Ngát hương đàm nở

Ngát hương đàm nở
Sáng tác: Trường Khánh

Lâm-tỳ-ni ngát hương hoa Vô ưu thơm lành
Tay Ma-gia vin cành Tất-đạt-đa đản sanh
Muôn chim ca âm vang ngọt ngào
Non sông như thay đổi cho đời yên vui

Tâm thành dâng Bổn sư hôm nay con quay về
Tai con nghe lời vàng Tất-đạt ngời ánh quang
Con chấp tay con xin lạy ngài
Cho con mau ra khỏi đêm dài vô minh.

ĐK: Ngày đản sanh hương ngát bay trong nắng hồng
Ngày đản sanh khói hương trầm, hương trần nhẹ bay
Con chấp tay khấn nguyện Bổn sư
Cho con vui sống trong Đạo từ

Hương từ bi ngát bay trong yêu thương vơi đầy
Con đang mơ lời ngài suốt cuộc đời không phai
Xin quên đi bao nhiêu hận thù
Cho con vui trong cõi dương trần đau thương.

Chú thích từ ngữ Phật giáo trong bài hát:

1. Ngát hương đàm nở:

Đàm ở đây là hoa Ưu đàm. Ưu đàm là lấy âm của chữ Phạn Udumbara.

“Theo các tài liệu tiếng Việt thì “Ưu đàm cũng là một loài cây có hoa nhưng là loại cây thiêng (linh thọ). Theo Phật giáo, hoa Ưu đàm nở là một điềm lành. Ưu đàm, Phạn ngữ Udumbara, Hán ngữ phiên âm thành Ưu đàm ba la, Ưu đàm bà la, Ô đàm bạt la, Ô đàm bát la, Uất đàm v.v… Hoa Ưu đàm có tên Ưu đàm bát hoa hay Ưu bát hoa gọi tắt là Đàm hoa, dịch nghĩa là Linh thụy hoa, Thuỵ ứng hoa, Không khởi hoa… Ưu đàm là loại hoa thiêng, ba ngàn năm mới nở một lần, mỗi lần hoa nở thì có Đức Phật ra đời. Do các đặc điểm này, hoa Ưu đàm thường được làm ảnh dụ cho sự kiện xuất thế hy hữu của Đức Thế Tôn trong văn học và kinh điển Phật giáo. ” (Xem “Các loài hoa trong linh thoại”)

Như vậy theo các truyền thuyết này thì chẳng ai biết Hoa Ưu Đàm như thế nào vì từ thời Phật Thích Ca đản sinh ra đến nay chưa đến 3 ngàn năm.

Tuy nhiên, cũng theo trích dẫn bên trên thì: “Theo Từ điển Phật học Hán Việt, NXB Khoa Học Xã Hội, thì: ‘Cây Ưu đàm không thuộc loại hoa quả, mọc ở các nơi như núi Himalaya , cao nguyên Đê-can và nước Xây-lan v.v… Thân cây cao hơn một trượng, lá có hai thứ: một thứ phẳng trơn, một thứ thô nhám, cả hai thứ đều dài khoảng 4,5 tấc nhọn đầu. Hoa lưỡng tính rất bé, mọc kín ở lõm sâu trong đài hoa, nên thường nhầm là loại cây không hoa. Hoa xếp như nắm tay hoặc như ngón tay cái, thành chùm hơn chục đóa, ăn được nhưng vị không ngon.’ Sách Huyền Lâm Ứng Nghĩa, quyển 21 mô tả về Ưu đàm “Lá cây hoa này tựa như lá cây lê, quả to bằng nắm tay, vị ngọt, có hoa nhưng ít xuất hiện, khó trồng”.

Trong các tài liệu tiếng Anh thì Udumbara, có tên khoa học là Ficus racemosa (hay Ficus glomerata), là một loại cây sung (fig) có trái hình tròn nhỏ hơn nắm tay một chút và hơi ngọt. Trái cây có thể dùng làm thực phẩm tại nhiều nơi trên thế giới.

Trái Udambara (Ưu Đàm, trái sung)
Trái Udumbara (Ưu Đàm, trái sung)

Rất thú vị là cây sung cũng đóng một vai trò rõ rệt trong Thánh kinh Kitô giáo khi Chúa Giêsu và các môn đệ đi ngang cây sung (trong Thánh kinh gọi là cây vả) thấy cây có cành lá sum suê nhưng không có trái, Chúa bèn quở cây: “Nhà ngươi sẽ không bao giờ có trái nữa”, và hôm sau cây sung liền héo úa. (Matthew 21:19; Mark 11:14).

Điều thú vị hơn nữa là người ta thường nói cây sung là cây không hoa. Nhưng sự thật là các hoa sung, hoa cái lẫn hoa đực, rất nhỏ nằm rất nhiều trong một bọc khá kín gọi là syconium. Một loài ong rất nhỏ vào trong syconium hút nhụy và cấy hoa cái với phấn của hoa đực. Các hoa được cấy trở thành các trái. “Trái” sung mà chúng ta ăn thực ra là bọc syconium đó, và các trái sung thật là các “hạt” nhỏ mà ta ăn bên trong bọc syconium mà ta gọi lầm là “trái” sung.

Điều này giải thích tại sao văn hóa Phật giáo nói rằng phải 3 ngàn năm mới thấy được hoa sung nở.

(Trích “Hoa Linh Thoại – Hoa Ưu đàm, TĐH)

 

2. Lâm-tỳ-ni (chữ Hán: 藍毗尼) là phiên âm Hán Việt của Lumbini (tiếng Phạn: लुम्बिनी, Lumbinī) thuộc quận Rupandehi thuộc Cộng hòa dân chủ liên bang Nepal nằm cách biên giới Sonauli Ấn Độ khoảng 36 km. Nơi này được cho là hoàng hậu Mayadevi (Mada) đã sinh ra Siddhartha Gautama (Tất-đạt-đa), người sau này trở thành Phật Thích Ca và khai sinh ra Phật giáo.

Lâm-tỳ-ni (Lumbini) nơi đức Phật sinh ra và sống 29 năm đầu; Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) nơi đức Phật thiền định 49 ngày dưới cây bồ đề và giác ngộ; Sarnath nơi đầu tiên đức Phật giảng Pháp và Kushinagar nơi đức Phật nhập Niết Bàn

 

3. Lâm-tỳ-ni ngát hương hoa Vô ưu thơm lành: 

“Hoa Vô Ưu, một loài hoa cũng được nhắc đến thường xuyên trong văn hóa Phật giáo. Hoa này thường bị nhầm với Hoa Ưu Đàm, có lẽ vì chữ “Ưu” trong tên hoa.

Hoa Vô Ưu
Hoa Vô Ưu

Hoa Ưu Đàm là phiên âm từ tiếng Phạn “Udumbara” – Ưu đàm ba là, ngắn lại là Ưu Đàm – mà chúng ta đã nói là hoa sung, mà nhiều người không hề biết là có hiện diện trên đời. Hoa Ưu Đàm còn gọi là Hoa Linh Thoại, vì đó là biểu tượng của sự xuất hiện Pháp thoại linh thiêng của Phật.

Đằng khác, Hoa Vô Ưu là từ Hán Việt. “Vô Ưu” có nghĩa là “không buồn” – “vô” là không, “ưu” là buồn. Tên này được dịch nghĩa trực tiếp từ tên tiếng Phạn là Ashoka có nghĩa là không buồn.

Hoa Vô Ưu có tên khoa học là Saraca Asoca, thuộc gia đình thực vật Caesalpaeniaceae, một gia đình thuộc họ Leguminosae. Hoa thường có màu rực rỡ, như đỏ, cam, tím đỏ, vàng… tụ thành từng cụm trên cành. Trong Phật giáo, truyền thuyết cho rằng Phật Thích Ca được sinh ra dưới tàn cây Vô Ưu, nên hoa này thường được trồng trong sân chùa và cắm trên bàn thờ Phật như là biểu tượng của an lạc, không muộn phiền.

Hoa Vô Ưu
Hoa Vô Ưu

Trong Ấn giáo, Hoa Vô Ưu cũng được xem là loài hoa linh thiêng. Hoa được gọi là Hoa Tình Yêu, dành cúng cho Thần Tình Yêu Kama Deva. Người ta tin rằng uống nước rửa Hoa Vô Ưu sẽ giúp mình gột rửa mọi muộn phiền và thành vui tươi tích cực. Người ta cũng tin rằng hoa này giúp các phụ nữ hiếm muộn có con cái.

Hoa Vô Ưu
Hoa Vô Ưu

 

Cây Hoa Vô Ưu
Cây Hoa Vô Ưu

Ở Việt Nam, chẳng ngạc nhiên gì, chúng ta có một loài hoa rực rỡ rất quen thuộc, cũng nằm trong gia đình Caesalpaeniaceae. Đó là hoa phượng, tiếng Anh có tên là Flamboyant (rực rỡ) hay Royal Poinciana (Hoa Poinciana Hoàng tộc).

Hoa Phượng
Hoa Phượng

(Hoa Vô ưu – Hoa không buồn, TĐH)

4. Tay Ma-gia vin cành Tất-đạt-đa đản sanh: 

Ma-gia: hoàng hậu Mayadevi.

Tất-đạt-đa: hoàng tử Siddhartha Gautama, người sau này trở thành Phật Thích Ca.

 

***

Bài hát “Ngát hương đàm nở” nghe nói được ca sĩ Hà Thanh hát mộc vào đầu thập niên 80 thế kỷ trước, khi ca sĩ Hà Thanh chưa xuất cảnh sang Hoa kỳ, với lời giới thiệu như sau: Đây là cuốn băng được thu âm vào đầu thập niên 1980, thời kỳ mới giải phóng, mọi điều kiện vật chất còn rất khó khăn, nên cuốn băng được thu âm rất thô sơ, chỉ bằng một chiếc cassette xách tay bé xíu, nhạc đệm chỉ với một cây đàn guitar thùng còn phòng thu là một căn phòng tại một ngôi chùa trên đồi Thiên Thai-Huế. (nguồn)

Hà Thanh: tên khai sinh là Trần Thị Lục Hà, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1937 tại quê ngoại là làng An Đô, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên; mất ngày 1 tháng 1 năm 2014 tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

Clip này có lẽ đã được chị Hà Thanh thu sau này, không phải phiên bản đầu những năm 1980. Mời các bạn cùng nghe nhé.

Ngát hương đàm nở – Hà Thanh

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s