Nhạc cụ cổ truyền VN – Đàn Tam Thập Lục

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Lục Huyền Cầm, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn đàn Tam Thập Lục.

Đàn Tam Thập Lục của Việt Nam có một chiều dài lịch sử bắt nguồn từ quốc gia Ba Tư có tên là Santũr được chế tác vào khoảng thể kỷ thứ XII. Đến khoảng thế kỷ XVIII nó du nhập vào Triều Tiên, Trung Hoa và Nhật.

Đàn Tam Thập Lục du nhập vào Việt Nam khoảng thập niên 60 qua người Trung Hoa ở Chợ Lớn, Sài Gòn.

Nhạc cụ loại này khá phổ biến ở các quốc gia trong khu vực Trung Á và cũng rất phổ biến ở các quốc gia phương Tây thời Trung cổ cho đến ngày nay. Trong mỗi quốc gia nó có tên gọi khác nhau:

Ba Tư: Santũr, Santari, Santuri, Santir, Suntur, Santouri, Sandouri, Santoor
Syrie & Arab: Qanun
Trung Hoa: Yangqin
Mông Cổ: Yoochir
Nhật: Yan kin
Triều Tiên: Yanggum
Thái Lan: Khim
Các quốc gia Trung Á: Yenjing
Anh, Mỹ: Hammered Dulcimer
Các quốc gia phương Tây: Cimbalom, Cimbál, Cymbalom, Cymbalum, Tambal, Tsymbaly v.v…

Phụ nữ chơi đàn Sanṭūr, một loại đàn gõ dulcimer trong bức tranh từ cung điện Hasht-Behesht,  Isfahan Iran, 1669.
Phụ nữ chơi đàn Sanṭūr, một loại đàn gõ Dulcimer trong bức tranh từ cung điện Hasht-Behesht, Isfahan Iran, 1669.

tamthapluc_Classical Santur

Sau khi du nhập vào Việt Nam đàn Tam Thập Lục trở thành nhạc khí dây, chi gõ của nhạc cụ dân gian Việt Nam. Đàn có 36 dây nên được gọi là Tam Thập Lục. Tuy nhiên ngày nay một số nghệ nhân đã cải tiến đàn này bằng cách mắc thêm nhiều dây nữa để đánh được nhiều âm hơn, kể cả những âm nửa cung. Mục đích cải tiến là làm sao để dễ dàng đánh những bài nhạc có nhiều chuyển điệu. Tuy số lượng dây đã vượt quá con số 36 nhưng người ta vẫn quen gọi là đàn Tam Thập Lục. Một số người khác lại gọi nhạc cụ này Đàn Bướm vì hình dáng của nó giống hình con bướm, có người còn gọi là Dương Cầm như cách ta thường gọi Đàn Piano phương Tây.

Hammered Dulcimer.
Đàn Hammered Dulcimer.
Major scale pattern on a diatonic hammered dulcimer tuned in 5ths.
Major scale pattern on a diatonic hammered dulcimer tuned in 5ths.

 

Tuy có khả năng độc tấu, hòa tấu và đệm nhưng đàn Tam Thập Lục ít phổ biến trong cộng đồng Việt Nam, ngoại trừ một số dàn nhạc chuyên nghiệp sử dụng nhạc cụ này. Đàn Tam Thập Lục có hình thang cân, mặt đàn làm bằng gỗ mềm, hơi vồng lên ở giữa, mặt dưới phẳng. Trên mặt đàn có đặt 2 hàng cầu dây (ngựa đàn). Mỗi hàng cầu dây có từ 16 đến 18 ngựa đàn. Ngựa đàn của 2 hàng đặt so le nhau. Thành đàn làm bằng gỗ cứng. Bên phải là hàng trục dây, bên trái là hàng móc gốc dây.

Cimbalom.
Đàn Cimbalom.

Các dây đàn đều bằng kim loại nên âm thanh phát ra trong trẻo, thanh thoát, nghe giống tiếng đàn tranh khi chạy giai điệu ở âm vực cao, tuy nhiên có vẻ khô khan hơn đàn tranh. Trong những khoảng âm trầm, âm thanh có thể nhòe đi, hòa lẫn vào nhau vì nhạc cụ này không có bộ phận chặn âm. Người ta chỉnh dây của nhạc cụ này theo hệ thống gam nguyên. Nếu là loại cải tiến có dây bổ sung thì những dây đàn giữ nhiệm vụ dây nửa âm, chơi được cả những bản nhạc phương Tây có những nốt nửa cung.

Khim.
Đàn Khim.

Tất cả dây đàn đều nằm trên 2 hàng 2 cầu dây. Nhìn chung đàn Tam Thập Lục có âm vực trên 2 quãng tám (theo quãng nguyên âm). Loại cải tiến ngày nay có âm vực rộng hơn.

* Khoảng âm dưới: Tiếng đàn ấm áp, khá vang.
* Khoảng âm giữa: Tiếng đàn đầy đặn, trong.
* Khoảng âm cao nhất: Tiếng đàn sắc, gọn.

Khi biểu diễn nhạc công dùng 2 que gõ vào mặt đàn tạo ra các ngón như:

– Ngón rung
– Ngón vê
– Ngón bịt
– Ngón á
– Đánh chồng âm
– Hợp âm…

Tam Thập Lục.
Đàn Tam Thập Lục.

Đàn Tam Thập Lục giữ vai trò quan trọng trong các dàn nhạc sân khấu chèo, cải lương. Đàn đệm cho hát, độc tấu, tham gia dàn nhạc dân tộc tổng hợp.

Dưới đây mình có bài “Đàn Tam Thập Lục” của GS Kiêm Thêm và 44 clips độc tấu, hòa tấu đàn Tam Thập Lục/Hammered Dulcimer/Cimbalom/Khim/Yangqin/Santũr do các nghệ nhân xuất sắc trên thế giới diễn tấu để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Tam Thập Lục.
Đàn Tam Thập Lục.

Đàn Tam Thập Lục

(GS Kiêm Thêm)

Ở Sài Gòn trước năm 1975, những người thích đi ăn nhà hàng Tàu trong Chợ Lớn đôi khi được nghe nhạc Trung Hoa từ những dàn nhạc nhỏ, qua đó họ gặp một nhạc cụ nhiều dây, tạo âm thanh do đôi que gõ vào dây. Sau năm 1975, trong một số dàn nhạc dân tộc cải biên, của Nhạc viện ở Sài Gòn (TpHCM), người ta thấy cây đàn này xuất hiện, chiếm vị trí giữa dàn nhạc … Đàn có tên là “tam thập lục”, nó có thể tham gia trong các dàn nhạc dân tộc nhưng ít thấy độc tấu hay trình diễn nhiều thể loại âm nhạc như những nhạc cụ khác.

Đàn tam thập lục chỉ gia nhập vào hệ nhạc khí của dân tộc ta từ những năm 60 thế kỷ XX. Cây đàn thuộc họ dây (cordiophone) và có những sợi dây mắc song song với mặt đàn nên thuộc “gia đình cithare”. Hộp đàn hình thang, với rất nhiều dây được mắc song song theo chiều ngang của mặt đàn. Tuy gọi là tam thập lục, tức ba muơi sáu dây nhưng số dây thực sự nhiều hơn rất nhiều, đó là do mỗi một âm thanh, một bậc âm người ta gắn từ 2 đến 3 sợi dây đàn và nó được định âm do những con lăn (con nhạn) và sự căng dây.

Người chơi đàn có thể gõ lên những sợi dây bằng đôi que đàn bằng tre có đính phần nỉ ở đầu, mà người ta gọi là búa. Đôi khi người ta còn chơi bằng cách gẩy, búng, bốc bằng ngón tay, gẩy bằng đuôi que v.v… nhưng lối gõ bằng “búa” là thông dụng nhất. Do vậy, đàn tam thập lục thuộc họ dây – gõ.

tamthapluc_Hammered dulcimer accompanied by lute, tambourine and bagpipe

Nguồn gốc đàn tam thập lục

Về nguồn gốc, đàn tam thập lục còn gọi là Dương cầm, theo phiên âm từ tiếng Trung hoa (yang – qin). Theo nghĩa từ nguyên Trung Hoa, “Dương” có nghĩa là từ ở ngoài, nước ngoài. Như vậy cho thấy, đàn tam thập lục từ nước ngoài đưa vào Trung Hoa.

Đến thế kỷ thứ 15 mới thấy có những tài liệu chính thức nghiên cứu, ghi chép về những cây đàn có dạng như vậy, hình ảnh được khắc trên ngà voi, được chế tác vào khoảng thế kỷ thứ XII và có gốc Ba Tư. Những cây đàn dạng này rất phổ biến ở khu vực các nước Trung Á và được sử dụng rộng rãi trong dân gian. Ngoài ra nó còn được phổ biến ở các nước phương Tây thời Trung cổ.

Đến thế kỷ XVIII nó được truyền vào Triều Tiên và tiếp tục vào Trung Hoa, Nhật Bản. Ở mỗi nước các cây đàn này có tên gọi khác nhau: ví dụ như ở Ba Tư nó có tên là Santur, hoặc những tên khác như Santari, Santuri, Santir, Suntur. Ở Syrie, Arab nó có tên là “Qanun”. Ở Trung Quốc nó có tên là yang – qin, Mông cổ là Yoochir, Nhật là Yan kin, Triều Tiên là Yanggum, Thái Lan là Kim … các nước Trung Á gọi là Yenjing, các nước phương tây gọi là Cymbalom v.v…

NSUT Nguyễn Thị Hoa Đăng.
NSUT Nguyễn Thị Hoa Đăng.

Đàn tam thập lục ở Việt Nam

Có thể nói, dân ca là thể tài được các nhạc sĩ quan tâm trước nhất để chuyển soạn cho cây đàn tam thập lục diễn tấu ở Việt Nam. Đàn tam thập lục không có phím để bấm, cũng không thể dùng tay trái nhấn, rung, mổ luyến láy như những nhạc cụ dân tộc Việt nên nhiều nhạc sĩ khi chuyển soạn rất thận trọng chọn lựa tác phẩm dân ca.. Với những bài Lý (dân ca), cây đàn tam thập lục sẽ làm nổi bật hơn âm điệu trong sáng, vui tươi, nhất là dân ca Nam Bộ.

Dân ca ở các vùng khác như Quan họ Bắc Ninh, dân ca các dân tộc thiểu số … cũng được biên soạn với những kỹ thuật đơn giản, những nét luyến láy sẽ được thay bằng những nốt nhỏ đánh nhanh dẫn vào nốt chính để tạo cảm giác luyến. Ngoài việc dựa vào những kỹ thuật và những đặc điểm riêng của cây đàn, ví dụ như hệ thống dây đàn tam thập lục là theo thang âm bình quân (thang âm có 12 bán âm đều nhau), đàn tam thập lục có thể đi song thanh, song thanh lệch, tạo ra những câu nhạc chạy liền tiếng rất nhanh thay cho những nét nhấn nhá, luyến láy. Các nhạc sĩ cũng thích chuyển đổi hệ thống thang âm, viết lại với những giọng có dấu hóa để có thể luyến bằng những nốt nhỏ cao độ bán âm v.v… để có thể diễn tấu những nét đặc trưng của dân ca.

Đàn Salzburger Hackbrett, một loại Dulcimer.
Đàn Salzburger Hackbrett, một loại Dulcimer.

Ngoài dân ca, những bài bản âm nhạc cổ truyền cũng là mục tiêu chuyển soạn của các nhạc sĩ. Với mong muốn mở rộng khả năng diễn tấu của, các nhạc sĩ đã chuyển soạn các bài nhạc Chèo cho đàn tam thập lục. Những bài này chiếm vị trí quan trọng trong nhạc mục của cây đàn, đôi khi trở thành những bài độc tấu cho đàn tam thập lục. Tất nhiên, những đặc điểm âm nhạc của Chèo vẫn phải giữ và cũng bằng những kỹ thuật của cây đàn. Đó là nét nhạc chạy lướt mềm mại, những kiểu nhân đôi giai điệu của hai bè, giai điệu bị chia cắt, có nhiều nét đan xen với phần đệm v.v…

Diễn tấu đàn tam thập lục đối với những bài bản cổ truyền có nhiều điểm không thuận lợi, nên khi chuyển soạn các tác phẩm, bài bản âm nhạc cổ truyền, đặc biệt là bài bản nhạc Tài tử Nam Bộ, các nhạc sĩ đã chú ý chuyển soạn các bài bản thuộc điệu Bắc, hơi Bắc do ít luyến láy, hoặc những bài có hơi Quảng.

Ngoài bài bản thuộc hơi Bắc, hơi Quảng, các nhạc sĩ cũng chuyển soạn các bài bản thuộc các hơi, giọng khác như Oán, Xuân, Ai.

Ngoài ra các nhạc sĩ còn có những sáng tác theo kỹ thuật âm nhạc phương Tây: Variation cho đàn tranh, sáo và đàn tam thập lục (của NGƯT Nguyễn Văn Đời); hòa tấu đàn tam thập lục và dàn nhạc dân tộc (của giảng viên Nguyễn Thị Bích Thủy) …

tamthapluc_Yangqin

Kết luận

– Việc tham gia vào gia đình nhạc khí Việt Nam của đàn tam thập lục đã làm hệ thống nhạc khí nước ta phong phú hơn, có thêm âm sắc nhạc cụ mới, làm cho số lượng bài bản phát triển.

– Để phát huy khả năng trình diễn của cây đàn, làm cho nó trở thành thành viên của hệ nhạc khí Việt Nam, các nhạc sĩ đã nỗ lực sáng tác bài bản, sáng tạo nhiều kỹ thuật diễn tấu. Với hàng trăm sáng tác mới, tác phẩm chuyển soạn từ ca khúc cho đàn tam thập lục, tác phẩm nước ngoài v.v… nhưng trong chương trình giảng dạy chính thức của 2 nhạc viện quốc gia tại Việt Nam, phần chủ yếu vẫn là âm nhạc truyền thống: nhạc thính phòng Huế, nhạc Tài tử, những làn điệu của tuồng, chèo, cải lương…

– Đưa đàn tam thập lục vào hệ nhạc khí Việt nam cũng nhằm tiếp thu và phát huy những di sản âm nhạc thế giới. Nhưng đó không phải là việc làm duy nhất trong sự nghiệp giữ gìn và phát huy nền âm nhạc dân tộc ngày nay. Chúng ta đã có bài học tốt trong việc tiếp thu những di sản văn hóa thế giới và phát huy truyền thống âm nhạc dân tộc như việc cải tiến cây đàn guitar Tây Ban Nha thành cây guitar phím lõm và đưa nó vào âm nhạc Tài tử – Cải lương, đây cũng là bài học quý để chúng ta rút kinh nghiệm khi tiếp thu cây đàn tam thập lục và đưa nó vào hệ nhạc khí dân tộc Việt Nam.

oOo

Nhạc cụ dân tộc – Dàn nhạc nhà hát chèo:

 

Độc tấu đàn Tam Thập Lục – Rhapsody Hungarian no.2:

 

Song tấu đàn Tam Thập Lục (Yangqin):

 

Nghệ sĩ Hương Giang với Đàn Tam Thập Lục tại Những ngày Văn hóa VN tại LB Nga:

 

Nguyễn Thị Thu Trang – Tam Thập Lục – Hoa Đỗ Quyên:

 

Nguyễn Thị Thu Trang – Tam Thập Lục – Áo Tứ Thân:

 

Nguyễn Thị Quỳnh – Tam Thập Lục – Đường Trường Tiếng Đàn:

 

Nguyễn Thị Quỳnh – Tam Thập Lục – Cao Nguyên Xanh:

 

Nguyễn Thị Quỳnh – Tam Thập Lục – Tứ Tấu Mùa Xuân:

 

Hòa tấu Tam Thập Lục Trung Hoa (Yangqin) – TP “Phi Châu tươi đẹp”:

Tốp đàn Tam Thập Lục Trung Hoa – TP “Đàn từ tam lục”:

Độc tấu Tam Thập Lục Trung Hoa – TP “Tướng quân lệnh”:

 

Zhang Di Yangqin Solo 1:

 

Zhang Di Yangqin Solo 2:

 

Zhang Di Yangqin Solo 3:

 

Iranian Santur, Modern Interpretation:

 

Parisa Rabii – Santur:

 

Persian Santur – Chaharmezrab Nava:

 

꿈길(Dream Road) – Triều Tiên:

 

Cimbalom (Dulcimer) solo played by Jeno Farkas, Szalai Hungarian Gypsy Band:

 

Hungarian gypsy Street Musicians (Cimbalom) – Copenhagen, August 2014 (Part 3):

 

Cimbalom Music played by Miroslav Vavák in Grafton St. Dublin, Ireland:

 

Barcelona Street Music: Cimbalom player from Belarus in Park Güell #1:

 

Toni Iordache – Romanian Cimbalom:

 

Toni Iordache, Ionică, Mieluţă Surdu, Ion Drăgoi (Cristi Udilă):

 

Khim Chamber – Thailand – ลาวเจ้าซู+ลาวจ้อย – Live Concert:

 

Khim Raw-Duang-duen – Thailand traditional music – Khim Thai player:

 

Khim Raw-Pan – Thailand traditional music – Khim Thai Player:

 

บายศรีสู่ขวัญ: Khim Chamber (LIVE):

 

Khmer Dulcimer (Khim):

 

“Dance of the Unicorns” Dulci Girls – Hammered Dulcimer Trio Performing – Live in Chaves Portugal:

 

“The lion sleeps tonight” Dulci Girls – Hammered Dulcimer Trio Performing – Live in Chaves Portugal:

 

“Come Alive by Dizzi” Electric Hammered Dulcimer and Hang Drum Duo – UK:

 

“Nothing Else Matters by Metallica Dizzi Emily” Hammered Dulcimer Duo – UK:

 

“Cosmic Sister” – Hammered Dulcimer music by Dizzi and Emily – UK:

 

Amazing Hammered Dulcimer Musician – Joshua Messick – USA:

 

Acoustic Storm – Amazing Percussion Supergroup ft. Hammered Dulcimer – Joshua Messick – USA:

 

Andrah – Hammered Dulcimer Music by Joshua Messick – USA:

 

Hammered Dulcimer & Cello Duet by Joshua Messick and Max Dyer – USA:

 

Invocation | East West Improv | Hammered Dulcimer, Cello, Vocal, Tanpura | Indian Raga Bhairavi – USA:

 

Carol of the Bells – Hammered Dulcimer & Cello by Joshua Messick and Max Dyer – USA:

 

Medieval Chant – Hammered Dulcimer Music by Joshua Messick – USA:

 

Autumn Rain – Hammered Dulcimer Music by Joshua Messick – USA:

 

Joshua Messick (Hammered Dulcimer) and Muriel Anderson (Guitar) – USA:

 

Yoochir & Jatag – Traditional Mongolian Music & Songs (Live Concert “Kharkhorum”):

 

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Nhạc cụ cổ truyền VN – Đàn Tam Thập Lục”

  1. Em cảm ơn chị nhiều : X

    Em cũng không thể ngờ được là kho tàng âm nhạc truyền thống Việt Nam lại giàu có, phong phú và giá trị đến vậy.

    Chúc chị luôn khỏe để truyền thêm nhiều đam mê và tình yêu âm nhạc truyền thống cho những người trẻ như chúng em.

    Em Thuận.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s