Thánh Ca Giáng Sinh – Trường Ca “Messiah” – George Frideric Handel

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn trường ca “Messiah” của George Frideric Handel (tiếng Đức: Georg Friedrich Händel)

“Messiah” (HWV 56) là bản oratorio tiếng Anh do George Frideric Handel sáng tác năm 1741 với nội dung dẫn ý từ Kinh Thánh do Charles Jennens viết ca từ theo bản dịch King James, và những chương Thánh Vịnh trích từ Sách cầu nguyện chung của Anh giáo. Ra mắt công chúng tại Dublin ngày 13 tháng 4, 1742, buổi trình diễn đầu tiên tại Luân Đôn được tổ chức một năm sau đó. Từ những thành quả khiêm tốn lúc ban đầu, dần dà “Messiah” giành được sự quan tâm rộng rãi của công chúng, cuối cùng trở thành một trong những tác phẩm hợp xướng nổi tiếng nhất và được biểu diễn nhiều nhất trong nền âm nhạc phương Tây.

Từ những vở opera tiếng Ý mà thanh danh của Handel được thiết lập trên đất nước Anh, nơi ông định cư từ năm 1713. Kể từ thập niên 1730, ông quay sang viết oratorio tiếng Anh nhằm đáp ứng thị hiếu của người dân ở đây; “Messiah” là sáng tác thứ sáu của Handel viết theo thể loại này. Dù có cấu trúc tương tự với thể loại opera truyền thống, “Messiah” không phải là một vở diễn, cũng không có những vai diễn, và rất ít lời thoại. Ca từ của Jennes là những ký thuật và những trầm tư sâu lắng về cuộc đời Chúa Giêsu là Đấng Messiah (Chúa Cứu Thế), khởi đi từ những lời tiên tri của Isaiah và những nhà tiên tri khác, đến sự hóa thân thành người, sự thống khổ, và sự Phục sinh của Chúa Giêsu, tất cả đều tập trung về vinh hiển sau cùng của ngài trên thiên đàng.

Nguyên thủy, khi viết “Messiah”, Handel chỉ dành một quy mô vừa phải cho hợp xướng và các loại nhạc cụ với nhiều chọn lựa cho mỗi thể loại. Nhưng sau khi ông mất, tác phẩm đã được cải biên để trình diễn bởi những dàn giao hưởng và ban hợp xướng với quy mô lớn hơn nhiều. Mozart và những nhà soạn nhạc khác đã viết lại cũng như mở rộng tác phẩm. Tuy nhiên, từ cuối thế kỷ 20, người ta có khuynh hướng trở lại với sáng tác nguyên thủy; hầu hết những buổi trình diễn “Messiah” ngày nay đều thể hiện định ý sáng tác ban đầu của Handel mặc dù những sản phẩm “Messiah hoành tráng” vẫn tiếp tục phát triển. Một phiên bản gần như hoàn chỉnh được ghi âm trong bộ đĩa nhựa 78 rpm phát hành năm 1928; kể từ đó “Messiah” vẫn thường xuyên được ghi âm.

George Frideric Handel by Balthasar Denner.
George Frideric Handel by Balthasar Denner.

George Frideric Handel (tiếng Đức: Georg Friedrich Händel; đọc là [ˈhɛndəl]) (sinh năm 1685 tại Đức), là nhà soạn nhạc xuất chúng thời kỳ Baroque, nổi tiếng với các sáng tác opera, oratoria, anthem, và concertro organ. Handel đã trải qua một thời gian học nhạc ở Halle, Hamburg, và Ý trước khi định cư ở Luân Đôn từ năm 1712. Ông có ảnh hưởng sâu sắc trên những nhà soạn nhạc Baroque Ý và truyền thống hợp xướng đối âm Đức.

Kitô hữu tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Messiah tức là Chúa Cứu Thế. Nhà nghiên cứu âm nhạc Richard Luckett miêu tả “Messiah” của Handel là “một sự luận giải về sự Giáng sinh, Thương khó, Phục sinh, và về trời của Chúa Giêsu, khởi đầu với lời hứa của Thiên Chúa qua sự tuyên cáo của những nhà tiên tri và kết thúc với sự tôn vinh dành cho Chúa Kitô trên thiên đàng”. Khác với hầu hết những bản oratorio của Handel, các ca sĩ trong “Messiah” không diễn kịch, cũng không có giọng nói dẫn chuyện chủ đạo, và rất ít diễn từ trích dẫn. Chủ đích của Jennes không phải là tái hiện cuộc đời và giáo huấn của Chúa Giêsu, nhưng là tụng ca “Sự Huyền nhiệm của Thiên Chúa”, dẫn ý từ Kinh Thánh theo bản King James, và các chương Thi thiên được trích dẫn trong Sách Cầu nguyện chung của Anh giáo. Trong hầu hết những bản oratorio của Handel, giọng đơn ca giữ vị trí chủ đạo, ban hợp xướng chỉ trình bày những đoạn ngắn; nhưng với “Messiah, chính phần hợp xướng đã làm thăng hoa tác phẩm khi tạo ra dòng cảm xúc mãnh liệt và làm nổi bật những thông điệp”, theo nhận xét của Laurence Cummings, giám đốc Dàn nhạc Giao hưởng Handel Luân Đôn.

Cấu trúc ba phần của “Messiah” cũng tương tự như những vở opera ba hồi của Handel, mỗi phần có nhiều “cảnh” theo sự phân chia của Jennens. Mỗi “cảnh” có một số “đoạn” được thể hiện theo cách hát nói, aria, hoặc hợp xướng. Có hai đoạn dành cho các loại nhạc cụ, đoạn dẫn nhập Sinfony theo phong cách French overture, và pastoral Pifa, thường gọi là “pastoral symphony”, tại trung điểm của Phần/Hồi I.

Chân dung Charles Jennens khoảng năm 1740.
Chân dung Charles Jennens khoảng năm 1740.

Ở Phần/Hồi I, những nhà tiên tri thời Cựu Ước tiên báo sự giáng sinh của Đấng Messiah. Sự kiện các thiên sứ báo tin mừng cho những mục tử được thể hiện qua lời ký thuật của Phúc âm Lu-ca. Phần/Hồi II thuật lại sự thương khó, sự chết, sự phục sinh và về trời của Chúa Giêsu, Phúc âm được rao giảng trên khắp thế giới, và sự vinh hiển của Thiên Chúa được thể hiện cách cô đọng và súc tích trong tuyệt khúc “Hallelujah”. Phần/Hồi III khởi đi từ lời hứa về sự cứu rỗi, kế tiếp là lời tiên báo về Ngày Đoán xét và sự sống lại phổ quát, rồi kết thúc với sự đắc thắng tội lỗi cùng sự chết, và sự ngợi ca dành cho Chúa Ki-tô. Theo nhà âm nhạc học Donald Burrows, những người không có sự hiểu biết căn bản về Kinh Thánh khó nắm bắt được nội dung của bản trường ca. Vì vậy, Jennens cho ấn hành và phân phối những bản dẫn giải.

Phần nhạc của “Messiah” được hoàn tất chỉ trong 24 ngày theo tốc độ viết nhạc của Handel. Sau khi nhận phần ca từ của Jennens, chỉ một thời gian ngắn sau ngày 10 tháng 7, 1741, Handel khởi sự viết nhạc cho “Messiah” từ ngày 22 tháng 8. Những gì được ghi lại cho thấy đến ngày 28 tháng 8 ông đã hoàn tất Phần/Hồi I, ngày 6 tháng 9 Phần/Hồi II, và Phần/Hồi III vào ngày 12 tháng 9, rồi thêm hai ngày nữa để hoàn chỉnh tác phẩm vào ngày 14 tháng 9. Trong bản tổng phổ viết tay dày 259 trang có những chỗ phô bày sự vội vàng của tác giả như những dấu mực, vết xước, các dòng kẻ còn bỏ trống, và những lỗi chưa chỉnh sửa. Dù vậy, theo học giả âm nhạc Richard Luckett đối với một tác phẩm lớn như Messiah thì số lượng sai sót như thế là rất nhỏ.

Cuối bản thảo Handel ghi “SDG” (Soli Deo Gloria), “Sự vinh hiển chỉ dành riêng cho Thiên Chúa”. Dòng chữ này cùng tốc độ sáng tác đã củng cố niềm tin rằng Handel đã nhận lãnh sự soi dẫn thiên thượng trong khi phổ nhạc cho câu chuyện dẫn ý từ Kinh Thánh, như ông thuật lại trải nghiệm của mình khi viết bản hợp xướng “Hallelujah”, “tôi đã nhìn thấy thiên đàng ngay trước mắt”. Theo thói quen khi viết một tác phẩm mới, Handel chọn một số sáng tác có sẵn để đưa vào “Messiah” như bài song ca tiếng Ý sáng tác một thời gian ngắn trước đó và một bài khác viết từ hai mươi năm trước. Cũng vậy, Se tu non lasci amore từ năm 1722 được chọn làm phần nền cho “Hỡi sự chết, nọc độc của ngươi ở đâu?”; “Ách của Ngài dễ chịu”. và “Ngài sẽ thanh tẩy” được rút ra từ Quel fior che alla’ride (tháng 7, 1741), “Một con trẻ sẽ được sinh cho chúng ta,” và “Hết thảy chúng ta đều như chiên đi lạc” từ Nò, di voi non vo’ fidarmi (tháng 7, 1741). Trong bản tổng phổ, theo tập quán đương thời, Handel dành nhiều khoảng trống cho các loại nhạc cụ, những ấn bản sau này đã thêm nhiều chi tiết vào bản tổng phổ nguyên thủy.

Handel hiệu đính nhiều lần bản tổng phổ viết tay trước khi đưa tác phẩm này ra mắt công chúng. Từ năm 1742 đến 1754, ông tiếp tục hiệu đính và viết lại những phần riêng lẻ, có lẽ để thích ứng với đặc điểm của mỗi ca sĩ. Bản tổng phổ “Messiah” được phát hành lần đầu năm 1767, sáu năm khi Handel mất.

Trang bìa bản tổng phổ Messiah viết tay của Handel.
Trang bìa bản tổng phổ “Messiah” viết tay của Handel.

Trường ca “Messiah” được chia làm ba phần, tương ứng với các giai đoạn trong cuộc đời Chúa Giêsu. Phần thứ nhất trình bày những ký thuật về sự giáng sinh. Phần thứ hai nói về sự khổ hình, sự phục sinh, sự lên trời của Chúa Giêsu, và sự ủy thác của ngài cho các môn đồ đem thông điệp phúc âm đến toàn thế giới. Phần thứ ba dựa trên các biến cố ghi chép trong sách Khải Huyền của Thánh John. Phần lớn nội dung của “Messiah” nhắc đến những lời tiên tri trong Cựu Ước báo trước sự Giáng Sinh và cuộc đời Chúa Giêsu.

Charles Jennens soạn lời cho “Messiah” trích từ Kinh Thánh bản King James. Phần trích Thi Thiên từ bản Great Bible. Jennens chia tác phẩm thành ba phần (hoặc hồi), mỗi phần/hồi có vài cảnh:

Phần/Hồi I: Sự Giáng sinh

Cảnh 1: Lời Tiên tri về sự cứu rỗi
Cảnh 2: Lời Tiên tri về sự Giáng sinh của Đấng Messiah
Cảnh 3: Điềm báo cho thế giới
Cảnh 4: Lời Tiên tri về sự trinh thai
Cảnh 5: Thiên sứ báo tin cho các mục tử
Cảnh 6: Các phép lạ của Chúa Ki-tô

Phần/Hồi II: Sự Khổ hình

Cảnh 1: Sự hi sinh, sự khổ nhục, và sự hấp hối của Chúa Giêsu trên thập tự giá
Cảnh 2: Sự chết, sự xuống âm phủ, và sự phục sinh của Chúa Giêsu
Cảnh 3: Sự lên trời
Cảnh 4: Ngài được vinh hiển trên Thiên đàng
Cảnh 5: Khởi đầu công cuộc truyền bá phúc âm
Cảnh 6: Thế giới và các nhà cầm quyền khước từ phúc âm
Cảnh 7: Sự khải hoàn của Thiên Chúa

Phần/Hồi III: Lai thế – Lời hứa của sự sống đời đời

Cảnh 1: Lời hứa về sự cứu rỗi từ lúc Adam sa ngã
Cảnh 2: Ngày Phán xét
Cảnh 3: Chiến thắng sự chết và tội lỗi
Cảnh 4: Sự vinh hiển của Chúa Kitô

Nhiều ca từ có gợi ý từ Cựu Ước. Phần đầu dựa nhiều vào sách Isaiah, với những lời tiên tri về Đấng Messiah. Cũng có những trích dẫn từ các sách phúc âm; đây là đoạn kết của phần đầu để mở ra phần hai. Thiên sứ báo tin mừng cho các mục tử trích từ Phúc Âm Luca, thêm hai phần trích từ Phúc Âm Mátthêu, và một từ Phúc Âm Gioan: “Kìa, Chiên Con của Thiên Chúa, là Đấng cất tội lỗi của thế gian.” Phần còn lại trình bày các lời tiên tri của Isaiah, và những câu trích từ các sách phúc âm. Phần ba trích từ sách Job (“Tôi biết Cứu Chúa hằng sống”), và từ thư thứ nhất Phaorô gởi tín hữu thành Côrintô.

Nhà nguyện Bệnh viện Foundling, Luân Đôn, Messiah được trình diễn thường xuyên tại đây.
Nhà nguyện Bệnh viện Foundling, Luân Đôn, Messiah được trình diễn thường xuyên tại đây.

Bản hợp xướng rất nổi tiếng “Hallelujah” được đặt cuối Phần/Hồi II có phần trích từ sách Khải Huyền của Tân Ước với câu, “Chiên Con đã chịu giết” (“Amen”).

Dù “Messiah” thường được trình diễn vào dịp Giáng sinh, bản hoàn chỉnh của bài trường ca này không chỉ liên quan đến Lễ Giáng Sinh (Phần/Hồi I), mà còn đến Lễ Phục sinh (Phần/Hồi II). Cũng cần lưu ý rằng, “Halleluja”, bản hợp xướng gắn liền với Lễ Giáng sinh, lại được đặt ở Phần/Hồi II và Phần/Hồi III – thuộc Lễ Phục sinh.

Nổi tiếng nhất trong trường ca “Messiah” là phần hợp xướng “Hallelujah” với nội dung dựa trên sách Khải Huyền trong Tân Ước. Tại nhiều nơi trên thế giới, đã trở thành thông lệ cho mọi người đều đứng lên khi giai điệu của bài “Hallelujah” được cất lên.

Bởi vì bài “Hallelujah” thường được trình diễn riêng nên được nhiều người biết đến như là “Bài hợp xướng Hallelujah”. Thật ra, cách gọi chính xác là “Bài hợp xướng Hallelujah của Trường ca Messiah”.

Bản tổng phổ lần đầu tiên được phát hành năm 1767, bao gồm những biến tấu và những phần viết lại của Handel, vẫn là nền tảng cho nhiều cuộc trình diễn kể từ lúc nhà soạn nhạc còn sống. Nhiều cuộc trình diễn ngày nay với khuynh hướng trở về nguyên bản đều dựa trên ba ấn bản phát hành trong thế kỷ 20.

Mời các bạn thưởng thức “Messiah” qua những trình tấu tuyệt kỹ của các ca đoàn lừng danh trên thế giới.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

oOo

Messiah – A Sacred Oratorio, Händel – conducted by Sir Colin Davis:

 

Bản của André Rieu – Hallelujah Chorus, from Händel’s Messiah:

 

Bản của ca đoàn Mormon Tabernacle Choir – Hallelujah Chorus, from Händel’s Messiah:

 

Bản của Peter Dijkstra – Messiah (Händel):

 

Bản của Christopher Hogwood – Messiah (Händel) – Academy of Ancient Music:

 

BBC Documentary – Messiah at the Foundling Hospital:

 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s