Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Đợi Anh Về” – Konstantin Mikhailovich Simonov & Văn Chung

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Đợi Anh Về” (“Жди меня”) của Thi sĩ Konstantin Mikhailovich SimonovNhạc sĩ Văn Chung.

Thi sĩ Konstantin Mikhailovich Simonov (tiếng Nga: Константин Михайлович Симонов) (sinh ngày 28 tháng 11, lịch cũ 15 tháng 11 năm 1915, mất ngày 28 tháng 8 năm 1979) là một nhà văn, nhà thơ và nhà biên kịch Liên Xô nổi tiếng với những tác phẩm viết về Chiến tranh. Có lẽ tác phẩm được biết tới nhiều nhất của Simonov là bài thơ “Đợi Anh Về” (“Жди меня”), một trong những bài thơ hay và được biết đến nhiều nhất của Văn Học Xô Viết trong Thế Chiến Thứ Hai.

Konstantin Simonov sinh năm 1915 tại thủ đô Petrograd (nay là thành phố Sankt-Peterburg) của nước Nga trong một gia đình quý tộc, mẹ ông là nữ bá tước Obolenskaya, còn bố là thiếu tướng trong quân đội Nga Hoàng. Trong Thế chiến thứ nhất, bố của Simonov chết ngoài mặt trận, sau này ông được nuôi dưỡng bởi người cha dượng là đại tá Ivanishev.

Thời thơ ấu của Konstantin trải qua ở thành phố Ryazan và Saratov, sau khi học xong cấp II, Simonov đã chọn con đường trở thành công nhân khi đăng ký học nghề thợ tiện tại một trường dạy nghề cơ khí chính xác. Năm 1931, sau khi gia đình chuyển về Moskva, Konstantin Simonov bắt đầu làm thợ trong nhà máy cho đến năm 1935 thì thôi việc để vào học tại Trường Văn Khoa Marxim Gorky và tốt nghiệp năm 1938. Từ đây Konstantin Simonov bắt đầu tập trung toàn bộ khả năng của mình trong nghề nhà báo và nghề viết văn.

Thi sĩ Konstantin Mikhailovich Simonov.
Thi sĩ Konstantin Mikhailovich Simonov thời trẻ.

Konstantin Simonov bắt đầu viết thơ từ khi trở thành công nhân cơ khí, những bài thơ của ông đã được đăng trên tờ Cận Vệ Thanh Niên và tờ Tháng Mười năm1936. Sau khi tốt nghiệp Trường Văn Khoa Marxim Gorky, ông tiếp tục học cao học tại Viện Nghiên Cứu Lịch Sử, Triết Học và Văn Học Moskva (IFLI) nhưng rồi tạm dừng việc học để làm phóng viên chiến trường tại Mông Cổ cho đến năm 1939.

Năm 1940 Simonov cho ra đời vở kịch đầu tiên của ông, vở “Một Câu Chuyện Tình” sau đó được trình diễn tại Leningrad. Vở kịch thứ hai “Chàng Trai Từ Thành Phố Chúng Ta” lấy cảm hứng từ kinh nghiệm trên chiến trường Khalkhin Gol được Simonov sáng tác một năm sau đó.

Khi Chiến Tranh Giữ Nước bùng nổ tháng 6 năm 1941, Simonov đang là phóng viên của báo Krasnaya Zvezda đã được gửi ra mặt trận, vừa làm việc với tư cách phóng viên chiến trường, vừa chiến đấu với tư cách chủ nhiệm chính trị. Năm 1943 ông được phong hàm trung tá và đến giai đoạn cuối cuộc chiến là hàm đại tá. Simonov đã có mặt trong rất nhiều chiến dịch trên đất Liên Xô cũng như ở Rumani, Bulgari, Nam Tư và cuối cùng là Berlin.

Tháng 10 năm 1941, trong khi quân Đức đang tiến như vũ bão về thủ đô Moskva và quân đội đang lâm vào thế phải chống đỡ rất khó khăn, Konstantin Simonov đã cho ra đời bài thơ “Đợi Anh Về” (“Жди меня”). Ban đầu, bài thơ được sáng tác với ý định dành tặng riêng cho người yêu của ông là nữ nghệ sĩ Valentina Serova, nhưng tình cờ tâm trạng của người lính trong bài thơ đã trùng với tâm trạng chung của hàng triệu người lính đang chiến đấu trên mặt trận, vì vậy “Đợi Anh Về” (“Жди меня”) đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở Liên Xô và sau đó là nhiều quốc gia khác trên thế giới.

Trong thời gian chiến tranh, Simonov còn sáng tác vở kịch “Người Nga” (“Russkiye Liudi”), tập truyện ngắn “Ngày và Đêm” (“Dni i Nochi”) (1943 – 1944) là hai tác phẩm xuất sắc của Văn Học Nga trong giai đoạn này. Ông còn ghi chép nhiều ký sự chiến trường, các tác phẩm này đều được xuất bản trên tờ Krasnaya Zvezda.

Nghệ sĩ Valentina Serova.
Nghệ sĩ Valentina Serova.

Sau năm 1945, Simonov là Tổng Biên Tập của tạp chí Thế Giới Mới (Novy Mir) từ năm 1946 đến 1950 và 1954 đến 1958, ông còn là Tổng Biên Tập của tờ Văn Học (Literaturnaya Gazeta) từ năm 1950 đến năm 1953. Konstantin Simonov còn được bầu là Thư ký Hội Nhà Văn Liên Xô trong hai giai đoạn 1946 – 1959 và 1967 -1979.

Năm 1952, Simonov sáng tác cuốn tiểu thuyết chiến tranh đầu tiên, tác phẩm “Bạn Chiến Đấu”. Sau đó là hai tiểu thuyết khác cũng về đề tài Thế Chiến Thứ Hai, Những người sống và những người chết (1959) và “Người Ta Sinh Ra Không Phải Đã Là Lính” (1963 – 1964). Năm 1970 ông cho ra đời tác phẩm “Mùa Hè Cuối Cùng”. Ông cũng đã viết kịch bản một số bộ phim dựa trên chính những tác phẩm này.

Năm 1972, Simonov sang thăm Việt Nam và viết tác phẩm ký sự về cuộc chiến tranh khốc liệt ở đây mang tên “Nỗi Khổ Không Của Riêng Ai” và sau đó là tập thơ “Việt Nam, mùa Đông năm bảy mươi”. Đây là những tác phẩm cuối cùng trong cuộc đời sáng tác của Simonov.

Konstantin Simonov qua đời tại Moskva ngày 28 tháng 8 năm 1979.

Bài thơ “Đợi Anh Về” (tiếng Nga: “Жди меня”) của ông, là một trong những bài thơ nổi tiếng của Nga trong giai đoạn chiến tranh thế giới thứ hai. Bài thơ được sáng tác vào năm 1941 sau khi ông tạm biệt vợ ông, nữ nghệ sĩ Valentina Serova, để lên đường thực hiện nghĩa vụ chiến đấu nơi tiền tuyến.

Bài thơ đã được ông Tố Hữu dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt vào khoảng năm 1949 – 1950 và đã được nhạc sĩ Văn Chung phổ nhạc.

Nhạc sĩ Văn Chung.
Nhạc sĩ Văn Chung.

Nhạc sĩ Văn Chung (1914 – 1984) thuộc thế hệ tiên phong của nền tân nhạc Việt Nam, ông là tác giả của nhạc phẩm nổi tiếng “Bóng Ai Qua Thềm”.

Nhạc sĩ Văn Chung tên thật là Mai Văn Chung, sinh ngày 20 tháng 6 1914, quê quán ở Phù Tiên, Hải Hưng, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Ông khởi đầu con đường âm nhạc với những kiến thức ít ỏi tự học, ông chơi mandoline, contrebasse cho các tiệm nhảy ở Hà Nội.

Sau đó ông cùng NS Lê Yên và NS Doãn Mẫn thành lập nhóm Tricéa, cùng nhau trình diễn và sáng tác. Năm 1935 ông viết bản nhạc đầu tay “Tiếng Sáo Chăn Trâu”.

Cùng lúc ông sinh hoạt với các thành viên trong nhóm Tricéa, ông tiếp tục sáng tác những bản như:

– Bên Hồ Liễu (1936)
– Bóng Ai Qua Thềm (1937)
– Hồ Xuân và Thiếu Nữ (1939)

Ngoài ra, ông còn tham gia Đoàn kịch Anh Vũ với những nghệ sĩ nổi tiếng như Thế Lữ, Song Kim, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Xuân Khoát…

Trong khoảng thời gian 1945-1954, ông sáng tác không nhiều và không có ca khúc nào gây được tiếng vang. Từ 1964 ông là giám đốc Nhà hát Giao hưởng – Hợp xướng – Nhạc vũ kịch Việt Nam.

Nhạc sĩ Văn Chung đã cho thiếu nhi Việt Nam một di sản âm nhạc với nhiều ca khúc thành công như:

– Lỳ và Sáo
– Lượn Tròn Lượn Khéo
– Đếm Sao
– Trăng Theo Em Rước Đèn
– Trăng Xinh Ngoan…

và một vài kịch hát:

– Sói xám ăn gì?
– Miu vàng của mẹ
– Những đoá hoa xuân…

Ông còn viết một số nhạc phẩm cho khí nhạc như:

– Tiếng Sáo Quê Hương (cho Flute)
– Hương Lúa (cho Piano)

nhạc cho kịch thơ:

– Lam Sơn tụ nghĩa… và nhạc cho một số bộ phim.

Nhạc sĩ Văn Chung mất ngày 27 tháng 8 năm 1984 tại Hà Nội.

vanchung_bìa

Thi phẩm “Đợi Anh Về” (Жди меня – Thi sĩ Konstantin Mikhailovich Simonov – bản dịch Tố Hữu)

Em ơi đợi anh về
Đợi anh hoài em nhé
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Em ơi em cứ đợi.
Dù tuyết rơi gió thổi
Dù nắng cháy em ơi
Bạn cũ có quên rồi
Đợi anh về em nhé!
Tin anh dù vắng vẻ
Lòng ai dù tái tê
Chẳng mong chi ngày về
Thì em ơi cứ đợi!

Em ơi em cứ đợi
Dù ai thương nhớ ai
Chẳng mong có ngày mai
Dù mẹ già con dại
Hết mong anh trở lại
Dù bạn viếng hồn anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén tình dốc cạn
Thì em ơi mặc bạn
Đợi anh hoài em nghe
Tin rằng anh sắp về!
Đợi anh anh lại về.
Trông chết cười ngạo nghễ.

Ai ngày xưa rơi lệ
Hẳn cho sự tình cờ
Nào có biết bao giờ
Bởi vì em ước vọng
Bời vì em trông ngóng
Tan giặc bước đường quê
Anh của em lại về.
Vì sao anh chẳng chết?
Nào bao giờ ai biết
Có gì đâu em ơi
Chỉ vì không ai người.
Biết như em chờ đợi.

Bản tiếng Pháp:

Attends-moi (Konstantin Mikhailovich Simonov – 1941)

Si tu m’attends, je reviendrai,
Mais attends-moi très fort.
Attends, quand la pluie jaune
Apporte la tristesse,
Attends quand la neige tournoie,
Attends quand triomphe l’été
Attends quand le passé s’oublie
Et qu’on attend plus les autres.
Attends quand des pays lointains
Il ne viendra plus de courrier,
Attends, lorsque seront lassés
Ceux qui avec toi attendaient.

Si tu m’attends, je reviendrai.
Ne leur pardonne pas, à ceux
Qui vont trouver les mots pour dire
Qu’est venu le temps de l’oubli.
Et s’ils croient, mon fils et ma mère,
S’ils croient, que je ne suis plus,
Si les amis las de m’attendre
Viennent s’asseoir auprès du feu,
Et s’ils portent un toast funèbre
A la mémoire de mon âme..
Attends. Attends et avec eux
refuse de lever ton verre.

Si tu m’attends, je reviendrai
En dépit de toutes les morts.
Et qui ne m’a pas attendu
Peut bien dire : “C’est de la veine”.
Ceux qui ne m’ont pas attendu
D’où le comprendraient-ils, comment
En plein milieu du feu,
Ton attente
M’a sauvé.
Comment j’ai survécu, seuls toi et moi
Nous le saurons,
C’est bien simple, tu auras su m’attendre,
comme personne.

Bản tiếng Anh:

Wait For Me (Konstantin Mikhailovich Simonov – 1941)

Wait for me, and I will return.
Only truly wait.
Wait while bringing sorrow
The autumn rains come late.
Wait while snow is blowing,
Wait while heat burns haze,
Wait while others cease to wait,
Forgetting yesterdays.
Wait when letters cease to come
From places far away,
Wait, while others tire of waiting
Together day after day.

Wait for me, and I will return.
Wish no good to those you’ve met
Who tell you, without thinking,
That it is time to forget.
Let my son and mother believe
That I have met my doom,
Let my friends all quit their hopes,
In the fire-lit gloom
Let them drink their bitter wine,
In memoriam…
Wait. Oh, do not hasten
To sit and drink with them.

Wait for me, and I will return,
Despite all death can do.
Let those who didn’t wait for me
Say “Just lucky he came through.”
Those who didn’t wait can’t know
How, while battle blazed,
Just by waiting for your own
Me you truly saved.
We will know how I survived
Only just us two:
Simply, you knew how to wait
As no one else could do

Nguyên bản tiếng Nga:

Жди меня, и я вернусь (Konstantin Mikhailovich Simonov – 1941)

Жди меня, и я вернусь.
Только очень жди,
Жди, когда наводят грусть
Желтые дожди,
Жди, когда снега метут,
Жди, когда жара,
Жди, когда других не ждут,
Позабыв вчера.
Жди, когда из дальних мест
Писем не придет,
Жди, когда уж надоест
Всем, кто вместе ждет.

Жди меня, и я вернусь,
Не желай добра
Всем, кто знает наизусть,
Что забыть пора.
Пусть поверят сын и мать
В то, что нет меня,
Пусть друзья устанут ждать,
Сядут у огня,
Выпьют горькое вино
На помин души…
Жди. И с ними заодно
Выпить не спеши.

Жди меня, и я вернусь,
Всем смертям назло.
Кто не ждал меня, тот пусть
Скажет: – Повезло.
Не понять, не ждавшим им,
Как среди огня
Ожиданием своим
Ты спасла меня.
Как я выжил, будем знать
Только мы с тобой,-
Просто ты умела ждать,
Как никто другой.
(1941)

vanchung_ĐAV1

vanchung_ĐAV2

Thi khúc “Đợi Anh Về” (Nhạc sĩ Văn Chung)

Em ơi ! Đợi anh về ! Đợi anh hoài em nhé,
mưa có rơi dầm dề, ngày có buồn lê thê
thì em ơi em cứ đợi …

Em ơi ! em cứ đợi dù tuyết rơi bão nổi,
dù nắng cháy em ơi …!
Bạn cũ đã quên rồi, đợi anh hoài em nhé.
Tin ai dù vắng vẻ, lòng ai dù tái tê,
chẳng mong chi ngày về
thì em ơi em cứ đợi …

Đợi anh, anh lại về trong chết cười ngạo nghễ
đợi anh, anh lại về trong chết cười ngạo nghễ

Ai ngày xưa rơi lệ hẳn cho sự tình cờ
ai ngày xưa rơi lệ, nào có biết bao giờ
nào có biết bao giờ bởi vì em ước mong,
nào có biết bao giờ bởi vì em trông ngóng

Trông cho tan giặc bước đường quê
anh của em lại về…
Anh của em lại về
Anh của em lại về.

Dưới đây mình có bài:

– Nhân đọc lại một bản dịch bài thơ nổi tiếng của Konstantin Mikhailovich Simonov

Cùng với 2 clips thi khúc “Đợi Anh Về” (“Жди меня”, “Attends-moi”, “Wait For Me”) do ca nhạc sĩ Phạm Ngọc Lân và Ban Hợp Ca Thăng Long trình bày để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Thi sĩ Konstantin Mikhailovich Simonov.
Thi sĩ Konstantin Mikhailovich Simonov.

Nhân đọc lại một bản dịch bài thơ nổi tiếng của Konstantin Mikhailovich Simonov

(Thân Trọng Sơn)

Nguyên tác bài thơ này là tiếng Nga, với nhan đề “Жди меня” của nhà thơ ( nhà văn, nhà biên kịch ) КонстантинМихайловичСимонов ( Konstantin Mikhailovich Simonov , 1915 – 1979 ) sáng tác năm 1941, dành tặng cho người yêu là nghệ sĩ Valentina Serova. Bài thơ ra đời trong thời gian phát xít Đức dữ dội tấn công Liên Xô. Trong thời kỳ chiến tranh, bài thơ đã được phổ biến rộng rãi và dịch ra nhiều thứ tiếng, vì tâm trạng của nhà thơ cũng là tâm trạng của bao nhiêu thanh niên ra mặt trận, với lời nhắn gởi về người yêu, người vợ ở hậu phương.

Bản dịch tiếng Việt đầu tiên là của Tố Hữu, ” Đợi Anh về ” , dịch từ bản tiếng Pháp, ban đầu được phổ biến trên báo chí từ năm 1949, sau được đưa in vào trong tập thơ Việt Bắc.

Ở miền Nam ít người tiếp cận được bài thơ dịch này nhưng lại được nghe bài ca cùng tên do nhạc sĩ Văn Chung ( 1914-1984 ) phổ nhạc, qua tiếng hát Elvis Phương:

Em ơi ! Đợi anh về ! Đợi anh hoài em nhé,
mưa có rơi dầm dề, ngày có buồn lê thê
thì em ơi em cứ đợi…
Em ơi ! em cứ đợi dù tuyết rơi gió nổi,
dù nắng cháy em ơ …! (1)
Bạn cũ đã quên rồi, đợi anh hoài em nhé.
Tin anh dù vắng vẻ, lòng ai dù tái tê,
chẳng mong chi ngày về
thì em ơi em cứ đợi …
Đợi anh, anh lại về trong tiếng cười ngạo nghễ
đợi anh, anh lại về trong tiếng cười ngạo nghễ
Ai ngày xưa rơi lệ hẳn cho sự tình cờ
ai ngày xưa rơi lệ, nào có biết bao giờ
nào có biết bao giờ bởi vì em ước mong,
nào có biết bao giờ bởi vì em trông ngóng
Trông cho tan giặc bước đường quê (2)
anh của em lại về …
Anh của em lại về
Anh của em lại về.

Sau này, khi có điều kiện đọc được toàn vẹn bài thơ dịch của Tố Hữu, ta có thể nhận thấy rằng, cũng như nhiều nhạc sĩ khác đã làm khi phổ thơ, Văn Chung không lấy nguyên văn toàn bài thơ. Có lẽ vì muốn nhấn mạnh ở cái tâm trạng lạc quan, tin tưởng của người chiến sĩ ở mặt trận – tin ở ngày chiến thắng sẽ đến, tin ở sự chờ đợi thủy chung của người yêu – nên nhạc sĩ đã chuyển đoạn nhạc cuối sang nhịp điệu hùng mạnh, dồn dập và kết thúc bằng cách lặp lại “Anh của em lại về”. Người nghe nhạc có thể thỏa mãn, nhưng người đã đọc thơ lại tiếc vì nhạc sĩ đã bỏ mất cái tứ rất đắt ở đoạn kết bài thơ.

Ceux qui ne m’ont pas attendu
D’où le comprendraient-ils, comment
En plein milieu du feu,
Ton attente
M’a sauvé.
Comment j’ai survécu, seuls toi et moi
Nous le saurons,
C’est bien simple, tu auras su m’attendre,
comme personne.

Không đợi, làm sao họ biết
Giữa làn đạn lửa bom mưa
Việc em trông ngóng đợi chờ
Đã cứu cho anh khỏi chết.
Em ạ, chỉ đôi ta thôi
Hiểu nhờ đâu anh sống sót :
Đơn giản vì em biết đợi
Không như bao nhiêu người khác.
(TTS dịch)

Bài thơ dịch của Tố Hữu:

Đợi Anh về

Em ơi, đợi anh về
Đợi anh hoài em nhé,
Mưa cứ rơi dầm dề
Ngày cứ dài lê thê
Thì em ơi cứ đợi.
Dù tuyết rơi gió nổi
Dù nắng cháy em ơi
Bạn cũ có quên rồi
Đợi anh hoài em nhé.
Tin anh dù vắng vẻ,
Lòng ai dù tái tê
Chẳng mong chi ngày về
Thì em ơi, cứ đợi.
Em ơi, em cứ đợi
Dù ai nhớ thương ai
Chẳng mong có ngày mai
Dù mẹ già con dại
Hết mong anh trở lại
Dù bạn viếng hồn anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén tình dốc cạn
Thì em ơi mặc bạn
Đợi anh hoài em nghe
Tin rằng anh sắp về!
Đợi anh, anh lại về
Trông chết cười ngạo nghễ
Ai ngày xưa rơi lệ
Hẳn cho sự tình cờ
Nào có biết bao giờ
Bởi vì em ước vọng,
Bởi vì em trông ngóng
Tan giặc, bước đường quê
Anh của em lại về.
Vì sao anh chẳng chết
Nào bao giờ ai biết
Có gì đâu em ơi
Chỉ vì không ai người
Biết như em chờ đợi.

Tố Hữu dịch bài thơ này từ bản tiếng Pháp. Tra cứu trên mạng ta có thể tìm thấy nhiều bản dịch tiếng Anh khác nhau nhưng chỉ có một bản tiếng Pháp duy nhất, không ghi tên người dịch.

Attends-moi (Simonov, 1941)

Si tu m’attends, je reviendrai,
Mais attends-moi très fort.
Attends, quand la pluie jaune
Apporte la tristesse,
Attends quand la neige tournoie,
Attends quand triomphe l’été
Attends quand le passé s’oublie
Et qu’on attend plus les autres.
Attends quand des pays lointains
Il ne viendra plus de courrier,
Attends, lorsque seront lassés
Ceux qui avec toi attendaient.
Si tu m’attends, je reviendrai.
Ne leur pardonne pas, à ceux
Qui vont trouver les mots pour dire
Qu’est venu le temps de l’oubli.
Et s’ils croient, mon fils et ma mère,
S’ils croient, que je ne suis plus,
Si les amis las de m’attendre
Viennent s’asseoir auprès du feu,
Et s’ils portent un toast funèbre
A la mémoire de mon âme..
Attends. Attends et avec eux
refuse de lever ton verre.
Si tu m’attends, je reviendrai
En dépit de toutes les morts.
Et qui ne m’a pas attendu
Peut bien dire : “C’est de la veine”.
Ceux qui ne m’ont pas attendu
D’où le comprendraient-ils, comment
En plein milieu du feu,
Ton attente
M’a sauvé.
Comment j’ai survécu, seuls toi et moi
Nous le saurons,
C’est bien simple, tu auras su m’attendre,
comme personne.

Các bản dịch đều khá trung thành với nguyên tác, kể cả phần bố cục. Nhan đề các bài thơ dịch đều sát với nguyên tác tiếng Nga “Ждименя” (Attends-moi , Wait for me, Hãy đợi anh). Ждименя được lặp lại ở câu đầu của cả ba khổ thơ: “Ждименя, ия вернусь.” Hãy đợi anh, và anh sẽ trở về. Жди, thức mệnh lệnh của động từ җдaть, sau đó còn được lặp lại sáu lần trong khổ thơ thứ nhất. Hãy đợi anh, hãy đợi, hãy đợi, hãy đợi …

Đó là lời nhắn gởi, gần như là lời cầu khẩn thiết tha, của người chiến sĩ ngoài mặt trận với người vợ / người yêu ở hậu phương, với lòng mong mỏi, niềm tin tưởng rằng sự chờ đợi kiên trì của người ở lại sẽ giúp anh vượt qua hiểm nguy, gian khổ để trở về. Điều đáng ngạc nhiên là bản dịch tiếng Pháp sau nhan đề Attends-moi dịch đúng nguyên tác Жди меня thì các câu đầu của mỗi khổ đều đổi là “Si tu m’attends” Cái ý nhắn gởi, hứa hẹn, động viên … của Жди меня, “Hãy đợi anh”, mà chuyển thành “Si tu m’attends” “Nếu em đợi anh,…” e có phần yếu đuối, bi quan quá chăng.

Tuy không tham khảo nguyên tác tiếng Nga mà chỉ căn cứ vào bản tiếng Pháp để dịch, Tố Hữu đã không lệ thuộc vào mệnh đề “Si tu m’attends” đó mà vẫn viết “Đợi Anh về”, “Đợi anh hoài em nhé …” Đó không phải là chi tiết duy nhất chứng tỏ tính độc lập của nhà thơ khi làm công việc chuyển ngữ. Nếu bản tiếng Pháp theo sát nguyên tác ở hình thức một bài thơ ba khổ, mỗi khổ mười hai câu, thì “Đợi anh về” lại là một bài có tám khổ thơ với số câu mỗi khổ không đều nhau. Bài dịch, với thể thơ năm chữ, thoát ra hẳn văn bản gốc, nhất là với những lối diễn đạt, những hình ảnh quen thuộc, gần gũi với thơ Việt.

– Em ơi em cứ đợi
Em ơi, đợi anh về
– Tan giặc, bước đường quê
Anh của em lại về.

Và đây nữa, chẳng ai nghĩ là thơ dịch:

Mưa cứ rơi dầm dề
Ngày cứ dài lê thê.

Hai câu này chuyển từ:

Attends, quand la pluie jaune
Apporte la tristesse.

La pluie jaune, cơn mưa vàng, hình ảnh này chưa thấy trong thơ Pháp, trong tiếng Pháp. Cũng phải thôi vì dịch giả Pháp đã dịch sát từ nguyên tác tiếng Nga:

Жди, когданаводятгрусть
Желтые дожди,
Pluie jaune, mưa vàng, chính là желтыедожди đó.

Đọc tiếp những câu sau, ta có thể hiểu được, qua mạch văn, ý tứ của người chiến sĩ nhắn gởi người ở nhà hãy kiên trì chờ đợi bất chấp biến chuyển của thiên nhiên, qua dòng chảy của thời gian, qua tuyết đông, nắng hạ. Vậy thì mưa vàng chính là mưa mùa thu, khi cảnh vật âm u, vàng vọt, gợi nên nỗi sầu không dứt. Phải chăng với cách hiểu như thế mà một dịch giả tiếng Anh đã thêm vào tính từ “dreary” (là thê lương, ảm đạm) không có trong nguyên tác:

(Wait for me, and I’ll come back !
Wait with all you’ve got)
Wait, when dreary yellow rains
Tell you, you should not.

Tố Hữu đã thoát khỏi những hình ảnh xa lạ đó bằng hai câu “Mưa cứ rơi dầm dề / Ngày cứ dài lê thê”, đọc lên nghe như thơ sáng tác chứ không phải thơ dịch.

Ở những ví dụ nêu trên, lối dịch thoát như thế có thể tạo được sự đồng cảm nơi người đọc vì dù sao ý tưởng, tâm trạng của tác giả vẫn được tôn trọng, chỉ có cách diễn đạt là khác thôi. Tuy nhiên, khi đọc tiếp những khổ thơ sau thì người đọc khó chia sẻ được với chủ ý của dịch giả.

Dù bạn viếng hồn Anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén tình dốc cạn
Thì Em ơi mặc bạn
Đợi anh hoài nghe em
Tin rằng anh sắp về.

Đối chiếu với văn bản gốc dưới đây thì sáu câu thơ dịch trên, do “thoát” quá xa nên có phần mất đi sự tinh tế, ý nhị, nhất là ở hai câu: “Yên nghỉ nấm mồ xanh / Nâng chén tình dốc cạn”

Si les amis las de m’attendre
Viennent s’asseoir auprès du feu,
Et s’ils portent un toast funèbre
A la mémoire de mon âme..
Attends. Attends et avec eux,
refuse de lever ton verre.

Cho dù bằng hữu bỏ cuộc
Ngồi bên bếp lửa quây quần
Cùng nhau uống ly rượu đắng
Tưởng niệm linh hồn bạn thân
Thì em cũng hãy cứ chờ
Đừng vội cùng người nâng cốc !
(TTS dịch)

Hãy đọc thêm khổ thơ tiếp theo:

Đợi anh, anh lại về
Trông chết cười ngạo nghễ
Ai ngày xưa rơi lệ
Hẳn cho sự tình cờ.

Dù ủng hộ mọi sáng tạo của nhà thơ khi chuyển ngữ, người đọc vẫn thấy có gì đó không ổn trong câu “trông chết cười ngạo nghễ”: trong tiếng Việt động từ “chết” nếu dùng như danh từ phải nói là “cái chết, sự chết”, trông (nhìn) cái chết, chứ nói “trông chết” nghe sao kỳ kỳ ! Chỗ này bản tiếng Pháp là “en dépit de toutes les morts”, và bản tiếng Anh “despite all death can do”, gần sát với nguyên tác tiếng Nga “Всем смертямназло”, trêu ngươi mọi cái chết. Có lẽ cũng vì thấy điều này nên nhạc sĩ Văn Chung khi phổ nhạc bài thơ này đã sửa thành “trong tiếng cười ngạo nghễ” để giữ được tiếng Việt trong sáng, nhưng tiếc thay lại làm mất đi cái ý trêu ngươi / xem thường / bất chấp mọi cái chết.

Mạch cảm xúc đã đẩy người dịch đi quá xa ở hai câu tiếp theo “Ai ngày xưa rơi lệ / Hẳn cho sự tình cờ”, cả tình lẫn ý không gắn với nội dung toàn bài, không hề có trong nguyên tác, cũng không thấy trong bất kỳ một bản dịch nào.

Một vài từ, một vài câu, một vài ý đọc được trong bản dịch mà khi đối chiếu với nguyên bản thấy hoàn toàn xa lạ, điều này vẫn thường xảy ra bởi, suy cho cùng, trong dịch thuật văn học, việc trung thành tuyệt đối với văn bản gốc là điều khó có thể thực hiện được. Người dịch quan tâm nhiều nhất đến việc chuyển tải nội dung, ý nghĩa của văn bản gốc bằng sự diễn đạt qua một ngôn ngữ khác với tất cả những đặc trưng về ngữ nghĩa, cú pháp, phong cách… của nó. Mỗi ngôn ngữ lại có cách thể hiện riêng cho nên thử thách lớn nhất – nếu không nói là rủi ro lớn nhất – của người dịch là việc không trung thành với nguyên tác về nội dung hay hình thức, về văn phong hay ý nghĩa, về tư duy hay tình cảm. Có vẻ như phần lớn dịch giả chuộng một bản dịch “đẹp” hơn một bản dịch “sát” bởi ai cũng muốn bản dịch của mình cũng là một tác phẩm nghệ thuật đích thực.

Thử dịch lại bài này với chủ ý gần sát với nguyên tác nhất có thể:

HÃY ĐỢI ANH

Đợi anh em nhé, anh về,
Vững lòng chờ đợi, em nhé,
Hãy đợi, khi mưa thu vàng
Gợi lòng người buồn tái tê.
Hãy đợi, khi đông tuyết giá,
Hãy đợi, khi hạ nắng thiêu,
Hãy đợi, khi qua ngày tháng,
Không còn ai chờ đợi ai.
Hãy đợi, khi từ xa lắc
Thư tin chẳng mấy khi về
Hãy đợi, khi người cùng cảnh
Chán chê, chẳng thiết đợi chờ.

Đợi anh em nhé, anh về,
Những điều tốt đẹp đừng chúc
Cho ai vẫn tâm niệm rằng
Đến nay quên là phải lúc.
Cho dù cả con và mẹ
Đều tin là anh không còn.
Cho dù bằng hữu bỏ cuộc
Ngồi bên bếp lửa quây quần
Cùng nhau uống ly rượu đắng
Tưởng niệm linh hồn bạn thân
Thì em cũng hãy cứ chờ
Đừng vội cùng người nâng cốc !

Đợi anh em nhé, anh về,
Kiêu hãnh nhạo cười cái chết
Cứ để ai không chờ đợi
Buông lời : Chỉ may đấy thôi !
Không đợi, làm sao họ biết
Giữa làn đạn lửa bom mưa
Việc em trông ngóng đợi chờ
Đã cứu cho anh khỏi chết.
Em ạ, chỉ đôi ta thôi
Hiểu nhờ đâu anh sống sót:
Đơn giản vì em biết đợi
Không như bao nhiêu người khác.
(KONSTANTIN SIMONOV, 1941 – THÂN TRỌNG SƠN dịch theo bản tiếng Anh: “Wait For Me”. Tham khảo bản tiếng Pháp: Attends-moi)

“Wait For Me” – (Konstantin Simonov, 1941)

Wait for me, and I will return.
Only truly wait.
Wait while bringing sorrow
The autumn rains come late.
Wait while snow is blowing,
Wait while heat burns haze,
Wait while others cease to wait,
Forgetting yesterdays.
Wait when letters cease to come
From places far away,
Wait, while others tire of waiting
Together day after day.

Wait for me, and I will return.
Wish no good to those you’ve met
Who tell you, without thinking,
That it is time to forget.
Let my son and mother believe
That I have met my doom,
Let my friends all quit their hopes,
In the fire-lit gloom
Let them drink their bitter wine,
In memoriam…
Wait. Oh, do not hasten
To sit and drink with them.

Wait for me, and I will return,
Despite all death can do.
Let those who didn’t wait for me
Say “Just lucky he came through.”
Those who didn’t wait can’t know
How, while battle blazed,
Just by waiting for your own
Me you truly saved.
We will know how I survived
Only just us two:
Simply, you knew how to wait
As no one else could do

(THÂN TRỌNG SƠN – 8/2010)

oOOo

Đợi Anh Về – Ca nhạc sĩ Phạm Ngọc Lân:

 

Đợi Anh Về – Ban Hợp Ca Thăng Long:

 

Một suy nghĩ 4 thoughts on “Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Đợi Anh Về” – Konstantin Mikhailovich Simonov & Văn Chung”

  1. Bài thơ hay tuyệt Hương nhỉ. Hình ảnh sức mạnh của tình yêu và sự chết chóc bất định của chiến tranh đã được thi sĩ Konstantin Mikhailovich Simonov diễn tả một cách thiết thực nhất. Chính vì vậy mà bài thơ đã rất phổ biến thời đó đến nay và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Chị cũng rất thích bài thơ này như em.

    Cám ơn em luôn chúc lành cho anh chị. Bình an Thiên Chúa luôn ở cùng em Hương nghe.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s