Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Họ đều là những người tốt” – Éamon de Valera

 

Lịch sử của Ireland trải dài suốt 800 năm từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 20 là 1 giai đoạn xung đột và bất ổn kéo dài của người dân Ireland chống lại ách đô hộ của Vương Quốc Anh, lồng thêm vào đó là cuộc xung đột tôn giáo giữa Công Giáo La Mã và Kháng Cách (hay trong trường hợp này là Anh Giáo):

Cuối thế kỷ 12, nước Anh xâm chiếm toàn bộ Ireland và áp đặt ách đô hộ của mình lên Ireland.

Một thế kỷ sau đó, Giáo Hội Thiên Chúa Giáo tại châu Âu bắt đầu có những bất đồng, dẫn đến sự tồn tại của 2 Giáo Hoàng song song, phát sinh cuộc chiến giữa các vương hầu. Điều này ảnh hưởng đến hình ảnh thiêng liêng, quyền lực của Giáo Hoàng, rồi nhiều người bắt đầu “suy nghĩ thêm” về bản chất của giáo hội, nguồn gốc và giới hạn của thẩm quyền dành cho giáo hoàng và các vương hầu.

Rồi xuất hiện nhu cầu “vẫn tin Kinh Thánh, nhưng không muốn chịu ảnh hưởng của Giáo Hoàng” và phong trào Kháng Cách xuất hiện, ban đầu với mục tiêu tạo áp lực để cải cách Giáo Hội Công Giáo, nhưng sau đó chuyển thành ly khai khỏi Công Giáo. 1 loạt nhánh của Thiên Chúa Giáo xuất hiện: Tin Lành, Anh Giáo, Phái Thanh Tẩy (phần này quá dài và rộng để viết xuống đây)

Năm 1542, Anh Giáo được áp đặt lên Ireland, nhanh chóng làm bùng nổ cuộc chiến tranh tôn giáo giữa những người theo Công Giáo và Anh Giáo. Nước Anh đàn áp dã man những người theo Công Giáo, sáp nhập hẳn Ireland vào Anh và giải tán Quốc Hội Ireland, càng khơi sâu thêm xung đột giữa “Người Cai Trị ngoại lai – Dân Địa Phương”

1916, diễn ra cuộc nổi dậy Lễ Phục Sinh của những người theo chủ nghĩa quốc gia Ireland nhằm đánh đuổi người Anh và thành lập Cộng Hoà Ireland. Cuộc nổi dậy bị đàn áp đẫm máu: 15 lãnh đạo bị hành hình và hơn 1000 người bị cầm tù. Nhưng chính sự đàn áp này khơi dậy tinh thần yêu nước của dân Ireland làm phong trào bùng nổ dữ dội hơn dưới sự lãnh đạo của Eamon De Valera. Nước Anh sau nhiều cố gắng đàn áp không được, cuối cùng đồng ý đình chiến với Ireland vào năm 1921, làm tiền đề cho tiến trình trả tự do cho Ireland.

Bài diễn văn dưới đây được đọc nhân kỷ niệm 50 năm ngày diễn ra cuộc nổi dậy Lễ Phục Sinh, bước khởi đầu cho kết thúc của nền cai trị Anh. Đây là 1 bài diễn văn ngắn, lập luận giản dị nhưng vẫn có sức thuyết phục.

Có vài điểm nổi bật của bài diễn văn này:

    – 2 vấn đề “Quốc Gia” và “Tôn Giáo” đan xen lẫn nhau, nhiều lúc đồng nghĩa, do hoàn cảnh lịch sử (đã đề cập ở trên):

Họ đều là những con người tốt, sống trọn vẹn cho trách nhiệm của mình, và chính sự tin tưởng vững chắc nhất, đức tin đầy đủ nhất và tình yêu với đất nước đã thúc đẩy hành động của họ. Thời gian đã chứng minh những người này là các nhà tiên tri, và với sự ưu ái của Thiên Chúa…

– Tác giả đã khéo léo dựa vào sự hy sinh anh dũng của các nhà lãnh đạo, để nhắc nhở mọi người phải hoà hợp, thống nhất xây dựng đất nước. vì đó là mơ ước của những người đã ngã xuống

– Và tác giả cũng nhắc nhở việc gìn giữ tiếng Ireland như 1 niềm tự hào dân tộc, vì Ireland là 1 nước độc lập và có ngôn ngữ riêng. Cần biết sở dĩ tác giả phải kêu gọi như vậy, vì việc chuyển từ tiếng Anh sang tiếng Ireland vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn, và đến tận ngày nay, vẫn chưa được coi là thành công.

Về tác giả (Wikipedia)

Éamon de Valera (14/10/1882 – 29/8/1975) là một trong những nhà chính trị nổi bật nhất trong thế kỷ 20 của Ireland. Là người đứng đầu chính phủ Ireland. Ông cũng là người ban hành Hiến Pháp Ireland
De Valera là nhà lãnh đạo của phong trào giành độc lập từ tay người Anh trong Chiến Tranh Giành Độc Lập cho Ireland, là nhà lãnh đạo khuynh hướng không ủng hộ hiệp ước với Anh trong nội chiến Ireland (1922-1923). Ông là nhà lãnh đạo chính phủ 1932–48, 1951–54 và 1957–59 và là tổng thống Ireland giai đoạn 1959–73.

(Nguyễn Mai Anh Kiệt giới thiệu)

Phục Sinh này, chúng ta tưởng nhớ về Phục Sinh năm mươi năm trước đây, và tôn vinh những người khi đó đã trao mạng sống của mình, hoặc chấp nhận rủi ro với mạng sống của mình để Ireland có thể được tự do.

Đặc biệt, chúng ta mong muốn tôn vinh bảy con người dũng cảm đã bất chấp mọi cản trở vẫn kiên quyết khẳng định, một lần nữa với vũ trang, quyền độc lập chủ quyền của đất nước chúng ta. Đó là một quyết định định mệnh mà ngày nay chúng ta biết rằng là bước tiến táo bạo nhất và vượt xa nhất trong lịch sử của chúng ta.

Họ đều là những người tốt, sống trọn vẹn cho trách nhiệm của mình, và chính sự tin tưởng vững chắc nhất, đức tin đầy đủ nhất và tình yêu với đất nước đã thúc đẩy hành động của họ. Sự chuyên tâm và không vị kỷ của họ, sự hy sinh của họ và những hy sinh của những người đã mất trong Cuộc Nổi Dậy đã khơi mào cho sự trỗi dậy của cả nước tiếp theo. Nguyện xin Thiên Chúa tốt lành giữ tất cả họ trong sự che chở của Ngài.

Thời gian đã chứng minh những người này là các nhà tiên tri. Họ đã nhìn thấy những gì ít ai thời đó có thể tiên đoán, và với sự ưu ái của Thiên Chúa, các đặc ân chúng ta được hưởng ở đây hôm nay là do chúng ta nợ tầm nhìn xa của họ và sự thấu hiểu của họ về trái tim của dân tộc ta.

Tự do chính trị tự nó không phải là mục tiêu cuối cùng. Đúng hơn, tự do chính trị là điều kiện để từng bước xây dựng lên một cộng đồng, trong đó một số lượng thành viên càng ngày càng nhiều, nhờ được giảm nhẹ áp lực của các nhu cầu kinh tế nhiều đòi hỏi, nên được tự do để cống hiến đời họ cho tinh thần và tâm hồn càng ngày càng nhiều, và như vậy, họ có thể có được hạnh phúc của một cuộc sống đầy đặn. Đất nước ta khi đó có thể một lần nữa, như bao nhiêu thế kỷ trong quá khứ, trở thành một trung tâm mục vụ và trí tuệ vĩ đại, từ đó các chân lý cứu rỗi viên mãn của Mạc Khải của Thiên Chúa cũng như những thành quả của kiến thức chín chắn nhất về thế giới trần tục được phát triển.

Chúng ta không thể tôn vinh đầy đủ những con người của năm 1916 nếu chúng ta không làm việc và phấn đấu để mang lại cho Ireland những điều mà họ đã mong ước. Để làm được điều đó, mỗi người chúng ta phải làm phần của mình, và mặc dù các nhiệm vụ trước mắt chúng ta bây giờ khác những nhiệm vụ năm mươi năm trước đây, nếu chúng ta đủ tận tâm và ý chí của chúng ta kiên định, chúng ta có thể có ngày hôm nay sự hồi sinh của đất nước có thể sánh với sự hồi sinh sau năm 1916: chúng ta có thể khiến cho dân tộc chúng ta thống nhất như một gia đình – quốc gia của những người anh em – mỗi người làm việc trong sự hài hòa công nghiệp, không phải chỉ cho chính mình, mà vì điều tốt đẹp cho tất cả. Chúng ta khi đó có thể một cách tự tin tiến tới sự tôn cao đất nước ta giữa các nước khác, điều mà những con người năm 1916 đã tuyên thệ hiến thân phục vụ.

Trong việc thực hiện của tất cả các điều này, ngôn ngữ nước ta đóng một vai trò thiết yếu. Ngôn ngữ là một đặc tính chủ đạo của đất nước – là biểu hiện, như chính nó, của cá tính của quốc gia và là sự gắn kết chặt chẽ nhất giữa những người dân của đất nước. Không một quốc gia nào có một ngôn ngữ riêng của mình mà sẵn sàng từ bỏ ngôn ngữ đó. Ví dụ như người dân Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy, học và biết rõ một hoặc nhiều ngôn ngữ khác, như chúng ta cũng nên như vậy, tất nhiên, vì lợi ích của truyền thông, thương mại quốc tế, và cho các mục đích văn hóa; nhưng họ sẽ không bao giờ từ bỏ ngôn ngữ bản địa của họ, ngôn ngữ của tổ tiên của họ, thứ ngôn ngữ đã cất giữ một cách thiêng liêng tất cả những ký ức quá khứ của họ. Họ biết rằng nếu không có ngôn ngữ đó, họ sẽ chìm vào một chủ nghỉa thế giới vô định hình không có một quá khứ hay tương lai riêng biệt. Để tránh một số phận như vậy, thế hệ này của chúng ta phải chắc chắn là ngôn ngữ của chúng ta sẽ tồn tại. Đó là quyết tâm của những con người của năm 1916. Liệu đó có là quyết tâm của những người trẻ của năm 1966 không?

(Quỳnh Linh chuyển ngữ)

This Easter we are bringing to our minds the Easter of fifty years ago, and are seeking to honor the men who at that time gave, or risked their lives, that Ireland might be free.We wish to honor, in particular, the seven brave men who, despite all the deterrents, made the decision to assert, once more in arms, our nation’s right to sovereign independence. It was a fateful decision which we now know to have been one of the boldest and most far-reaching in our history.

These were all good men, fully alive to their responsibilities, and it was only the firmest conviction, the fullest faith and love of country that prompted their action. Their single-mindedness and unselfishness, their sacrifice and the sacrifices of the others who gave their lives in the Uprising inspired the national resurgence which followed. May the good God have them all in His keeping.

Time has proved these men to have been prophets. They foresaw what few could then have foreseen, and to their foresight and their insight into the hearts of our people, under God’s favor, we owe the privileges we enjoy here today.

Political freedom alone was not the ultimate goal. It was to be, rather, the enabling condition for the gradual building up of a community in which an ever increasing number of its members, relieved from the pressure of exacting economic demands, would be free to devote themselves more and more to the mind and spirit, and so, able to have the happiness of a full life. Our nation could then become again, as it was for centuries in the past, a great intellectual and missionary center from which would go forth the satisfying saving truths of Divine Revelation, as well as the fruits of the ripest secular knowledge.

We cannot adequately honor the men of 1916 if we do not work and strive to bring about the Ireland of their desire. For this, each one of us must do his part, and though the tasks immediately before us now are different from those of fifty years ago, we can have today, if we are sufficiently devoted and our will be firm, a national resurgence comparable to that which followed 1916: we can have our people united as a family—a nation of brothers —each working in industrial harmony, not for himself only, but for the good of all. We could then march forward confidently to that exaltation of our nation amongst the nations to which the men of 1916 pledged themselves.

In the realization of all this, our national language has a vital role. Language is a chief characteristic of nationhood—the embodiment, as it were, of the nation’s personality and the closest bond between its people. No nation with a language of its own would willingly abandon it. The peoples of Denmark, Holland, Norway, for ex-ample, learn and know well one or more other languages, as we should, of course, for the sake of world communication, commerce, and for cultural purposes; but they would never abandon their native language, the language of their ancestors, the language which enshrines all the memories of their past. They know that without it they would sink into an amorphous cosmopolitanism—without a past, or a distinguishable future. To avoid such a fate, we of this generation must see to it that our language lives. That would be the resolve of the men and women of 1916. Will it not be the resolve of the young men and women of 1966?

Nguồn tham khảo:

http://uk.answers.yahoo.com/question/index?qid=20100124063643AAJmQvp
http://en.wikipedia.org/wiki/Irish_people
http://en.wikipedia.org/wiki/United_Kingdom_of_Great_Britain_and_Ireland
http://en.wikipedia.org/wiki/Easter_Rising
http://www.bbc.co.uk/history/british/easterrising/
http://www.theirishstory.com/category/the-1916-rising/

Một suy nghĩ 12 thoughts on “Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Họ đều là những người tốt” – Éamon de Valera”

  1. Mình trước nay mù mờ chuyện Ireland, chỉ biết là Ireland và Bắc Ireland đánh nhau mấy chục năm chỉ vì Ireland theo Công giáo và muốn thống nhất Ireland, Bắc Ireland theo Anh giáo và muốn là một phần của United Kingdom.

    (United Kingdom gồm liên hiệp 4 nước: England, Northern Ireland, Scotland và Wales. Trên thực tế 4 nước này giống như 4 tiểu bang của Mỹ, trong nước Anh).

    Bây giờ nhờ có bài này, biết thêm một chút về lịch sử vùng đó.

    Cảm ơn Kiệt và QL.

    Thích

  2. Có lẽ đây là một trong những bài diễn văn ngắn gọn, xúc tích và giản dị nhất trong chuỗi các bài diễn văn này – em nghĩ là rất phù hợp cho các bạn luyện tiếng Anh :).

    Kiến thức lịch sử về bài này của em rất mù mờ – cũng may là em đã “bán cái” được phần giới thiệu cho anh Kiệt – nên khi dịch bài em rất thắc mắc về lý do sâu thẳm của việc Ireland kiên quyết tách khỏi nước Anh, vì với tư duy của một nước đang phát triển, em thấy rằng về mặt địa lý, có vẻ như Ireland chẳng còn “gần gũi, thân cận” với ai nữa cả, trong khi nước Anh lại là một quốc gia mạnh và phát triển như thế. Sự sáp nhập ắt hẳn sẽ thúc đẩy và hỗ trợ Ireland phát triển mạnh hơn? Thế nên em rất ấn tượng, và cảm kích, lý do mà De Valera nêu ra cho việc Ireland muốn ly khai “Tự do chính trị tự nó không phải là mục tiêu cuối cùng. Đúng hơn, tự do chính trị là điều kiện… nhờ được giảm nhẹ áp lực của các nhu cầu kinh tế nhiều đòi hỏi, nên được tự do để cống hiến đời họ cho tinh thần và tâm hồn càng ngày càng nhiều, và như vậy, họ có thể có được hạnh phúc của một cuộc sống đầy đặn. Đất nước ta khi đó có thể một lần nữa, như bao nhiêu thế kỷ trong quá khứ, trở thành một trung tâm mục vụ và trí tuệ vĩ đại, …” Rõ ràng lý do không phải là phát triển kinh tế, thậm chí còn ngược lại, có vẻ như có một sự thoái thác đối với phát triển kinh tế mù quáng, mà họ nhắm đến sự phát triển tinh thần và tâm hồn (mind and spirit), điều họ mơ về là phát triển đất nước thành một trung tâm mục vụ và trí tuệ vĩ đại – một trung tâm về tri kiến và tâm linh của nhân loại?

    Mặc dù bài diễn văn này được đánh giá là lãng mạn nhiều hơn là thực tế, nhưng tư tưởng của De Valera khiến em nhớ đến một câu hỏi và trả lời anh Hoành đặt ra trước đây mà càng ngày em càng tin câu trả lời của anh là đúng: sinh vật tiến hóa thành người, vậy con người sẽ tiếp tục tiến hóa đến đâu? Con người tiến hóa thành Phật – tức là người giác ngộ.

    Thích

  3. Lịch sử châu Âu luôn là đề tài rất phức tạp đối với DS. Đọc tới Thế chiến II là DS hiểu hết nổi :). Họ đánh nhau vì đủ thứ lý do trên đời… Nhưng nay lại biết thêm một lý do nữa đó là vì tôn giáo.

    Cám ơn thầy Kiệt luôn viết bài giới thiệu dễ hiểu. Cám ơn QL luôn dịch bài hay 🙂

    Thích

  4. Nhân có chia sẻ của chị QL về ”Con người tiến hóa thành Phật – tức là người giác ngộ.”, có thể hơi lạc đề với topic này,nhưng có điều này em vẵn lăn tăn mãi nhờ anh chị giải thích hộ em : Như kinh nói khi một vị Phật nhập niết bàn nghĩa là mọi ham muốn chấm dứt, vị Phật sẽ biến mất hoàn toàn, vậy nếu tất cả loài người đều thành Phật,thì sẽ đến lúc không còn ai trên trái đất cả( thực ra em nghĩ điều này không biết khi trái đất bị hủy hoại chắc vẫn còn đông người lắm ) vậy nỗ lực thành Phật là gì ? có phải thân xác không còn ý nghĩa gì nữa? và sự biến mất của vị Phật là hoàn toàn ạ, không tái sinh nữa ạ?

    Thích

  5. Hi Phong Loan,

    Nhật hoàng Goyozei hỏi thầy là thiền sư Gudo:: “Người giác ngộ đi đâu khi chết?”

    Gudo trả lời: “Bần tăng không biết.”

    “Tại sao thầy không biết?” Thiên hoàng hỏi.

    “Tại vì bần tăng chưa chết,” Gudo trả lời.

    Anh nghĩ rằng chỉ có một điều duy nhất có ý nghĩa là sống “ở đây lúc này” cho trọn vẹn. Ta có thể lấy sách vở ra trả lời cho nhau về các việc xảy ra sau khi chết (thiên đàng, hỏa ngục, tái sinh, cõi Phật, blah blah blah), nhưng như thế thì ta cũng như tác giả các quyển sách đó cũng chỉ là lảm nhảm các điều vô nghĩa mà chính mình không biết, vì chưa chết thì chưa biết sau khi chết, mà đã chết thì không nói được. 🙂

    Chi bằng thành thật trả lời như Gudo “không biết”.

    Và sống “ờ đây, lúc này.”

    Thích

  6. Vâng, có lẽ cũng không có cách nào hay hơn lúc này là sống ”ở đây,lúc này ” có lẽ đó là cách hay để đi đến sự tĩnh lặng nhanh nhất,mọi thứ vẫn cứ xảy ra ,nhưng không có gì xảy ra cả.Em cám ơn anh đã nhắc nhở em , có lẽ em vẫn chưa quen với cách cuộc sống nó là…em vẫn còn quá logic.Trong cuộc sống ứng xử các vấn đề muốn giải quyết cần logic,nhưng với việc sống thì hình như không có logic nào cả ,không ai biết được khoảng khắc sau là gì.

    Thích

  7. Tuy anh Hoành đã trả lời cho câu hỏi của Phong Lan, mình chia sẻ thêm với Phong Lan ý nghĩa của câu nói “Con người tiến hóa thành Phật – tức là người giác ngộ” đối với mình để Phong Lan tham khảo nhé.

    Mình gốc là dân khoa học tự nhiên và tiếp cận với triết học đầu tiên qua chủ nghĩa duy vật biện chứng. Thế nên đối với mình, chẳng bao giờ mình thắc mắc sau khi chết là gì cả. Mặc nhiên, chết là hết! (ngoài những gì mình để lại).

    Mình cũng không phải một đệ tử Phật giáo nghiêm chỉnh, tức chấp nhận mọi khái niệm của Phật giáo một cách đầy đủ và toàn vẹn, mà mình thường phải chuyển nhiều khái niệm của Phật giáo thành một biểu tượng gì đó để hiểu, những khái niệm mà mình không chuyển được, mình sẽ tạm thời bỏ qua, xem như là mình chưa hiểu phần đó. Tùy theo sự nhận thức, sự hiểu của mình ở từng giai đoạn cuộc đời, các biểu tượng này sẽ thay đổi.

    Với cách tiếp cận này, mình không hiểu khái niệm “luân hồi” trong đạo Phật là sự luân hồi sinh học. Đến nay, mình chỉ mới hiểu khái niệm luân hồi là một cách để giải thích rằng hành vi của ta ngày hôm nay để là ảnh hưởng đến nhiều thế hệ sau, và những gì ta hưởng hay chịu ngày hôm nay có sự ảnh hưởng của những điều xảy ra ở nhiều nhiều thế hệ trước, là khái niệm để răn rằng ta nên có trách nhiệm với việc ta làm ở từng giây từng phút vì chính ta sẽ còn tiếp tục phải chịu “quả” của nó.

    Với cách tiếp cận này, khi đọc được trong một cuốn sách dạy về Đạo Phật rằng Phật tức là người giác ngộ, mình cảm thấy rất … thoải mái và hiểu được, hay tiếp nhận được. Còn giác ngộ là nhận thức đúng được bản chất của sự vật, theo cách của nhà Phật. Cụ thể thì phải đi, phải tu để đạt đến, mới biết là như thế nào.

    Vậy nên đối với mình, câu nói của anh Hoành: con người tiến hóa thành Phật chỉ đơn giản là con người sẽ ngày càng giác ngộ. Như vậy còn lại người ý là người chưa giác ngộ.

    Dùng cách tiếp cận này với câu hỏi của Phong Lan, nếu nói “khi một vị Phật nhập niết bàn nghĩa là mọi ham muốn chấm dứt, vị Phật sẽ biến mất hoàn toàn” mình sẽ hiểu rằng: khi Phật nhập niết bàn, nôm na là người giác ngộ chết, họ không còn luân hồi nữa – tức không để lại những “nghiệp” (trong đó có tâm tham sân si) cho con cháu nữa. Như vậy, nếu tất cả loài người đều thành Phật, thì sẽ vẫn còn Phật – tức người giác ngộ trên trái đất chứ. 🙂

    Em muốn chia sẻ với Phong Lan và Vườn Chuối cách suy nghĩ của mình, hi vọng là em không làm cho những Phật tử chân chính nổi giận vì em … xuyên tạc kinh Phật ạ! 😀

    Thích

  8. Hi QL.

    Các biểu tượng của Phật triết có rất nhiều ý nghĩa, có thể hiểu được rất nhiều cách. Cho nên không cần phải lo là mình hiểu sai. Thường thì chỉ có sâu hay cạn.

    Một cách hiểu luân hồi thực tiễn nhất là nếu ta còn tham sân si thì ta sẽ mãi luẩn quẩn trong vòng tham sân si không ra được. Ví dụ: tham thì tranh giành, tranh giành thì gây lộn và sân hận, sân hận thì si mê và sinh ra nhiều tội lỗi khác như đánh nhau, giết người… cái vòng tham sân si đó ta cứ kẹt trong đó mãi không ra được. Đó chính là vòng luân hồi.

    Nếu ta giác ngộ, chấm dứt tham sân si thì cái vòng luân hồi của khổ đau đó biến mất, ta thoát ra khỏi vòng cương tỏa cuả nó, thoát ra khỏi vòng luân hồi, tâm ta tĩnh lặng, an lạc. Đó là Niết Bàn.

    Niết Bàn có ở đây, kiếp này, trong ta.

    Thích

  9. Hi chị QL, như anh Hoành nói chị đừng lo là sai,và đừng lo Phật tử chân chính nổi giận, Phật tử chân chính sẽ không bao giờ nổi giận , chỉ có tín đồ mới nổi giận chị ạ ..tuy nhiên ta nên hạn chế dùng từ chân chính và không chân chính ạ, điều đó khiến mình nhiễm mất cách hay phân biệt ,không tốt cho mình ,đôi khi những thói quen nhỏ không để ý sẽ thành lối mòn ăn rất sâu,,hihi
    Em rất thích lối suy nghĩ logic của chị, đó là logic, nghĩa là nhìn mọi vật theo cách nhìn khoa học ,có vật chứng rõ ràng, và cái gì không nhìn thấy nghĩa là không có , cái đó làm ta cảm thấy ta có cảm giác tỉnh táo .Em cũng là người rất logic từ nhỏ,em không bao giờ tin nếu mình không sờ, nhìn thấy tận mắt,và phải giải thích được em mới thôi,nhưng đồng thời em cũng phát triển giác quan thứ 6 từ nhỏ, trớ trêu thế đấy chị ,nên đôi khi, em trở nên bị lẫn làm sao ấy, em đôi khi không hiểu nó là gì,những cái mà người khác không nhìn thấy nhưng mình thì thấy, và em đã cố gắng nghĩ nó một cách logic,nhưng càng tìm ra vật chứng em càng lẫn lộn, cuối cùng em đành trung hòa, buông xả..đôi khi có điều gì đó xảy ra em vẫn bị lẫn lộn,vì em vẫn còn rất logic, em chỉ muốn được giải thích ,vì điều đó rất quan trọng,chính vì thế mà em đã hỏi câu hỏi trên,hi vọng là mình có thể suy nghĩ một cách logic được mọi thứ,nhưng có lẽ sự thật cuộc sống có phần là không thể logic , bề nổi có thể logic,vật chất có logic,nhưng ẩn sau nó sẽ là phi logic,nghĩa là không thể giải thích được…chỉ còn biết cách ..chấp nhận nó là….Em đã đem mình ra thí nghiệm đủ thứ để tìm hiểu xem thực sự sau chết còn gì không, thậm chí mon men vào những nơi gọi hồn để ngồi thử xem vong nhập thế nào,và làm rất nhiều thứ khác , ha ha, em phát hiện ra rất nhiều điều thú vị, nếu có dịp chị em mình gặp nhau em sẽ kể cho chị nghe, nếu kể ở đây em e rằng sẽ làm ai đó không vui…Không ai có thể làm mình tin nếu mình không thử ,con người là thế đó, có thể họ chấp nhận đau khổ,thậm chí mất mạng , vùi dập mới tin, nhưng cũng chính qua đau khổ con người mới khao khát buông bỏ những thứ làm mình đau đớn,em rất tin chỉ những người không biết làm gì với tiền mới có thể không còn bị ám ảnh về tiền,những người đỉnh cao của quyền lực mới không bị ám ảnh về quyền lực, …nếu không chỉ là việc chuyển từ hình thức này sang hình thức khác ,và những người rất logic sẽ đến lúc chấp nhận cái phi logic. Từ một người vô thần và bị lẫn lộn bởi các giác quan mang lại em đã tìm đủ thứ từ các đền, đồng cốt, cầu cơ rồi cuối cùng em tìm đến kinh Phật để tìm câu trả lời cho mình: mình là ai,tại sao mình sinh ra,mình phải sống thế nào, vũ trụ con người là thế nào …và tâm thức cao nhất của con người là gì ,làm sao mình có thể sống hoàn toàn an lạc,không sợ hãi, làm sao mình có thể yêu tất cả mọi người ,mọi vật ? đến giờ em vẫn chưa hoàn toàn hài lòng tìm ra các câu trả lời và em nghĩ chắc mình cần thực hành nhiều hơn là cố tìm lời giải thích.
    Dear anh Hoành!
    Em còn chưa thực tập thiền nhiều ,em chưa có duyên được thầy nào dạy dỗ , em chỉ mới nghiên cứu trên sách vở về thiền tông Việt nam ,cụ thể nhất là thời vua Trần và vua Lê, phái Trúc Lâm yên tử anh ạ , em rất thích các bài giảng của thầy Thích Thanh Từ, anh chắc đã đọc các bài giảng của thầy rồi, có lẽ em có duyên với thiền,vì nhờ thiền em mới hiểu rất nhiều vấn đề về giáo lí nhà Phật và học được cách nhìn tỉnh táo ,và mới hiểu phần nào tâm kinh , bài kinh mà trước đây em đọc như vẹt ,nhưng không hiểu gì cả, chỉ nhớ mỗi có ,không, mặc dù được nghe giảng giải nhưng chỉ khi hiểu tâm yếu của thiền về sanh diệt em mới hiểu rõ hơn về tâm kinh, và em rúng động thực sự khi hiểu ra những gì tâm kinh nhắc đến .Hầu như sau bài kinh nào đều cuối cùng là tụng Tâm kinh, sau này em mới hiểu vì sao , vì đó là điều rốt ráo nhất , là buông xả cuối cùng để các bồ tát giải thoát hoàn toàn .
    Nếu không nhờ thiền chắc em không thể gặp ĐCN.
    ”Ở đây, lúc này ”có phải là trạng thái không sinh không diệt không anh ,thế thì chẳng phải đó là Niết bàn ạ, có phải vì thế mà các thiền sư cứ nhắc đi nhắc lại không tương lai, không quá khứ, ở đây, bây giờ phải không ạ?

    Thích

  10. LOL! Rất vui khi đọc phản hồi của Phong Lan.:D

    Linh nói “Phật tử chân chính” tức những người tự nhận mình là Phật tử chân chính và nổi giận với cách suy nghĩ của Linh, chứ Linh không phải Phật tử chân chính, làm sao có thể phán xét ai là Phật Tử chân chính hay không chân chính! 🙂 Và một ý nữa là nói “Phật Tử chân chính” để phân biệt với những “Phật Tử nửa mùa” như Linh: cũng bập bõm đọc Kinh Phật nhưng lại tự tìm đường hiểu/diễn giải riêng của mình.

    Nhân nói một chút về logic và giác quan thứ 6. Linh nhận mình là người không có giác quan thứ 6 vì nếu không có 1 chút manh mối nào, Linh không thể cảm/đoán được điều gì, điều đó không có nghĩa là mình không có khả năng phán đoán, thậm chí khả năng phán đoán nhiều lúc không tồi, nhưng mọi phán đoán đều phải dựa trên manh mối nào đó.

    Theo kinh nghiệm của bản thân Linh và những gì Linh quan sát được, Linh thấy người logic nhiều dễ mắc vào một số vấn đề sau đây:

    1. Kết luận những cái mình không thấy/ không chứng minh được sự tồn tại nghĩa là không có. Đây là một suy luận sai. Vì mình không nhận thức được sự tồn tại của sự vật thì không chắc đã là không có.

    2. Thấy xung quanh những điều “phi logic” rồi đi đến bác bỏ logic hoặc bác bỏ sự tồn tại của sự vật phi logic đó. Linh cũng thấy đó là sai. Giờ Linh thấy mọi sự đều có logic của nó cả. Chỉ là mình chưa hiểu được logic của nó mà thôi: thiếu thông tin khách quan, hoặc thiếu thông tin chủ quan của chủ thể. Thông thường nếu một điều không thể tìm thấy logic, mình cần bước ra ngoài những suy nghĩ cũ, bước ra một tầm cao mới để thấy được sự logic của nó, kiểu như trên mặt phẳng không thể có hai đường thẳng không song song mà cũng không cắt nhau, vậy thì trong không gian có thể có. Có thể có điều nào đó tồn tại hoàn toàn phi logic – nhưng đến giờ thì Linh chưa thấy! 🙂

    Trong quan hệ với tâm, đối với mình, logic chỉ là công cụ của tâm. Vì logic của mình, hay tri kiến của mình, luôn có giới hạn, không trọn vẹn, nên cũng chẳng nên cố chấp ở những điều mình biết mà nên nhường quyền quyết định lại cho tâm. Sau khi tâm đã định hướng rồi, logic mới tập tễnh theo sau lát đường cho nó: lí giải thiệt – hơn, tìm giải pháp hiệu quả, … Vì “logic” quá … logic nên nó chỉ là một công cụ chết, còn chính “tâm” mới thật sự sống. Và cũng vì thế mà ta cần tu tâm, để tâm có thể dẫn đường ta một cách đúng đắn.

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s