Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc

Vương Trí Nhàn Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 7-8 (114-115).2014
10:31′ SA – Thứ ba, 03/02/2015


(Sách giáo khoa miền Nam Việt Nam 1954-1975. Nguồn: HCT)

Đối chiếu với những điều bọn tôi được dạy bảo từ nhà trường phổ thông và sau này từng coi là phương hướng suy nghĩ, với các tài liệu mới đọc được, càng thấy trong khi khác biệt với GDMN, thì GDMB cũng khác nhiều so với thế giới. Đủ hiểu tại sao sau khi đào tạo trong nước, ra tiếp xúc với xã hội hiện đại, cánh học sinh sinh viên miền Bắc bọn tôi thường ú ớ, lạc lõng, trong khi những người được GDMN đào tạo thì hội nhập rất tự nhiên và hiệu quả.

Đọc tiếp trên CVD

Một suy nghĩ 3 thoughts on “Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc”

  1. Liệu tác giả bài viết có quá thiếu khách quan và bóp méo lịch sử không nhỉ?

    Điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến cách nhìn nhận của thế hệ sau 8x. Việc phát triển giáo dục ở một đất nước vô cùng nghèo và vừa độc lập đã phải đối mặt với vô số khó khăn bên trong và bên ngoài không tránh khỏi những sai lầm là điều tất yếu, tuy nhiên thay vì bới móc những thất bại nhất thời để làm mờ đi những thành công căn bản đã đạt được tại sao không nghĩ kế để khắc phục. Vì vậy tôi có một vài chia sẻ cá nhân đến trong tức thời muồn chia sẻ cùng các bạn. Có thể hầu hết những gì tôi viết dưới đây mọi người đều biết, nhưng không phải ai cũng đã trải nghiệm qua. Cách nhìn chủ quan của tôi có thể khác nhiều với tác giả bài viết trên nhưng hy vọng các bạn có cái nhìn đa chiều hơn khi phán xét.
    Trước hết xét về lịch sử, lịch sử Việt nam chuyển rất nhanh từ giai đoạn phong kiến – thuộc địa sang thành một nước độc lập về mọi mặt. Từ 1945 trở đi, đất nước vừa độc lập chúng ta có gì trong tay và phải đối mặt với những gì. Một quốc gia non trẻ không có lương thực, tài sản, không vũ khí và 95% dân vừa thoát cảnh nô lệ nghèo đói không biết chữ. Ngay tại thời điểm này, chính phủ đã thực hiện phong trào “Bình dân học vụ”. Giặc dốt là vấn đề cấp bách và ưu tiên thứ 2 chỉ sau Giặc đói. Có thể nói đây là viên gạch đầu tiên cho nền giáo dục Việt Nam độc lập. Tuy nhiên chúng ta không có được thuận lợi xây dựng hệ thống giáo dục một cách bài bản do đất nước bị chia cắt. Hậu quả dễ thấy vào giai đoạn này là phần lớn lượng trí thức do lịch sử có liên quan ít nhiều đến chế độ thực dân cũ đã di chuyển vào nam, miền bắc thiếu nhân lực và kinh phí để triển khai một hệ thống giáo dục hoàn thiện. Hai miền chịu ảnh hưởng của hai hệ tư tưởng và hệ thống giáo dục hoàn toàn khác nhau. Nếu xét về hậu thuẫn cho cả hai miền rõ ràng có một sự chênh lệch rất lớn. Sau chiến tranh Mỹ hầu như không tổn thất nếu so sánh với Liên xô, đương nhiên hậu thuẫn cho 2 miền cũng có chênh lệch rất lớn. Ngay cả cách thức hậu thuẫn cũng khác hẳn nhau, miền nam cho đến những năm 68 luôn đông đảo lực lượng quân đội mỹ, nhất là đội ngũ cố vấn tình báo mỹ can thiệp sâu vào từng bộ phận của chính quyền miền nam từ trên xuống dưới, thẩm thấu văn hóa mỹ vào mọi góc cạnh đời sống. Trong khi đó hậu thuẫn chính của miền bắc là Liên Xô và Trung Quốc cùng đối mặt với vô số những khó khăn bên trong như xây dựng lại đất nước sau chiến tranh, nạn đói khủng khiếp… khiến những hậu thuẫn đối với miền bắc thực sự nhỏ bé so với miền nam. Cuộc chiến tranh đã làm phần lớn nhân lực tại miền bắc nhập ngũ để lấy số lượng bù đắp cho sự thua sút về trang bị kỹ thuật, vũ khí, phương tiện chiến tranh. Vì vậy giai đoạn này miền bắc chỉ có được 1 bộ phận tri thức nhỏ được tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến hơn tại các nước xã hội chủ nghĩa. Hầu như toàn bộ nguồn lực của miền bắc phải dồn cho cuộc chiến khiến cho những hoạt động khác phải hoạt động trong một giới hạn cực kỳ hạn hẹp về kinh phí.
    Một điễm quan trọng mà tác giả bài viết trên chưa đề cập được là làm cách nào lãng đạo Đảng và Chính phủ Việt Nam lại có thể tập hợp được sức lực và sự quan tâm của toàn dân để giải phóng đất nước. Nhất là khi những người dân còn mang nặng tư tưởng cổ hủ, phong kiến, lạc hậu.
    Từ 1975 hai miền thống nhất nhưng đất nước đối mặt với việc cấm vận kéo dài hơn 20 năm, đồng thời sự bất đồng quan điểm và thay đổi về ứng xử từ phía các quốc gia đàn anh đã làm cho Việt Nam mất đi rất nhiều sự hỗ trợ như trong giai đoạn trước 75. đội ngũ cơ sở cho phát triển tri thức và giáo dục đất nước chủ yếu từ các nước xã hội chủ nghĩa và về các lĩnh vực khoa học cho phát triển công nghiệp, kinh tế phục vụ cho giai đoạn chiến tranh. Rất ít nhân lực được đào tạo về các các nền tảng cho nghiên cứu cải tiến giáo dục như tâm lý học…. cùng với việc không có tiền để xây dựng những nền móng vững chắc cho một nền giáo dục hoàn chỉnh. Quan điểm giáo dục đáng lý phải thay đổi tại giai đoạn này nhưng bị ảnh hưởng bởi những áp lực về quan điểm phổ cập số đông, không thống nhất được quan điểm và cách thức xây dựng nền giáo dục, sức ì của hệ thống nhân lực, mâu thuẫn trong nội tại ngành giáo dục giữa kinh phí hạn chế mà số lượng giáo viên các cấp quá đông. Việc triển khai cách chương trình giáo dục theo kiểu chỉ định từ trên xuống để khắc phục việc đội ngũ giáo viên có hiểu biết, nhận thức và trình độ chuyên môn chênh lệch quá lớn chỉ mang đến hiệu quả phổ cập diện rộng. Do không đủ kinh phí nên có sự chênh lệch lớn về trình độ giáo viên tại các vùng miền, tập trung ở vài tỉnh thành lớn trong cả nước.
    Lĩnh vực kinh tế phát triển nhất ở Việt Nam trong cả một giai đoạn dài là nông nghiệp, mà đặc thù nông nghiệp của các nước XHCN cùng khối lại khác xa Việt nam nên sự hỗ trợ về lĩnh vực này cũng rất ít ỏi.
    Ngoại ngữ được phổ cập trong giai đoạn này là tiếng Nga tỏ ra khá phù hợp, vì do cấm vận nên hầu như rất ít những tài liệu khoa học các ngôn ngữ khác có thể vào được Việt nam. Vào trước những năm 2000, ngay thư viện Khoa học Kỹ Thuật ở Lý Thường Kiệt Hà Nội cũng chỉ có một vài đầu tạp chí tiếng Anh dạng gần miễn phí còn các sách tiếng anh thì chủ yếu là các sách cũ được in trước năm 70 thu được ở miền nam khi giải phóng.
    Trong khi đó các sách từ phe XHCN cũng chủ yếu từ trước năm 90 là thời điểm sụp đổ của các nước đông âu. Nói cách khác thời gian khoảng 1 thập kỹ này rất ít tri thức được chuyển giao vào Việt Nam. Việc thiếu hụt những nền tảng khoa học cơ bản cho việc xây dựng một hệ thống chương trình giáo dục khiến cho công việc này phải dựa vào chủ quan của một số cá nhân dẫn đến hậu quả tất yếu là sự sơ sài, thiếu sót và kém hệ thống.
    Vậy liệu chúng ta có nên xem xét đúng mực những yếu tố khách quan và chủ quan đã ảnh hưởng đến hệ thống giáo dục Việt Nam không? Một số vấn đề tôi nghĩ là cần nhận xét kỹ hơn như:
    – Thời điểm nào có thể coi là vạch xuất phát để xây dựng một hệ thống giáo dục đồng bộ và hoàn chỉnh ở Việt Nam, và như vậy chúng ta đã có bao nhiêu năm để xây dựng hệ thống giáo dục?
    – Mặc dù tiếng Anh đã được đưa vào chương trinh giáo dục phổ thông vào những năm 90 nhưng cũng cần chú ý rằng thời điểm này cả nước có bao nhiêu giáo viên dạy tiếng Anh!
    – Tại sao Việt Nam không bắt chước Hàn Quốc bệ nguyên chương trình của Nhật Bản vào hệ thống giáo dục trừ hai môn lịch sử và ngữ văn?
    – Làm sao để đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục trong điều kiện kinh phí hạn chế, vừa đối mặt với sự trì trệ của một bộ phân nhân lực ở các cấp?
    – Con đường nào nhanh nhất để rút ngắn khoảng cách trí tuệ giữa Việt Nam với các nước phát triển và để từng bước xây dựng được nền kinh tế tri thức?
    – Làm sao để sức sáng tạo của đội ngũ tri thức có thể gắn được với cuộc sống chứ không còn nằm trên giấy hoặc chỉ dành để giải ngân?
    – Làm sao có thể thu hút được trí tuệ và sức lực của những người Việt ở khắp thế giới đóng góp xây dựng đất nước?

    Đã thích bởi 1 người

  2. Cảm ơn bạn Khoadb có những chia sẻ rất hay.

    Mình có cảm tưởng các khó khăn kinh tế, kỹ thuật, hay ngân sách chỉ là một phần phụ của vấn đề. Mình nghĩ vấn đề chính nằm ở “môi trường tư duy” và “môi trường làm việc”.

    – Môi trường tư duy có nghĩa là chúng ta (nhà nước/Đảng) tạo được môi trường tư duy rộng mở và tự do đến đâu. Đương nhiên “rộng mở và tự do” luôn phải nằm trong khuôn khổ luật pháp của từng quốc gia, tùy theo mức phát triển xã hội và luật pháp của mỗi quốc gia. Nhưng “rộng mở và tự do” vẫn là chuẩn của sáng tạo và tiến triển. Giáo dục tư duy một chiều đương nhiên là cản trở sáng tạo – một chiều trong các vấn đề xã hội cũng có thể cản trở sáng tạo trong kỹ thuật vì làm cho con người quen tư duy không sáng tạo. Trong vấn đề Đại Học, “Đại Học tự trị” là một phần cực lớn của tư duy sáng tạo.

    – Môi trường làm việc có nghĩa là chúng ta có kéo mọi người vào làm việc cùng nhà nước hay không, hay nhà nước ôm đồm hết.

    Hai mươi năm trước trong những cuộc nói chuyện với Bộ trưởng Giáo Dục Trần Hồng Quân, mình nói nhiều về nhà nước nên mời gọi các tôn giáo làm việc cùng, vì trước năm 1975 các Đại Học do các tôn giáo làm chủ (Đại Học Đà Lạt, Đại Học Minh Đức của Công giáo, Đại Hoc Vạn Hạnh của Phật giáo, Đại Học Cao Đài, Đại Học Hòa Hảo) là những Đại Học tư rất có uy tín. Các tôn giáo tự nhiên rất trọng giáo dục, và không mở trường bừa bãi, và các môn hoc thường chẳng có mùi tôn giáo chút nào. Thúc đẩy các trường tư (hay bệnh viện tư) của các tôn giáo sẽ giúp phát triển Đại Học rất tốt (và y tế), lại cho các tôn giáo cơ hội góp tay trực tiếp vào giáo dục (và y tế).

    Tuy nhiên nhà nước/’Đảng có tư duy khác về các tôn giáo nên luôn chần chờ về việc này.

    – Một điều nữa là tham nhũng, phong bì, thầy cô sách nhiễu quà cáp, học thêm… là việc chẳng hề thấy trước kia. Sự sụp đổ về đạo đức này nếu nói là do nghèo thì không đúng. “Ông đồ nghèo” trong lịch sử nước ta vẫn luôn luôn thanh liêm. Điều này có liên hệ đến sự sụp đổ đạo đức toàn diện. Đây là điều chúng ta cần suy nghĩ thêm vì nó không đơn giản chút nào.

    Mến,

    Hoành

    Đã thích bởi 1 người

  3. tôi cho rằng dù giáo dục M Bắc Hay M nam có định hướng gì đi chăng nữa, thì mỗi người chúng ta vẫn phải tự thân vận động mà tìm thấy chân lý. Tôi nói đơn giản thế này, thời chống Mỹ, Lãnh đạo M bắc cấm nghe đài địch, thậm chí đài BBC, RFI cũng cấm và cấm luôn cả nghe nhạc vàng. Nhưng tôi vẫn mở đài Sài Gòn, TN Hoa Kỳ, BBC, RFI, Gươm thiêng ái quốc và nhạc vàng đủ loại. Thế mà chúng tôi vẫn chả sao cả, ko hề phản động tý nào, thậm chí rất cách mang nữa là khác. Tưởng chỉ có riêng tối lén nghe thôi, chẳng ngờ sau này hỏi ra mới tỏ, rằng bạn học tôi ai cũng thế cả, nhiều anh sau này còn là cộng sản gộc nữa..
    .

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s