu trí và dũng cảm

Cuộc giải cứu mắm

Chúng ta đã xây dựng được rất nhiều cơ sở của cách mạng ở Nam Vang (Phnom Penh), trong đó, Ban Tài chính Xứ ủy Nam bộ xây dựng cơ sở đầu tiên là cửa hàng Tân Á. Sau này giao cho ông Năm Tấn (Phạm Văn Quang, Đảng ủy viên N.2683), là tư sản Việt kiều để làm AM. Vì vậy trong suốt thời kỳ chiến tranh, miền Bắc chi viện cho miền Nam một lượng lớn tiền gồm nhiều loại: USD, tiền Sài Gòn, baht Thái và đặc biệt là riel Campuchia, gọi là tiền R. Trong đó, tiền R có vai trò quan trọng đối với hoạt động của tất cả bộ phận kháng chiến ở miền Nam.

Để đảm bảo việc cung ứng cho các cơ sở của ta (hình thức là các đơn vị kinh doanh) trên đất Campuchia, tại kho tiền trong căn cứ nội địa của Trung ương Cục luôn có một lượng lớn loại tiền R. Trước khi Lonnol đảo chính Quốc trưởng Sihanouk, vào ngày 24-2-1970, Campuchia đã có lệnh đổi tiền. Điều này hòng gây khó khăn và vô hiệu hóa kho tiền R dự trữ của ta.

Ông Lê Văn Châu (nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) nhớ lại: Mật báo của ta biết được việc này, khi lệnh đổi tiền công bố thì toàn bộ tiền R của Trung ương Cục đã phân phối trở lại đất Campuchia và được đổi hết. Số tiền mới đổi được giấu tại kho hàng của Công ty Hắc Lý (một đơn vị buôn bán khác của Trung ương Cục trên đất Campuchia). Gian nan vẫn chưa dừng lại ở đó, đường về Việt Nam của số tiền này cũng trầy trật, thót tim và thậm chí là “nặng mùi”.

Tháng 3-1970, cuộc đảo chính của Lonnol nổ ra, khủng bố, tàn sát Việt kiều, chặn các con đường về căn cứ, tiền mới đổi được bị kẹt lại Phnom Penh, công tác chi viện cho chiến trường bị ảnh hưởng lớn. Nhận lệnh của cấp trên “bằng mọi cách, phải đưa tiền về cho Trung ương Cục”, một chuyến chở mắm được ông Mười Phi (Nguyễn Văn Phi) và Ba Châu (Lữ Minh Châu) đề ra.

Ta bí mật đóng tiền vào túi ni lông lớn, lồng một bao khác bên ngoài, rồi đổ đầy mắm bò hóc lên trên. Vì sao là mắm bò hóc? Vì loại mắm này được hãng buôn Hắc Lý thường chở sang bán ở Nam bộ, theo cách này qua cửa khẩu sẽ dễ dàng. Nhưng hơn hết vì đây là loại mắm nặng mùi, chuyến “chở mắm” này ta cố tình chọc thủng nhiều lỗ trên miệng túi, để xe chạy xóc, mắm trào ra bốc mùi thật nồng nặc. 

140 chiến sĩ được huy động bảo vệ 2 xe mắm bằng cách mật phục những nơi có trạm gác, nếu gặp địch gây rắc rối không cho qua thì nổ súng tiêu diệt tại chỗ, quyết không để mất “mắm”… Và chính vì mùi quá nặng, ở các trạm, lính Lonnol đã không chịu nổi nên chỉ kiểm tra qua loa. Xe chở tiền ngụy trang mắm của ta ung dung đi ra khỏi thành phố, qua mặt tất cả trạm canh gác của Lonnol, vượt vòng vây của địch tại Phnom Penh, vượt cửa khẩu Túc Mía trở về kho tiền của Trung ương Cục miền Nam tại Tân Biên, Tây Ninh. Đó là ngày 14-4-1970.

Trong hồi ký của mình, ông Năm Tấn viết: “Những năm sau, chúng tôi đều có họp mặt kỷ niệm ngày 14-4, để nhớ lại kỷ niệm của ngày mà chúng tôi coi như sống lại giữa một địa ngục đang nghẹt thở vì nạn kích động hận thù điên cuồng giữa 2 dân tộc. Phải mất bao nhiêu thời gian và xương máu nữa đây để cho người Campuchia hiểu được tấm lòng người Việt, những người bạn láng giềng thủy chung của họ”.

Ăn mừng sau cú thót tim

Cuộc giải cứu mắm an toàn về kho tiền Trung ương Cục, nhưng sau vụ đảo chính ở Campuchia, đường bay bị cúp, lãnh đạo ngân hàng đã có sáng kiến chuyển phương thức thanh toán AM (tiền mặt) sang FM (chuyển khoản), sử dụng “làn sóng điện trên không” của bưu điện quốc tế, bưu điện trong nước với những quy ước mật và 3 điện đài riêng của N.2683 tại miền Nam cùng với sự “hợp đồng tác chiến” rất ăn khớp giữa các chốt đại điện Vietcombank tại Paris, Bắc Kinh, Hồng Công, móc nối với Phnom Penh, Tây Ninh (Trung ương Cục), Sài Gòn (cơ sở của đồng chí Lữ Minh Châu). Tất cả đã lập đường dây giữa Sài Gòn – Hồng Công – Hà Nội và Phnom Penh – Hồng Công – Hà Nội để thực hiện thanh toán chuyển khoản, chỉ trong vòng 30 phút là xong một phi vụ. Hàng trăm triệu USD đã được thanh toán theo phương thức mới này để phục vụ chiến trường miền Nam cho đến mùa xuân đại thắng. 

FM là phương thức chi viện tiền cho miền Nam bằng chuyển khoản. Tiền Z được lấy ngay tại Sài Gòn qua một đường dây hoạt động nội thành của N.2683. Sau đó, hoàn trả cho nhà cung cấp tại nước ngoài bằng USD. Đích thân ông Mười Phi vào nội đô Sài Gòn để thiết lập đường dây. Nhà cung cấp tiền Z Sài Gòn là những chủ kinh doanh lớn, sẵn sàng hợp tác với một đầu mối của N.2683 trong nội thành Sài Gòn, có mật danh là C.130, do ông Lâm Dân Sanh, một thương nhân đảm nhiệm. Họ có tài khoản tại các ngân hàng thương mại nước ngoài và ở Sài Gòn. Theo sự thỏa thuận với N.2683, họ rút tiền Z từ ngân hàng, lý do là để sản xuất, kinh doanh, thực tế là để cung cấp cho cách mạng. Trong nhiều trường hợp có những khoản lớn là tiền Z không cần rút từ ngân hàng, mà được thu trực tiếp do bán hàng nhập khẩu.

Trong không gian Hội quán Hải Nam ở TPHCM, chúng tôi hẹn gặp bác Chín Hòa (Ngô Thanh Hoa, 93 tuổi), một doanh nhân lịch lãm. Sau khi được Hoa vận chuyển sang làm nhiệm vụ ở Ban Kinh tài, bác Chín mua chuộc người ở ngân hàng, đường vận chuyển ở sân bay, mua chuộc tổng đài và cài cắm chân rết ở nước ngoài. “Cụ thể là mình đã làm những gì?”, tôi thắc mắc. Bác Chín bắt đầu kể: “Với nhân viên ngân hàng thì mình mua chuộc, để khi rút tiền, họ đưa mình tiền mới và mệnh giá lớn nhất, để khi ngụy trang tiền rồi chuyển đi cũng không quá cồng kềnh như tiền lẻ. Còn với tổng đài thì họ sẽ ưu tiên điện thoại của mình từ nước ngoài gọi về, thời gian nhận điện thoại nhanh hơn. Và lúc đó cũng đâu có dễ mà tới Hồng Công để thiết lập tài khoản và cài người bên đó, tôi lấy thân phận doanh nhân trong giới điện ảnh, sang Đài Loan giao lưu rồi đi qua Hồng Công, để họ không để ý, mình cũng phải bỏ chút đỉnh cho cánh hải quan”.

Bác Chín mở một tài khoản ngân hàng tại Hồng Công và nhờ người bạn bên đó quản lý. Khi cánh thương nhân ở Sài Gòn cần thanh toán tiền mua bán ở Hồng Công, họ để lại tài khoản và người của bác Chín bên đó chuyển khoản chi trả cho mối lái của họ và họ trả lại bác bằng tiền mặt qua ngân hàng tại Sài Gòn. “Làm vậy mình có bị ép tỷ giá không bác?”, chúng tôi hỏi tiếp. Bác Chín Hòa cười ngất: “Dễ gì mà chịu thiệt. Hồi đó, tôi ngồi ở đường Nguyễn Công Trứ là khu vực tập trung nhiều ngân hàng lớn ở Sài Gòn, đúng 12 giờ rưỡi trưa là ngân hàng Hồng Công thông báo niêm yết tỷ giá ngày hôm đó, mình căn cứ theo đó, sòng phẳng với nhau thôi, chứ sao bị ép được”. 

Có lần nhận nhiệm vụ mang 8 vali tiền đến khu vực Long An, bỏ xong 5 vali tiền dưới chân cầu Bến Lức theo ký hiệu đã được thông báo trước, nhưng máy bay địch đang rà rà phía trên, bác Chín vội quay xe về và còn 3 vali tiền vẫn trong cốp xe. Bác kể: “Lúc đó, mà bỏ tiếp 3 vali nữa thì thế nào máy bay địch cũng phát hiện vì nó rà gần lắm rồi. Tôi quay xe đi, nhưng tim phập phồng vì nhiệm vụ chưa hoàn thành, vẫn còn 3 vali tiền nữa. Nếu giao không đủ thì căn cứ sẽ gặp khó khăn trong chi tiêu, bản thân mình cũng không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đi qua khỏi cầu Bến Lức hướng về Sài Gòn được một đoạn, tôi quay lại, đến nơi thì mật hiệu vẫn còn, máy bay địch cũng đi qua, vậy là tôi bỏ lại 3 vali. Ngày hôm sau, tôi nhận mật thư và đến đưa cho cấp trên của mình. Ổng vỗ vai tôi cười khà khà, nhiệm vụ hoàn thành rồi. Ổng dắt mấy anh em đi ăn mừng một trận hú vía, còn tôi vẫn chưa hết hồi hộp, thót tim”.

Bằng phương thức FM đã chi viện số lượng tiền lớn và nhanh cho chiến trường miền Nam, góp phần làm nên ngày thống nhất non sông. Chặng đường 10 năm (1965-1975) của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là những năm tháng, người cán bộ ngân hàng phải đảm bảo “mạch máu” của con đường tiền tệ luôn lưu thông trong bất cứ hoàn cảnh nào, để kịp thời chi viện cho đồng bào, chiến sĩ, chiến trường miền Nam.

Lịch sử kinh tài cách mạng mãi mãi ghi danh 3 tổ chức bao gồm: Quỹ Ngoại tệ đặc biệt (B.29) thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Ban Tài chính đặc biệt (N.2683) và Ban Ngân tín R (C.32) thuộc Trung ương Cục miền Nam – 3 đơn vị đều được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.Những nhân vật mà chúng tôi đã gặp ở loạt bài này, người “trẻ” nhất cũng đã gần 80. Không biết rằng, vào dịp kỷ niệm 75 năm hay 80 năm thành lập Ngân hàng Việt Nam, còn mấy ai đủ sức khỏe, minh mẫn để nhắc nhớ về “con đường thứ 5”. Vì vậy, trách nhiệm của chúng tôi, chính là giải mật nguồn tư liệu này, để đem đến cho độc giả cái nhìn về một lực lượng đặc biệt, dũng cảm và mưu trí.

KIM LOAN – VÕ THẮM

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s