Ca bình minh

Đấy là tên tập thơ của chị Lý Phương Liên tặng gia đình tôi đúng vào ngày 28 tết. Anh Nguyễn Nguyên Bảy cùng chị Lý Phương Liên và cô con gái út Nguyễn Lý Phương Ngọc, một họa sĩ trẻ đầy tài năng ra Hà Nội ăn tết, nơi mà trước đây anh chị đã nhiều năm công tác tại Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam và đã từng nổi đình đám với những vần thơ lạ. Cuốn sách được in rất trang trọng và đẹp mắt, ngoài 46 bài thơ trong trẻo, thấm đẫm tình người và tình đời chị sáng tác từ khi còn rất trẻ, là các bức tranh đầy chất sáng tạo và trẻ trung của họa sĩ Nguyễn Lý Phương Ngọc. Cầm cuốn sách dầy dặn in trên giấy tốt và bìa cứng, đã biết tác giả trân trọng công sức sáng tạo của mình và tôn trọng bạn đọc đến nhường nào.

Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần lời nói đầu với cái tên giản dị: “Lý Phương Liên mở lòng”. Có ai ngờ được cuộc sống của anh chị lại lắm thác ghềnh đến thế, chị tâm sự: “Năm 1971 thơ xuôi dòng thơ bỗng dưng gặp thác thơ, thác thơ dữ quá, vợ ôm con, chồng ôm vợ, khóc nhìn trăng mà vùng quẫy, mà chiến tranh cùng sóng gió, mà thề rằng: chết thì cả nhà cùng chết, bằng sống thì nhất định không để đắm thuyền thơ”. Ôi! Có mấy ai trên đời này yêu thơ, yêu cuộc sống đến như vậy không? và có mấy ai người tri âm tri kỷ cùng sống chết có nhau vì cuộc sống và vì thơ như vậy chăng? Thế rồi người thơ ấy vượt lên tất cả: “Chúng tôi Lý Phương liên và Nguyễn Nguyên Bảy lại bồng con xuống thuyền thơ xuôi sông trẩy hội đời”. Lời tâm sự tưởng nhẹ như không ấy lại là cả một quá trình vật vã đấu tranh với sóng gió để giữ vững tay chèo cho con thuyền đời và con thuyền thơ vững vàng trong vòng xoáy bể khổ. Với anh chị, thơ là đời và đời không thể thiếu được thơ, như linh hồn không thể tách rời thể xác. Anh chị nhận thức rất rõ qui luật của tạo hóa, cái nghiệt ngã tất yếu của cuộc sống nên nương tựa vào nhau vượt lên số phận. Chị dành cho anh những lời đầy ân tình mà bất kỳ người đàn ông chân chính nào cũng khao khát được người vợ yêu quí của mình bộc bạch: “Người liên quan đến thơ tôi và chịu nhiều cay đắng oan ức vì thơ tôi, là Nguyễn Nguyên Bảy, tình yêu của tôi, chồng tôi, người thầy duy nhất dạy tôi làm thơ và cùng tôi tu thân làm người tử tế… nếu trời cho em sống cùng lúc hai cuộc đời em cũng chưa đủ trả cái nghĩa yêu và cái ơn tình mà anh đã dành cho đời em và cho thơ em”.

Tôi biết anh chưa lâu nhưng cũng đủ hiểu về anh chị, hôm nay mới được gặp chị và cháu nhưng bằng nhiều nguồn thông tin, tôi biết chắc rằng anh chị và các con cháu là những người tử tế, chưa nói rằng là người tử tế hơn nhiều người tử tế. Chỉ riêng chuyện chị không hề than trách số phận, không hề trách ai đã làm cho con thuyền thơ của anh chị “gặp thác thơ”: “Tôi nín lặng với thơ suốt bốn mươi năm nay vì lời nguyền bỏ thơ của chính tôi, không vì bất cứ sự đe dọa, trù dập hay bất cứ áp lực nào khác. Mọi hệ lụy xô đẩy chúng tôi đến bần hàn và cơ cực không liên quan đến bất kỳ cá nhân nào, quyền lực nào. Mọi ảo thực, tốt xấu tôi tự mình chịu trách nhiệm, không than oán bất kỳ ai, về bất cứ điều gì” đã nói lên đầy đủ điều đó rồi.

Tôi ngẫu nhiên tìm đọc bài thơ: “Ca bình minh”, bởi bài được đặt tên cho cả tập nhiều khi mang cái hồn cốt của cả tập thơ. Thật bất ngờ vì bài thơ chị làm cách đây bốn mươi năm mà ý tứ mới lạ, cách thể hiện đầy sáng tạo. Đề tài tưởng chừng không mới kia “đi làm ca ba” ngày ấy có gì mà lạ, đất nước đang còn khó khăn, làm ca ba để hoàn thành công việc, để có nhiều sản phẩm hơn cho đất nước, đặc biệt lúc đó miền Bắc là hậu phương lớn của miền Nam, lại chuyên chở những ý tưởng mới lạ, đầy sáng tạo và lạc quan chắp cánh cho tứ thơ bay lên.

 

CA BÌNH MINH

Em đi làm ca ba
Đêm buông đầy đường phố
Hà Nội vào giấc say trẻ nhỏ
Em đi giữa lòng đường
Hát khẽ…
Tuổi ca ba rất trẻ
Đêm ca ba lại dài
Mười tám, đôi mươi
Tuổi như em khỏe ăn khỏe ngủ

Bạn bè em có nhiều ý lạ
Khi nói tới ca ba
Ca của những đêm hè trời đầy sao hoa
Ca của những đêm đông bập bùng ánh lửa
Còn em với niềm vui bé nhỏ
Em gọi ca ba là ca bình minh
Ý nghĩ ấy gặp em như một sự vô tình
Đêm ca ba đi dọc đường Nam Bộ
Tay vẫy chào những đoàn tàu rời ga Hàng Cỏ
Đưa bộ đội lên đường
Các anh đi suốt ca ba thẳng tới chiến trường
Đón bình minh đất nước
Và một đêm ca ba hôm trước
Chị hàng xóm nhà em trở dạ đầu lòng
Nước mắt lưng tròng
Ôm bụng đau quằn quại
Miệng lẩm bẩm những điều sợ hãi
Em dìu chị đến nhà hộ sinh
Sáng hôm sau gió cao trời xanh
Chị hàng xóm đón em tiếng oa oa con khóc

Ai cũng muốn mỗi ngày là một ngày sống đẹp
Đêm thao thức cho ngày
Ơi ca ba! Ca ba em đi vào hôm nay
Đã thấy bình minh trước mặt

Khổ thơ đầu mới đọc chỉ như một lời tự sự nhưng khi gặp đảo ngữ: “Hà Nội vào giấc say trẻ nhỏ” thì đã thấy cái chất thơ đích thực, hứa hẹn gợi mở những điều mới lạ. Lúc đó chị cùng các bạn còn trẻ lắm, vô tư, yêu đời nên mới: “Em đi giữa lòng đường/ Hát khẽ…”. Hát bởi tin yêu vào cuộc sống, hát bởi sức trẻ phơi phới tin yêu. Câu thơ trẻ trung và trong sáng sưởi ấm cho các chị trong đêm. Hai câu thơ “Tuổi ca ba rất trẻ/ Đêm ca ba lại dài” như hai vế của một câu đối rất hiện thực và cái cách thay đổi kết cấu ấy làm cho khổ thơ chở đầy suy tư với câu hỏi: tại sao “tuổi ca ba thì rất trẻ”, còn “đêm ca ba lại dài”. Những ai đã từng đi ca ba trong điều kiện đất nước mới có thể hiểu được ý tứ sâu xa qua câu thơ tưởng chừng đơn sơ ấy.

Bài thơ đưa người đọc đến với những ý tưởng lạ lẫm, vô tư, bay bổng của tuổi trẻ, các bạn của chị coi đấy là: “Ca của những đêm hè trời đầy sao hoa/ Ca của những đêm đông bập bùng ánh lửa”. Tuổi trẻ đầy mơ mộng và viễn cảnh về cuộc sống mới tốt đẹp làm sao. Còn chị: “Em gọi là ca bình minh”. Từ hiện thực mỗi khi tan ca về gặp bình minh mai sớm đã được thi vị hóa thành một hình tượng thơ đắc địa. “Ca bình minh”, của một ngày mới, của một chân trời mới của mỗi người và đất nước. Chị ý tứ: “Ý nghĩ ấy gặp em như một sự vô tình” nhưng đâu có “vô tình” mà có được hình tượng thơ đẹp đến như vậy, chị đã từng bao đêm đi ca ba, bao lần:

Tay vẫy chào những đoàn tàu rời ga Hàng Cỏ
Đưa bộ đội lên đường
Các anh đi suốt ca ba thẳng tới chiến trường.

Ngày ấy đất nước còn bị chia cắt, “tất cả vì miền Nam thân yêu”. Các chị đi ca ba hay các anh bộ đội “thẳng tới chiến trường” để một ngày không xa được: “Đón bình minh đất nước”.

Trong bài thơ cất lên một âm thanh rất lạ, dù lúc đó chị còn rất trẻ nhưng có lẽ cái thiên chức của người phụ nữ và sự nhậy cảm của một hồn thơ dẫn cho mạch thơ của chị đến được âm thanh tuyệt diệu của cuộc sống ấy: “Chị hàng xóm đón em tiếng oa oa con khóc.” Cuộc sống vốn như thế đấy, mãi sinh sôi bất tận. Cái tiếng oa oa của đứa trẻ mới chào đời trong “gió cao trời xanh” ấy hứa hẹn một mùa xanh cho tương lai.

Khổ thơ cuối như một phương châm sống của chị, của những người tử tế: “Ai cũng muốn mỗi ngày là một ngày sống đẹp”. Nên chị tin:

Ơi ca ba! Ca ba em đi vào hôm nay
Đã thấy bình minh trước mặt.

Mấy chục năm rồi, niềm tin vào ca ba ấy đã thành hiện thực. Đất nước hòa bình thống nhất và gia đình chị hôm nay cùng bao gia đình khác luôn có: “bình minh trước mặt”. Cái ẩn dụ tinh tế “ca bình minh” xuyên suốt bài thơ chợt tỏa sáng tươi hồng như ngọn lửa ấm mãi trong mỗi con người.

Đọc bài thơ của chị Lý Phương Liên sáng tác từ bốn mươi năm trước mà vẫn tươi mới trong cuộc sống hôm nay. Ca ba – cái sự phấn đấu ngoài cái thông thường: đêm – ngày, thức – ngủ… kia sẽ đem lại bao điều tốt đẹp. Bởi vậy dù trong: “Lý Phương Liên mở lòng”, chị có khiêm nhường tự nhận thơ mình là: “những bài thơ học trò bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường” thì đó là bản chất của chị, chưa nói đó là bản lĩnh của một người thơ luôn chung thủy với thơ, chắt ra từ cuộc sống những bài như thế. Và tôi tin “Ca bình minh” sẽ sống mãi trong lòng những người tử tế!

Hà Nội chiều 31.1.2011
Trần Vân Hạc

Các bạn có thể đọc đầy đủ tập thơ Ca Bình Mình của chị Lý Phương Liên tại đây

Một suy nghĩ 8 thoughts on “Ca bình minh”

  1. Đây là một bài thơ giản dị, trẻ trung, trong sáng, hào hùng và rất lạc quan. Rất hay.

    Năm 1995 (hay 1996) có một chị ở Đài Tiếng Nói Việt Nam phỏng vấn mình ở Hà Nội, không biết có phải chị Lý Phương Liên không mà mình có lảm tưởng tên chi nghe quen.

    Số lượt thích

  2. Chi Lý Phương Liên tên quen lắm lắm với lứa chúng tôi những năm 1970, mưới tám đôi mươi. Ngày ấy chỉ có thơ chị Liên là nhất. Tiếc thay, sau đó chị bị các ngài cồ cồn trắng cho vào lãng quên. Nay chị đã là bà Liên trở lại với thơ vẫn tài tình phong độ như ngay nào.
    Chị LPL không làm việc ở Đài phát thanh, có lẽ bạn Hoành đã nhầm với chồng chị nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy cũng oai hùng thơ như vợ…

    Số lượt thích

  3. Xin cung cấp cho Đọt Chuối Non ( trang Web tôi trọng và thích) một số thông tin thêm về nhà thơ Lý Phương Liên và thơ của chi.

    “Thơ Lý Phương Liên xuất hiện đột ngột,bất ngờ bởi một thi pháp lạ, mới mẻ, không gò bó theo khuôn mẫu truyền thống,cả về cảm xúc, ý nghĩa, hình thức thơ; ngôn ngữ giầu nhạc tính tạo được cảm xúcthơ thực thơ, được người thưởng thức thơ ngày ấy cảm tình ngay từ chùm thơ đầu.Nửa năm sau chị được ưu ái in “bao cấp” tập “Ca bình minh” ở nhà NXB – LĐ(*). Bài “Ca bình minh” được lấy đặt têncho tập thơ đầu tay và cũng là tập thơ cuối cùng của chị cho đến nay (2003).

    – “Em đi làmca ba
    Đêm buông đầyđường phố
    Hà Nội vàogiấc say trẻ nhỏ!
    Em đi giữalòng đường
    Hát khẽ
    (con gái thường vẫn thế)
    Tuổi ca ba rất trẻ
    Đêm ca ba lại dài
    Mười tám, đôi mươi
    Tuổi như emkhỏe ăn khỏe ngủ.
    Bạn bè em cónhiều ý lạ
    Khi nói tớica ba
    Ca của nhưngđêm hè trời đầy sao hoa
    Ca của nhữngđêm đông bập bùng ánh lửa
    Còn em vớiniềm vui bé nhỏ
    Em gọi ca balà ca bình minh
    Ý nghĩ ấy gặpem như một sự vô tình
    Đêm ca ba đidọc đường Nam Bộ
    Tay vẫy chào những đoàn tàu rời ga HàngCỏ
    Đưa bộ đôi lên đường
    Các anh đisuốt ca ba thẳng tới chiến trường
    Đón bình minh đất nước…”.

    “Ca bình minh” được phổ nhạc, được hát trên các sân khấu của những người lao động, trên sàn diễn các nhà văn hóa, được hát nhiều lần trên các làn sóng đài phát thanh tiếng nói VN. Tiếp đến báo Văn nghệ Hội Nhà văn in bài thơ khác của chị, bài “Nghĩ về Thúy Kiều (Trò chuyện với Thúy Kiều)” nhân kỷ niệm 200 ngày mất của thi hào Nguyễn Du. Bài thơ đó mở đầu bằnghai câu:

    – “Hai trăm năm có thể dài vô hạn
    Thúy Kiều ơi nàng sống tháng năm dài…”

    Và cứ thế, niềm suy tư, ray rứt, bângkhuâng của cô gái chưa đầy hai mươi tuổi về thân phận nàng Kiều. Nàng Kiều ấylại không của Thanh Tâm Tài Nhân, không của riêng Nguyễn Du. Đó là nỗi đau thânphận, nỗi đau kiếp người ở mọi xã hội khác nhau, mà xã hội nào thì cũng thừa TúBà, dư Sở Khanh, nhan nhản Ưng Khuyển. Đồng tiền muôn đời vẫn là quỷ la ma đổitrắng thay đen; bể trầm luân vẫn dìm, vẫn đầy dọa bức hiếp những kiếp người,kiếp nghèo vẫn ngoi ngóp nổi chìm bởi cái vòng “kim cô” luôn xiết chặt quanhđầu người lương thiện làm họ đau đớn, muốn cở bỏ mà không đủ phép mầu, cứ “cái bất công này xóa bỏ bất công khác lạitrồi sinh” (Hêghen). Sau bài thơ “Trò chuyện với Thúy Kiều” định mệnh ấy,Lý Phương Liên như một vết sao băng vừa lóe sáng đã biến mất khỏi bầu thời thica từ đó đến nay. Tại sao chị không làm thơ nửa? Bị thôi tài chăng? Khó tin! Aiđã có chút máu mê thơ phú thì dù làm thơ có dở chăng nữa cũng không bao giờ từbỏ niềm đam mê “cái công việc khổ sai màai đã vướng vào thì không sao gỡ ra cho được” (Bùi Ngọc Tấn). Không làm thơđăng báo, đăng đài được thì họ làm thơ để đọc ở các câu lạc bộ thơ phường thơxã… chưa ai nhụt chí, bỏ cuộc bao giờ.

    Hồi ấy thi đàn miền Bắc đang cònnguyên những cây đa cây đề xòe tán xum xuê che rợp cả bầu trời thi ca. Cây đacây đề nào cũng như ả gái già ế chồng đốc chứng khó tính, giương mục kỉnh sămsoi, đe nẹt từng câu, từng chữ, từng vần… từng cái dấu chấm, dấu phẩy của nhữngkẻ dám mon men vào thánh địa cấm kỵ – Thánhđịa thơ! Vậy mà một cô gái 20 tuổi con nhà phó thường dân dám ngang nhiênxuất hiện với bài thơ tình “Lời ru vớianh” sướt mướt như muốn níu chân những đoàn quân đang trên đường ra trận!Chưa thôi, còn toang toang lên, hết bài “Ca bình minh” với những đêm không ngủ,đớn đau không biết làm gì trước những số phận hẩm hiu đành ngôi trò chuyện ThúyKiều bạc mệnh, để: “Ai cũng muốn một ngàylà một ngày sống đẹp/ Đêm thao thức cho ngày”, biến cái thể thơ mực thướctừ nghìn đời thành những câu cú “thiếu thốn” lung tung. To gan! Tha không nọcra mặt báo đánh đòn hội chợ là may đời rồi còn được khen hay, khen hiện đại ầmĩ thế giới có bủ bu thằng Chí Phèo không kia chứ!

    Khi không thấy Lý Phương Liên xuấthiện nữa, họ lại lu lao loan tin thất thiệt: Những bài thơ trên kia của LýPhương Liên do nhà thơ Đ trong nhóm Nhân văn giai phẩm đang bị treo bút làm đưacho Lý Phương Liên đứng tên đăng báo hộ(?!).

    Sao người đời cứ “trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”quá thể. Trường hợp cậu bé Trần Đăng Khoa, năm 11, 12 tuổi làm những câu thơ: “Hạt gạo làng ta/ Có bao tháng ba/ Giọt mồhôi sa/ Những trưa tháng sáu/ Nước như ai nấu/ Chết cả cá cờ/ Cua ngoi lên bờ/Mẹ em xuống cấy…”. Vậy thì, cô gái ở tuổi đang yêu làm được những câu thơ tình: “Lồng con phòng hẹp đôi ta/ Chim bằng chẳng thể quanh ra quẩn vào/ Xa anh nói nhớ làm sao/ Chân đứng tổi kiếnl òng chao gió cánh…” có gì làm lạ? Cái bản chất xấu xí của người Việt Nam “hay ghen ăn tức ở”, hễ thấy người ta giỏi, người ta tài hơn mình là tung tin thất thiệt để hạ bệ, quăng xuống bùn cho bõ tức! Thật buồn cho thói đời nhỏ nhen.

    Quan tâm tới một hiện tượng văn học bị ganh ghét, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã đem thơ Lý Phương Liên ra xem xét một cách nghiêm túc, so sánh tính biểu cảm ngôn từ, tu từ học để xác định tính lô gích của văn phong; phong cách cấu trúc ngôn ngữ giữa ngôn ngữ thơ Lý Phương Liên với ngôn ngữ thơ của nhà thơ Đ, vì “thơ phát ra bằng tần số rất riêng của từng người, không lẫn lộn” (Hoàng Hưng). Tiếc thay, thơ ấy, phong cách ngôn ngữ ấy vẫn “chính hiệu” ngôn ngữ thơ Lý Phương Liên từng thể hiện đồng nhất như cây nào ra thứ quả ấy… thật buồn cho anh Tào Tháo!

    Dăm năm cuối thế kỷ 20, sang đầu thếkỷ 21 người ta tự bỏ tiền túi in thơ tung hoành như bướm bướm đem tặng nhaunhững thứ thủ dâm tinh thần nhạt thếch đem bày cho đầy giá sách để làm sang. Cóanh nhà giàu in đến mười mấy tập thơ dạng báo tường báo liếp hòng trở thành nhàthơ lớn, hòng ra nhập Hội Nhà văn! “Thơnhạt cũng như rượu nhạt, chẳng làm say được ai” (Vân Long). Thèm danh quáhọ hò hét nhau đổi mới thơ, loại bỏ thứ thơ cúng cụ, bốc thơm, “loại thơ suỵt chó bụi rậm”(Lưu Quốc Ấn)mà họ từng “kinh nhật tụng” trước đó, tìm đường quay về với cái tôi thân phận,điều mà Lý Phương Liên đã làm từ khi họ đang mê mẩn: “Tôi: người viết những câu thơ cổ võ/ Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi lúc xung phong” (ChếLan Viên – di cảo). Những năm gần đây bao nhiêu cuộc hội thảo bàn tròn, bànvuông về thơ, nhưng người ta vẫn cố tình lờ tịt không hề nhắc đến Lý Phương Liên,người khởi xướng việc cách tân thơ từ trên ba mươi năm trước lấy nửa chữ. Ô! Thật buồn cho cái sự công bằng, cái hiên ngang kẻ sĩ!”(…).

    (Trích trong cuốn: Giới thiệu các luật thơ, thể thơ, cách làm thơ – NxB Văn Hóa dân tộc – Hà Nội (2004)

    Mong rằng những thông tin này nhờ Đọt Chuối Non góp một lời nhỏ đòi lại công bằng chính đáng cho thơ và người làm thơ Lý Phương Liên trước cộng đông mạng, đúng như tôn chỉ của Đọt Chuối Non Tư duy tích cực mỗi ngày.

    Số lượt thích

  4. TIẾP CA BÌNH MINH

    Cái nghèo chẳng dễ hiểu đầu
    Xa sâu như tiếng đàn bầu trong khuya
    Linh thiêng lời mẹ dăn dò
    Kiếp người là một gánh lo hãi hùng…

    11. DẶN EM TRAI

    Sáng mai em lên đường
    Có nghĩa là sáng mai tay em cầm súng
    Em quí em yêu em thương em nựng
    Sáng mai em người lớn thật rồi…
    Con chuồn chuốn ngày nhỏ nhởn nhơ chơi
    Con ve sầu đùa suốt ngày hè trên cành sấu
    Mai em đi từ nơi này yêu dấu
    Nơi có căn nhà nuôi tuổi thơ em
    Nơi những kỷ niệm cao như những cột đèn
    Nơi có các em em cũng là nơi có chị
    Em lên đường đánh Mỹ
    Từ nơi này yêu dấu em đi
    Chị muốn dặn dò em nhưng chẳng biết dặn gì
    Nhà ta có mình em ra trận
    Chị nhắc em điều này vì chị muốn như em
    Thành tầm bay của những mũi tên
    Nhưng chị đã thành trụ cột gia đình ta mồ côi cha mẹ
    Em hãy coi chị như người chiến sĩ
    Dù gia đình ta mình em được được lên đường
    Ngày mai mẹ sẽ về đầu hôm
    Đưa em đi mắt đỏ hoe mẹ giục
    Em có nghe tiếng trái tim mình đập ran lồng ngực
    Trái tim em mẹ ấp ủ suốt đời
    Chị không thể nói thành lời
    Tai em đã nghe tiếng mẹ kêu chìm trong tiếng bom giặc Mỹ Chị không cần dặn em những điều chị nghĩ
    Mẹ đưa em lên đường
    Khấu súng em cầm
    Lời mẹ dặn yêu thương
    Em chị sẽ làm gì là điều chị biết…
    Hãy lên đường em nhé
    Yên tâm
    Đành là chị ở nhà phải gánh phấn vất vả
    Nhưng vất vả nhất là nơi bom lửa
    Nơi ngày mai em tới đạn lên nòng
    Chị của em không biết dối lòng
    Em lên đường đừng băn khoăn cho chị
    Hãy hoàn thiện đàn ông bằng đời chiến sĩ
    Và nhất định phải trở về
    Bé bỏng của chị ơi…
    Đêm hôm nay chị muốn thật dài
    Sẽ nói bao nhiêu điều sao chị ngồi im lặng
    Em ngủ ngon rồi
    Nhưng mà em hiểu lắm
    Khẩu súng em cầm mang lời dặn của chị theo…

    Nguồn: http://nguyennguyenbay.com/

    12. EM MƠ CÓ MỘT PHIÊN TÒA

    Phiên tòa mở ngay trong nhà em
    Vòng trong vòng ngoài là bà con hàng phố
    Cụ già cháu nhỏ…
    Nét mặt trang nghiêm
    Ghế chánh án một hàng
    Ban đại biểu, dân phòng, hộ tịch…
    Vành móng ngựa sát góc
    Bầy tù binh Mỹ gục đầu
    Năm chị em em ngồi sát vào nhau
    Ngực nén đầy tiếng khóc…
    Những vòng hoa thơm ngát
    Xếp quanh
    Như tấm lòng nhân dân
    Vây quanh quan tài mẹ
    Và sau làn hương thầm thoảng nhẹ
    Mẹ em về
    Mẹ em về
    Mẹ em về làm một người nhân chứng
    Ai đã nhìn thấy súng
    Ai đã nhìn thấy bom
    Ai đã nhìn thấy cảnh mẹ con
    Chiều chiều vây quanh mâm cơm có cà
    Và rau muống
    Nhà em nghèo lắm
    Nhưng ấm êm là một gia đình
    Mẹ em hay lẩy Kiều sang canh
    Hàng xóm nghe quen trong im lặng
    Sáng nắng
    Chiều mưa
    Có vất vả có ước mơ
    Đời vẫn sênh sang hạnh phúc
    Thế mà súng chĩa vào lồng ngực
    Nơi có quả tim
    Quả bom
    Cũng ném vào nơi ấy
    Mẹ em đứng đấy
    Người minh chứng của đời
    Mẹ ơi
    Con đã nhìn thấy bom
    Và súng
    Bom và súng
    Giết một dòng sông
    Giết một con đò
    Có mẹ em và năm mươi cuộc sống
    Cô gái bằng em
    Mắt nhìn vào hy vọng
    Các em nhỏ bằng em em
    Thích chơi bi và chạy trốn
    Bom và súng
    Ai dạy mi giết người
    Bầy giặc lái cúi đầu im lặng
    Có khác chăng sông Hồng
    Dòng Pô Tô Mác nước xanh
    Nước xanh nước hồng đâu cũng nước dòng sông
    Nếu bom đạn Việt Nam đổ xuống dòng Pô Tô Mác?
    Em trừng mắt nhìn lũ người làm giặc
    Chúng im lặng cúi đầu
    Bầy giặc lái cúi đầu im lặng
    Chúng đã tắm tuổi thơ
    Trong lòng mát dòng sông
    Chúng đã ngắm biển đêm
    Sau một dáng trời hồng
    Chúng đã hái nho về ngâm rượu
    Chúng biết mặc áo quần đủ kiểu
    Biết hôm mẹ và hái hoa
    Nhưng tay chúng còn biết cầm cả súng
    Cầm cả súng
    Tay chúng và tay ta
    Hôm nay đều biết cầm cả súng
    Chúng bắn dòng sông Hồng
    Ta không bắn dòng Pô Tô Mác
    Chúng đốt nhà ta
    Ta không đốt những vườn nho của chúng
    Chúng giết mẹ ta
    Ta không giết mẹ chúng
    Chúng đến Tổ quốc ta Việt nam
    Ta không sang Nước Mỹ
    Không phải dài lời về chân lý
    Chúng giết ta thì ta tiêu diệt chúng
    Mẹ của con ơi
    Những người sống trông lên
    Đôi mắt cháy ngời
    Bầy giặc lái cúi đầu câm lặng

    13. THƯ GỬI
    NGƯỜI BẠN GÁI MỸ

    Nếu bạn và cậu Giôn đến nhà mình
    Chắc chắn được đón là khách quí
    Cậu Phát em mình dang đôi tay võ sĩ
    Ôm chầm lấy cậu Giôn
    Chúng vật nhau quay tròn
    Đến nát cả sàn nhà lát gạch
    Cậu Giôn kể chuyện gia đình
    Chào nhà bạn có vườn nho xanh
    Con đường nhỏ sau nhà xuôi dòng Pô Tô Mác
    Kính chào mẹ mái đầu tóc bạc
    Sáng đi hái nho chiều dạy cháu học bài…
    Bạn ơi sao bạn chửa sang chơi
    Có phải vì lý do đường đất?
    Hơn năm nay nhà mình vắng Phát
    Em đi đánh giặc ở chiến trường
    Bạn bảo cậu Giôn chớ coi thường
    Keo vật em thua là nhún nhường bè bạn
    Khi nói chuyện với quân thù bằng súng đạn
    Em có đôi ta mẹ cho
    Mỗi viên đạn một quân thù
    Đơn vị em ai cũng là dũng sĩ…
    Xuân tươi xanh
    Xuân ở đâu chẳng thế
    Bạn cùng tuổi trẻ đổ về Oa Sinh Tơn
    Chúng muốn đẩy cậu Giôn sang Việt nam làm giặc Mỹ
    Bạn thay mình hôn câu Giôn yêu quí
    Hôn lên vầng trán hằn vết dùi cui
    Hôn lên bàn tay khiêng nặng quan tài
    Hôn đôi mắt sáng ngời tiếng hát
    Bạn hãy hôn cho cả phần của Phát…
    Quả đất tròn
    Bạn ơi quả đất tròn
    Sẽ đến ngày chúng ta gặp mặt
    Dù lúc đó tóc râu đều bạc
    Cậu Phát vẫn vật lăn đùng cậu Giôn
    Quanh chúng mình xúm xít cháu con
    Cười rụa ràn nước mắt…

    Nguồn: http://nguyennguyenbay.com/

    Số lượt thích

  5. Tôi thành thật xin lỗi vì đã gửi bài này ít phút trước đây chưa sửa chữa / Bài gửi dưới đây là bài sửa chữa sau cùng/ Nếu sử dụng xin đặng như một bài viết độc lập để trân trọng nhà thơ BNN/
    _______

    Sẽ là thiếu xót và có lỗi với bạc đọc, nếu chúng ta giới thiệu thơ Lý Phương Liên với Ca Bình Minh, mà chưa giới thiệu đôi nét về thơ Nguyễn Nguyên Bảy, người mà LPL gọi là thầy duy nhất của mình. Vì lẽ Tư Duy Tích Cục Mỗi Ngày mà Nguyễn Anh Tuấn viết bài cảm nghĩ ngắn dưới đây về thơ NNB gửi đăng trên Đọt Chuối Non.

    THỬ MỞ MỘT CÁNH CỬA VÀO THẾ GIỚI THƠ
    NGUYỄN NGUYÊN BẢY *

    Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Anh Tuấn

    Trong một bài thơ, NNB hé lộ cho người đọc thơ biết lai lịch đời anh cùng xuất xứ những vần thơ đầu tiên của anh:

    Nơi ấy, các cô gái đều là tiên nữ

    Áo quần mớ bẩy, mớ ba

    Yêu nhau bắc cầu giải yếm

    …Nơi ấy các bà tiên dạy tối biết khóc

    Các bà tiên dạy tôi biết cười

    …Nơi ấy là kinh thành cổ tích

    Nơi ấy là đời tôi…

    Và trong một bài viết ở trang mạng Nguyennguyenbay.com, chúng ta đọc được những dòng sau:

    “Tôi là một nghiệp dư thơ. Một nghiệp dư say mê thơ điên cuồng, chép chép ghi ghi và chôn ghi ghi chép chép ấy vào mộ huyệt của im lặng, chỉ thỉnh thoảng, không cưỡng nổi điên khùng, nửa đêm thức giấc, ngửa mặt nhìn trời đọc thơ gửi mây, tặng gió.”

    Nhưng, những dòng tự bạch bằng thơ đầy thi vị lẫn trần trụi văn xuôi trên chỉ giúp ta có thêm mối đồng cảm ban đầu khi đọc thơ NNB, chứ tuyệt nhiên không giúp ta mở thêm một cánh cửa để dễ dàng bước vào thế giới thơ anh! ( Xin được dùng lại khái niệm” Thế giới thơ” mà GS Hoàng Như Mai đã viết về thơ NNB).

    1. Ta có cảm tưởng, thơ NNB giống như một cuốn kinh đồ sộ tập hợp biết bao suy tưởng cảm nhận của người thơ về đời sống, về cội nguồn của đời sống và của thi ca… Song cuốn kinh ấy lại tựa ma trận của lòng người mà bản thân người làm thơ cũng phải thấy ngợp, đôi lúc có cảm giác chết chìm, có điều đã luôn phải vùng quẫy để thoát ra khỏi cơn lũ ngôn từ và ấn tượng để quan sát, để chiêm nghiệm; và trong khi quan sát chiêm nghiệm đời sống thì quan sát chiêm nghiệm ngay chính những ấn tượng, những kinh nghiệm sống cùng quan niệm xử thế của mình, để rồi từ đó, “Thơ đã ra đời như những liều thuốc giải độc trí tuệ, vì nếu thơ không được sinh ra hẳn tôi đã mắc chứng điên và bị buộc phải vào nhà thương Thường Tín. Thơ đã ra đời như một thách đố tôi, một tự tôn tôi, một khẳng định tôi, một kiêu hãnh tôi đối nghịch với mời gọi của cơm áo và danh giá…”- như chính tác giả tự bạch. Như vậy đối với NNB, làm thơ chính là một cách ứng xử chủ yếu với đời, một cách bảo vệ phẩm giá đặc biệt, một vũ khí hữu hiệu chống lại sự đểu giả, là một lý do và một phương thức chính để tồn tại…

    Nhưng trong khi “tìm cho mình một con đường khác, lầm lũi riêng mình, lầm lũi yêu thơ”, NNB hầu như không bao giờ hoàn toàn hòa nhập vào cảnh ngộ, mà anh thường có góc riêng kín đáo nhìn đời, nhìn chính thân thế và tâm trạng của mình để phát hiện ra các thi tứ và “tụng” thành thơ sau khi đã âm thầm vượt qua bao nỗi buồn đau cay đắng. Thơ NNB làm ta liên tưởng tới hệ thống sân khấu của Bertolt Brecht- các diễn viên ra sàn diễn cho người xem biết mình sẽ đóng vai gì trong vở, sẽ trình bày vấn đề gì ( trái ngược với hẳn hệ thống sân khấu của Stanilavski ngay từ đầu đã cuốn người xem vào ảo giác, đồng nhất diễn viên và nhân vật ); điều này chẳng xa lạ với nguyên lý mỹ học của sân khấu dân gian VN ( như chèo) mà một trong những cốt lõi của nó là cách điệu hóa và xa lạ hóa – “Ta ra đây có phải xưng danh không nhỉ?”… Sau khi đã tạm thời “hóa thân” vào nàng Kiều và các nhân vật của Truyện Kiều, vào Từ Thức, vào các bà Tiên, vào Sông Cái, vào Kinh thành Cổ tích, vào Thánh Thơ,… nhà thơ dần lùi xa khỏi những nhân vật tưởng tượng để bắt đầu miêu tả, dựng lên thế giới tinh thần của họ – bằng cách đó mở rộng đến gần như là vô hạn biên độ của xúc cảm và tư duy nhận thức cho bản thân sau đó là cho người đọc. Sau khi đã “khách quan hóa” nhân vật trong tưởng tượng, NNB làm công việc khảo sát, đánh giá về thân phận, phẩm cách… của nhân vật đó và đồng thời cũng tự bộc lộ thân phận cùng phẩm cách của chính người thơ. Thường là, từ một nguyên cớ, một biểu tượng giàu sức thuyết phục hay đã từng quen thuộc trong đời sống lịch sử- văn hóa dân tộc, sau khi đã làm giàu có thêm cho biểu tượng bằng nội lực văn hóa thẳm sâu và thăng hoa nó bằng xúc cảm thơ tràn trề, anh quay trở lại đào sâu mãi vào chính nội tâm đang ngổn ngang ( thậm chí có thể còn đang hoang mang nữa) của mình như đã tìm được chỗ dựa, đã tìm được vỉa mạch, và chính tại những chỗ này, khi “Anh bật khóc thành tiếng/ Nước mắt tràn đê” , thơ anh thường lóe sáng một cách thực bất ngờ, khiến người đọc rung động ngây ngất… NNB thường đem cả trải nghiệm đời mình làm chỗ dựa, làm sự tham chiếu cho từng câu thơ một! Và phải chăng điều này cũng đã góp phần quan trọng khiến thơ NNB trở nên vô cùng phong phú- phong phú đến rậm rịt làm người đọc như lạc vào mê hồn trận của chữ nghĩa phập phồng cảm xúc của tác giả nhưng vẫn được tác giả kéo riêng ra một chỗ để suy ngẫm về nhân tình thế thái… ( Tiêu biểu như các bài Từ Thức bơ vơ, Sông cái mỉm cười, Ô cửa vuông trăng, Âm dương, Gia phả, v.v.)

    Nhưng ngay cả khi viết về ( hay viết cho) một đối tượng gần gũi thân yêu nhất, NNB cũng sử dụng biện pháp tạm gọi là “phân thân” này. Trong bài “Hai ngôi sao không lặn bao giờ”, đoạn đầu nhà thơ bày tỏ tình cảm trực tiếp với vợ: “Anh không nhận ra em/ Một năm có là bao xa cách/ Em ủ đầu anh vào ngực/ Anh không thể nào hỏi được/ Sao tiều tụy thế mình ơi?” Nhưng ngay liền đó, nhà thơ tách ra khỏi quan hệ trực tiếp để quan sát người vợ kỹ càng hơn, thông qua biểu tượng là đôi mắt, và đồng thời quan sát miêu tả chính nỗi xúc động của mình- hơn thế, để khái quát về thân phận của người phụ nữ trên “đường đời nhiều cạm bẫy”: “Chỉ còn đôi mắt/ Đôi mắt chạm chạp u buồn/ Một nốt ruồi đẫm lệ/ Chỉ còn đôi mắt/ Đôi mắt vẫn như ngày nào/ Đôi mắt ngày nào tôi nói yêu em/ Đôi mắt khép nhận lời/ Chỉ còn đôi mắt của vợ tôi/ Toàn thân em như cây thị rũ lá/ Khô cành trước gió ban mai/ Chỉ còn đôi mắt/ Đôi mắt kể tôi nghe/ Lưng ngày nắng quật/ Đêm ngồi bỏng vú nuôi con/ Vai gánh nỗi thương chồng/ Đi xa đường đời nhiều cạm bẫy/ Chỉ còn đôi mắt/ Đôi mắt đổ xiêu.” Tới đoạn 3, đoạn sau cùng, nhà thơ lại trở về vị trí trong đoạn thơ đầu, trực tiếp tâm tình với vợ ; nhưng ở đây, đôi mắt đã được tách ra thành đối tượng thẩm mỹ riêng biệt đối với cả hai người, và đó chính là một sự “phân thân” cấp số nhân khiến cảm xúc được dồn nén nghẹn ngào suốt từ đầu bài thơ đến cuối cùng chợt vỡ òa: “Anh ôm đôi mắt ấy/ Bỗng òa đôi mắt khóc/ Tình rụa ràn mặt anh/ Đôi mắt u hoài trong vắt/ Đôi mắt ấy chính là hai ngôi sao trên trời/ Đêm đêm nhìn anh/ Thức với anh/ Đi cùng anh/ Hai ngôi sao không lặn bao giờ.” Thương cảm nhưng không chìm ngập trong nó mà để đúc rút ra được biểu tượng của Cái Đẹp và Tình Thương! Đây có thể nói là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biểu cho phong cách NNB (tạm gọi thế); và nếu tôi có trách nhiệm trong Ban tu thư soạn SGK, tôi sẽ đưa ngay bài này vào chương trình văn học bậc phổ thông trung học!

    Nhìn chung, ở thơ NNB, các yếu tố tự sự ( narrative) và trữ tình ( lyric) hòa quyện khó phân biệt – trong tự sự đã thổn thức trữ tình và khi trữ tình lại đậm đặc tự sự – đó là một thứ tự sự giống thể văn kệ của văn học Phật giáo song lại giàu trực cảm. Sự trang trải thi hứng đến ào ạt không ngăn cản NNB thường cô đúc câu của thơ mình vào một hình thức ngắn gọn, mộc mạc như lời nói thường ngày song có sức nặng triết lý như châm ngôn, tục ngữ và gửi gắm được suy tư thâm trầm của một” thầy phù thủy” chữ nghĩa.( “Có đường bởi có bước chân/ Có ngã ba bởi đời cần tìm nhau” – “Xin đừng hỏi anh vì sao/ Viết hoài chuyện tình hai đứa/ Anh còn gì khác tặng em” – “Em đã trả lại anh cho đời/ Đã trả lại dòng thơ thủ thỉ cho yêu/ Cái chết bỗng trở thành hèn nhát” – v.v. )

    2. Ngay từ những bài thơ đầu tiên của mình, NNB dường như đã có xu hướng huyền thoại hóa những hình ảnh, những chi tiết thơ, những quan sát cùng nhiều thi liệu khác đã trở nên quen thuộc thậm chí mòn sáo nhưng khi nhìn qua “Gằm gằm nỗi gì sau đít chai” cộng với một tình thương trĩu nặng thường trực thì “ngựa lá đa sẽ hóa ngựa thần”… Xu hướng tinh thần và dần biến thành quan niệm sáng tác vững bền này khiến người thơ thỏa sức chìm trong “Ký ức ca dao”, trong “lung linh cổ tích đêm mơ” và biết bao biểu tượng của văn hóa dân tộc gần gũi với mỗi người dân Việt từ thở ấu thơ cho đến khi từ giã cõi đời- dù ở bất cứ nơi nào trên trái đất. Thơ NNB, từ thời xa lắm cho tới gần đây nhất, hầu như chỗ nào cũng ướt lệ và thầm thì âm hưởng những lời ru nao lòng “rợp từng đàn cò trắng” hay “âm âm lời Chinh phụ lời Kiều” … Nhà thơ đi trên “một con thuyền Trương Chi “suốt từ thời tráng niên cho tới ngày lên lão mà chưa hề thấy mệt mỏi, chán nản, ngược lại dường như càng đắm say thêm những gì được thấy được nghe trên con thuyền ấy- kể cả tiếng hát cô đơn xa xót của chính mình… Lắng sâu vào cuộc đời dân tộc, đúng hơn là vào hành trình đau khổ của dân tộc- bằng phương tiện khi là lục bát, lục bát biến thể, khi bằng thơ không vần, thơ văn xuôi- nhà thơ bằng cách đó làm giàu có cho tinh thần mình, để trước hết dạy dỗ các con thông qua những “Bài ru trằn trọc” về những lẽ đời nghiêm trang cảm động- và bài học quan trọng nhất là tình thương, lòng trắc ẩn- cái điều đang thiếu trầm trọng trong hệ thống giáo dục của ta! Tôi bỗng nhớ đến Châm ngôn thứ hai trong việc giáo dục học trò ở một tác phẩm lớn của J.J. Rousseau chính là câu thơ Latin của thi hào Virgile: “Tôi biết điều bất hạnh, chính nó dạy tôi cứu giúp những người đau khổ”. (1) NNB bơi lội hít thở trong cái “trường” văn hóa dân tộc đậm đà tình nhân ái của ông cha từ thở thơ ấu, từ buổi “lần đầu tiên thấy mình lòng tôi chiêng trống”, mà đối với anh dù đi suốt cuộc đời “vẫn là mới sáng hôm qua”… Nhưng không phải nhà thơ vay mượn những hình ảnh ấy, vay mượn những biểu tượng và sự thụ cảm dân gian ấy, mà chúng thực sự là máu thịt của anh, nảy sinh từ trong huyết quản và từ tận tế vi tiềm thức, chúng được chứng thực bằng nỗi đau riêng và nỗi đau chung của anh!… Lắng nghe một cách chăm chú chật vật, giao tiếp một cách đau đớn, đối thoại một cách vật vã, để rồi sau đó nhà thơ chỉ làm cái việc là vội vàng run rẩy ghi lại một cách chân thật những gì mà tiềm thức nói, những gì mà chàng Từ Thức tâm sự, những gì mà Thánh Thơ Cao Bá Quát dạy bảo, những gì mà nàng Kiều thổn thức, những gì mà bà Tiên phán truyền, những gì mà người cha trăng trối… Sự thống nhất khá bền vững của hệ thống thi liệu và cách thụ cảm dẫn tới nghệ thuật biểu hiện rất nhạy cảm với nỗi khổ đau này, theo tôi là một nét đặc sắc riêng biệt khó trộn lẫn với bất kỳ ai của thơ NNB, lý giải phần nào sức cuốn hút gần như huyền bí của thơ anh ( mà nếu là các nhà phê bình chuyên nghiệp sẽ đưa ra lý luận về thi pháp để soi rọi, phân tích, còn một kẻ tay ngang như tôi thì không dám lạm bàn.)

    3. Tạm kết.

    Trong một tập sách đối thoại về thơ rất thú vị mới đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Tùng có dẫn câu nói của nhà thơ Wiliam Carlos Wiliams: “Khó mà có thể tìm ra các tin tức trong thơ, thế nhưng hàng ngày, con người vẫn chết thê thảm vì họ thiếu những điều chỉ tìm thấy trong thơ.” (2) “Những điều chỉ tìm thấy trong thơ” đó- dĩ nhiên phải là thơ thứ thiệt- chúng ta có thể tìm thấy trong từng dòng, từng trang thơ NNB mà ở đó anh đã thành thật đến não lòng kể lại: “Thơ tôi đã ra đời trong tiếng gõ cửa dồn gấp, trong những lời kêu thét bệnh hoạn, trong đói nghèo muốn cuốn đời vào hèn hạ, nhưng nó vẫn kiêu hãnh khóc như trẻ sơ sinh, trên cái bàn chí đứng ba chân (một chân đã mọt gãy), với một gía sách, trong căn nhà lá 8 mét vuông, lợp giấy dầu, cạnh chuồng tiêu, ao bèo, bè bạn với côn trùng và muỗi đói…” Và đây nữa: “Những dòng thủng thẳng này được viết ra trong đói nghèo không thể tả bằng ngôn ngữ và trong những khủng hoảng tinh thân triền miên, vô lý. Nhưng lòng vẫn cố không rời phao thơ để nâng xác, cứu hồn… nếu như bạn biết tôi đã phải sống trong hoàn cảnh nào, về thân xác tôi bị đói rét hành hạ, về tình thần tôi bị ruồng bỏ và canh gác sát sao. Tôi đã chép những chán nản ấy, những thất vọng ấy, những cay đắng ấy vào thơ. Và hân hoan thay, thơ trả lại cho tôi những dòng chữ nghĩa như khí cho tôi thở, như lửa cho tôi chế biến thức ăn, như sông suối cho tôi tắm mát. Đó là đức tin phải có, đức tin phải sáng rạng trong tâm hồn…”

    Thưa Bạn yêu quý thơ NNB, hãy thử, với một cánh cửa tạm mở như trên mà bắt đầu ( hay thêm một lần nữa) bước vào thế giới thơ NNB, và trước hết hãy đọc nó như đọc một tập kinh cầu nguyện khi ta có Đức tin về Thơ, về Tình thương và Ân nghĩa trong Cõi Đời còn nhiều gian truân và ngang trái này…

    Hà Nội, đêm Nguyên tiêu – Tân Mão

    Nguyễn Anh Tuấn ( Đạo diễn điện ảnh)

    ______________________

    * Thơ Nguyễn Nguyên Bảy, Nxb văn học, HN, 2010

    1. “Émile hay là về giáo dục”- Nxb Tri thức, HN, 2008

    2. Dẫn theo “Thơ đến từ đâu”, Nxb Lao động, HN, 2009

    Số lượt thích

  6. Cám ơn anh Trần Hùng đã post bài viết này. Lần đầu đọc thơ chị Lý Phương Liên do anh Vân Hạc giới thiệu trên ĐCN mình rất ngạc nhiên vì “Tại sao thơ hay thế này mà xưa nay mình không biết nhỉ ?”. Đó là những lời thơ thật thà, giản dị, và sâu sắc, đến trực tiếp từ trái tim, không trau chuốt, không gò bó trong quy luật âm vận cổ điển, nhưng vẫn có âm điệu mượt mà tự nhiên của ngôn ngữ Việt, không cliché, không “ngôn ngữ thi ca” tiếp thị, diễn tả những cảm tình rất thật của một con người, viết 40 năm trước mà nghe vẫn sáng và mới như là mới viết hôm qua.

    Very interesting!

    Cũng cám ơn anh Vân Hạc đã giới thiệu, nếu không thì cũng khó biết.

    Chúc cả nhà vui khỏe.

    Số lượt thích

  7. 40 năm trước, Báo Nhân Dân ngày 29/12/1970 đăng bài Dòng thơ trẻ cần mang những tình cảm và tâm hồn của thời đại của Nhà thơ Hoàng Trung Thông phê bình thơ Lý Phương Liên và Việt Phương, xin đăng lại như một tư liệu tham khảo.

    Dòng thơ trẻ
    cần mang những tình cảm
    và tâm hồn của thời đại

    Hoàng Trung Thông
    Báo Nhân Dân, Thứ Ba, 29/ 12/ 1970

    Trong dòng thơ trẻ trên miền Bắc hiện nay, xuất hiện nhiều cây bút có triển vọng, phần đông gắn bó với cuộc sống, xông xáo trên mặt trận sản xuất và chiến đấu, kết hợp tâm hồn mình với tâm hồn thời đại trong sáng, cao đẹp và rộng lớn. Họ có những đóng góp đáng khuyến khích cho phong trào thơ, nhưng đồng thời cũng có những mặt non yếu về tư tưởng và cuộc sống mà chúng ta cần quan tâm.

    Những bài thơ của Lý Phương Liên lần đầu tiên được đăng báo Nhân Dân và các báo khác đã được đông đảo bạn đọc chú ý. Thơ Lý Phương Liên đến thẳng với trái tim người đọc bằng những hình ảnh xúc động, bằng cách nói trực tiếp và không kém phần sâu sắc. Từ một cảnh ngộ cụ thể làm ra, những bài thơ hay của Lý Phương Liên mang bản sắc riêng, khá cụ thể, khá sinh động, không trộn lẫn với những người khác mà rất gần gũi với chúng ta. Từ hình ảnh người cha “khi mắc dây thường hay thổi sáo” và có “đôi tay săn như gọng kìm”, người mẹ “lặn lội thân cò nơi phố chợ ven sông” đến người yêu “chim bằng chẳng thề quanh ra quẩn vào”, thơ của Lý Phương Liên không phải là cuộc sống vụn vặt, không đáng để ý. Từ những sự việc bình thường đó, người làm thơ đã nâng lên thành những cảm xúc thơ, trong sáng, và có khi đạt đến ý nghĩ rộng lớn của đời sống. Ca đêm là một ca mất ngủ, mệt nhọc, mà một người công nhân bình thường lại nhìn thấy đó là một “ca bình minh” với sáng tạo, sinh sôi, và thắng lợi:

    Em gọi ca ba là ca bình minh
    Ý nghĩ ấy gặp em như một sự vô tình
    Đêm ca ba đi dọc đường Nam Bộ
    Tay vẫy chào những đoàn tàu rời ga Hàng Cỏ
    Đưa bộ đội lên đường
    Các anh đi suốt ca ba thẳng tới chiến trường
    Đón bình minh đất nước…

    Lời ru trong đêm là một bài thơ khá độc đáo, tác giả đã mượn tiếng ru khi ngủ để nói lên thái độ làm hết sức mình khi lao động.

    Trong những bài thơ này, Lý Phương Liên đã tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống lao động hằng ngày trong xã hội chúng ta.

    Ai cũng muốn mỗi ngày cuộc đời là một ngày sống đẹp

    Bức tranh xã hội trong thơ Lý Phương Liên chưa thật giàu có, nhiều vẻ, nhưng đôi lúc Lý Phương Liên đã nói được những vấn đề lớn của dân tộc. Em mơ có một phiên tòa là một bài thơ thể hiện được tình cảm đó. Ở đây, niềm đau riêng đã hòa vàotrong cuộc đấu tranh chung của dân tộc, tiếng nói căm thù ngắn gọn đã trở thành lời buộc tội đanh thép của những người đang chiến thắng. Đoạn đầu của bài thơ thật cảm động: Một phiên tòa với sự có mặt của các đồng bào khu phố, các đồng chí công an hộ tịch và “Năm chị em ngồi sát bên nhau”. Rồi sự xuất hiện của người mẹ đã mất:

    Và sau làn hương trầm thoáng nhẹ
    Mẹ em về
    Mẹ em về
    Mẹ em về làm một người minh chứng

    Những đoạn sau của bài thơ là cả “bầy giặc lái cúi đầu im lặng” trước sự thực của những lời buộc tội chắc nịch. Bài thơ còn thiếu sự cô đọng cần thiết, nhưng đã có sức truyền cảm khá mạnh. Bài thơ còn có sự lẫn lộn khi đặt ngang hàng cả chúng nó và chúng ta đều cầm súng, nhưng nói chung, là một bài thơ đạt.

    Thơ Lý Phương Liên vốn hồn nhiên, giản dị, xúc động như vậy, và một số t/t bài đăng báo đã tạo cho tác giả một dáng dấp riêng, một cách nói mới. Song bài thơ Nghĩ về Thúy Kiều đăng trên báo Văn nghệ lại làm cho người đọc ngạc nhiên về một giọng thơ khác hẳn: Rắc rối, cầu kỳ trong diễn tả, yếu đuối, sướt mướt trong tình cảm, bi quan, tăm tối trong tư tưởng. Lý Phương Liên hình như cũng muốn từ một cảnh ngộ riêng mà vươn đến sự trong sáng. Nhưng những gian nan, mất mát đè nặng trên người cứ được tô đậm lên mãi trong thơ, càng làm cho bài thơ chìm đắm trong xót xa, trong tiếng kêu rên, và nếu như tác giả muốn “thét lên”, thét lên nữa thì đó cũng chỉ là tiếng thét của sự bất lực. Tự minh vận cho hoàn cảnh Thúy Kiều đã là một chuyện không nên về lạc lõng, đặt vấn đề “định mệnh” ra để chống định mệnh lại là một tư tưởng lỗi thời. Tác giả nói “Tuổi hai mươi không tin vào định mệnh. Định mệnh là đối thủ tiến công”. Nhưng thực ra thì tư tưởng định mệnh đã như sợi dây vô hình trói chặt lấy người mình và tác giả cứ phải giãy giụa kêu lên thảm thiết với những nào “gõ cửa cuộc đời” (Cuộc đời nào?), những nào ” tự mình giải phóng”, “tự cứu”, với thứ triết lý vu vơ “không ngọt êm mới là hạnh phúc” (!). Hình như tác giả đã đặt nhầm nơi và không thấy rõ hết bản chất chế độ ta. Một vài bài thơ khác cũng còn rơi rớt một số chữ, số câu mang tư tưởng, tình cảm nặng nề như thế.

    Nghĩ về Thúy Kiều có một khoảng cách khá xa về tư tưởng và tình cảm với những bài trong sáng khác của Lý Phương Liên. Đó là một dòng đục đã chảy lẫn vào dòng suối thơ trong trẻo tươi mát của tác giả. Lý Phương Liên, qua bài Nghĩ về Thúy Kiều, chưa đặt mình trong hoàn cảnh chung của nhân dân và dân tộc, mà nâng mình lên tầm cao của cách mạng. Cái đau khổ riêng của cá nhân dẫu sao cũng chỉ là rất nhỏ so với sự hy sinh vĩ đại và sự anh hùng cao cả của nhân dân và dân tộc. Chỉ ngồi than thở với cảnh ngộ cá nhân thực tế là đã tự hạ thấp mình xuống.

    Lý Phương Liên còn rất trẻ và có năng khiếu khá rõ. Sống thực thà và gắn bó sâu sắc với cuộc sống mới, thấm nhuần lý tưởng cao đẹp của thời đại, Lý Phương Liên có thể mở rộng hồn thơ của mình ra ngoài xã hội rộng lớn để đi xa hơn nữa về thơ, và để có những đóng góp tốt trong dòng thơ trẻ hiện nay.

    *****

    Việt Phương không phải còn quá trẻ. Nhưng Cửa Mở của anh lại là một tập thơ đầu. Thực ra đây là một tập gồm nhiều bài thơ anh viết trong nhiều năm. Việt Phương làm thơ thiên về cảm xúc trí tuệ. Những bài thơ anh viết ít khi từ một cuộc sống, một con người cụ thể, mà thường là một sự tổng hợp nào đó mà anh bắt nắm được bằng sự thông minh và cả bằng cảm xúc của mình. Bài thơ Muôn vàn tình thương yêu trùm lên khắp quê hương viết vào lúc Bác qua đời có những câu hay, làm cho người đọc chú ý. Trong bài thơ này, Việt Phương không phải ngồi suy tưởng mà thực sự anh xúc động và đã truyền được sự xúc động của mình đến người đọc. Mặc dù còn những chữ, những câu chưa hoàn chỉnh, bài thơ đã có một sự rung động chân thành và được gợi lên bằng nhiều chi tiết sống. Bài Năm xưa, buổi lên đường trước kia, và bài Âm vang gần đây cũng là những bài viết lên từ cảm xúc trước cuộc sống cụ thể. Ở đây ta gặp một Việt Phương hồn thơ chân chất, sáng trong, tình cảm hồn nhiên, tươi thắm:

    Một tâm hồn cởi mở rất hồn nhiên
    Cười vui đổi má thoáng đồng tiền
    O dân quân hát trên đồi ấy
    Có phải anh hùng cũng chính em

    Nhưng những bài thơ như thế không nhiều trong tập thơ Cửa mở. Nhiều bài thơ khác của anh thiên về sự suy tưởng. Suy tưởng là một yếu tố cần thiết trong thơ, và chính chúng ta cũng thường nói thơ ta còn thiếu những cảm xúc trí tuệ. Việt Phương có đưa được chất trí tuệ vào trong thơ, và thơ anh không phải không có những câu suy nghĩ sâu sắc. Nhưng thường thì anh đẩy sự suy tưởng ấy đến chỗ trừu tượng, thuần lý. Thơ anh vì thế dễ mang tính chất tư biện. Câu thơ của anh có cái dáng dấp cao sâu mà thiếu sức nặng của một sự sống giàu có bên trong. Anh phải mượn đến tri thức có khi còn chưa nhuyễn, để bù đắp vào cảm xúc thiếu thốn của mình. Bài thơ của anh thường còn xộc xệch vì thiếu mối liên hệ bên trong thật chặt chẽ, thiếu sự cụ thể về không gian, thời gian, và có sự gò ép, cường điệu trong suy nghĩ. Thêm vào đó, vì muốn làm cho câu thơ mới lạ, nhiều lúc anh đã lạm dụng ngôn từ, đầy bài thơ đến cầu kỳ, rắc rối, khó hiểu và xa lạ với quần chúng. Một vài bài thơ, đoạn thơ đã đi đến bí hiểm. Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho những suy nghĩ vốn chưa đủ chín chắn của anh dẫn đến những chỗ lệch đáng tiếc.

    Việt Phương qua tập thơ Cửa mở muốn nói lên những ý nghĩ và tình cảm chân thành của mình đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và nhân dân ta, đối với Đảng, với Bác và cả đối với những vấn đề của nhân loại. Anh nói về Bác bằng những lời tha thiết:

    Ta sẽ nói một lời tha thiết nhất
    Về Người đi soi sáng chất con người
    Về vết mòn hằn trên đôi dép lốp
    Chiếc áo bông quen mặc vá ngang vai

    Anh cũng đã cố gắng để viết về nhân dân ta anh hùng đánh Mỹ với tư thế của những người chiến thắng. Nhưng tại sao trong nhiều bài thơ và câu thơ của anh, ta bỗng thấy niềm tự hào xen lẫn tự kiêu, nỗi vui vừa cất lên đã bị nỗi đau thắt lại, và vẻ hào hùng bên ngoài chứa đựng cả sữ yếu ớt bên trong. Đó là vì có những điều anh chưa cân nhắc đầy đủ mà đã vội nói ra, anh nhận thức chưa đúng mà đã vội khẳng định để có những sơ hở, lệch lạc. Đó là vì cách nhìn, cách nghĩ của anh vẫn còn vướng vất những gì chưa ổn, chưa đúng. Trong bài Cây sấu quê hương không phải không có những đoạn anh nhìn hiện thực tối tăm, mặc dù cả bài thơ là muốn nói “những chồi dậy biếc niềm vui”. Ta nhìn trời đêm nay và ta đọc là một bài thơ anh để vào đấy nhiều suy tưởng của mình về chiều rộng và chiều sâu của lịch sử. Tôi không muốn nói đến cách phá chữ “NGƯỜI” cầu kỳ của anh. Cách nhìn của anh về xã hội tư bản có gì chưa biện chứng; ở đây, anh chỉ thấy có bóc lột, dối lừa, và sự tha hóa con người, anh chỉ nhìn thấy những kẻ “chán chường muốn mửa cuộc đời ra” và những người “đánh đi cả niềm tin”. Nhưng anh không nói được ở đó cuộc đấu tranh giai cấp cũng đang quyết liệt diễn ra với nhiều nhân tố lành mạnh và tiến bộ. Nay ở nơi đã “NGƯỜI” rồi mà anh ca ngợi, anh vẫn còn trĩu nặng tâm tư. Một xã hội tốt đẹp đến đâu cũng vẫn chưa hết người xấu. Nhưng khi anh viết: “Ta đã thấy trong con người ôi biết bao bẩn thỉu”, thì trong câu thơ khái quát về con người đó mang khá rõ mầu sắc của chủ nghĩa hư vô, mặc dù anh sẽ nói: “Sức người vươn cao đến triệu lần hơn”.

    Anh nói quá nhiều đến nỗi đau, một nỗi đau không cụ thể.

    Chúng ta không rõ hết nỗi đau đây là nỗi đau gì? Rất có thể viết về nỗi đau lắm chứ, nhưng nỗi đau đó phải xuất phát từ đâu, phải từ những thực tế gì cụ thể và phải nói cho đúng lập trường và quan điểm cách mạng. Thực ra cũng không nên thi vị hóa nỗi đau quá đáng, nếu không ta sẽ rơi vào hạng người “không bệnh cũng kêu rên”. Hình như anh có “một nỗi đau người” canh cánh bên lòng như anh đã viết trong bài Nỗi đau trái đất. Ở đây nỗi đau quá lớn. Cho đến khi con người đã cất cánh bay lên mà “nỗi đau người” vẫn “trùm lên cõi vô biên”. Anh muốn lấy nỗi đau để miêu tả niềm vui của con người, “Ôi cuộc đời người vui cả đến khi đau”, nhưng bài thơi lại làm cho nỗi đau “không sao chuyển thành vui được”. Anh hay nói đến tình yêu thương và con người nhưng đôi khi anh chưa vượt qua nổi giới hạn của chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng. Anh viết:

    “Ta thắng Mỹ cho ngàn vạn năm đời sắp tới
    Cho cả thời cháu con ta sẽ hỏi
    Vì đâu
    Ngày xa xưa trước năm 2000
    Người ta giết nhau mạng người như hòn sỏi”

    Tại sao lại “người ta”? Phải chăng “người ta” đây là bao hàm cả chúng ta trong đó? Không thể và không nên lẫn lộn như vậy. Không những chúng ta bây giờ không được lẫn lộn, mà con cháu ngàn đời sau cũng không được lẫn lộn như vậy. Nếu có hỏi thì nên hỏi: Vì đâu cha ông ta trước năm 2.000 đã có sức mạnh kỳ diệu đánh thắng nổi giặc Mỹ, bọn quỷ xâm lăng chỉ thèm chém giết?

    Anh lại viết:

    “Niềm vui đánh Mỹ này cuối cùng cũng như cánh cửa
    Ta mở để đi vào nhà ta
    Nơi ấy ta có quyền quên đi chẳng nhớ
    những oán thù trĩu nặng mỗi nhành hoa”

    Tại sao đánh Mỹ xong rồi lại có quyền quên đi những oán thù? Mà việc gì phải đòi cái quyền ấy. Đáng lẽ nói ta phải nhớ mà nhân loại cũng cần phải nhớ chứ. Nhớ lấy, phải nhớ lấy mãi để đừng quên đấu tranh, đừng ngủ trên giường êm của chủ nghĩa hòa bình mới được.
    Những ý nghĩ chân thành của anh về Đảng cũng còn thiếu cơ sở thật sâu về giai cấp, dân tột và cách mạng. Đôi lúc anh cũng bị rơi vào những định nghĩa chơi vơi, trừu tượng và không đúng.

    Anh chế giễu niềm tin ngây thơ nhưng lại từ sự thiếu một niềm tin vững chắc của mình.
    Anh có cái nhìn tự hào về dân tộc mình và đi đến tự kiêu, nhưng lại thiếu tấm lòng tôn trọng đúng mức các dân tộc khác.

    Chính cái nhìn còn đượm mầu sắc hư vô và hoài nghi, bi quan còn rơi rớt chủ nghĩa nhân đạo chung chung đã ảnh hưởng đến nhiều câu, nhiều đoạn trong tập thơ Cửa mở của anh.
    Việt Phương biết khá nhiều sự kiện của đời sống, nhưng anh chưa có được những cuộc sống thật cụ thể. Anh muốn ca ngợi hiện thực của cách mạng và nói đến nhiều mặt phức tạp của hiện thực, nhưng anh thiếu một sự suy nghĩ thật chín chắn, thiếu một sự hiểu biết thật toàn diện. Anh suy tưởng mà thiếu sống. Anh thích nói những vấn đề to tát mà chưa đủ sức để nói tậht đúng. Anh táo bạo mà chưa chắc, lại còn thêm cái giọng kênh kiệu chen vào. Anh tìm tòi mà đang chuệnh choạng chưa có hướng đi thật vững vàng.

    Anh chị em trẻ đem đến cho thơ những cách cảm xúc mới, những cách nói mới và những nét mới của tâm hồn. Nhưng không phải không có một số anh chị em trẻ quan tâm quá nhiều đến cách nói. Có anh chị em còn lẫn lộn cái độc đáo với cái lập dị, lẫn lộn cái mới, sâu với sự rắc rối, cầu kỳ, cái hiện đại với việc cắt đứt truyền thống dân tộc, lẫn lộn cá tính với những trăn trở, dằn vặt, suy tính cá nhân tách rời quần chúng, lẫn lộn tính chân thực cách mạng với tính “chân thực” tiểu tư sản. Không tìm tòi cái mới kể cả trong hình thức của câu thơ là sai lầm, nhưng chỉ quan tâm đến cái mới hình thức, thậm chí cái mới vay mượn thì lại càng nguy hiểm. Sống, sống thực sự và sống say mê với lý tưởng lớn của thời đại và của thanh niên, để sáng tác nên những vần thơ giàu sức sống, giàu tâm huyết, mang những tình cảm và tâm hồn của thời đại, đó vẫn là vấn đề hàng đầu của dòng thơ trẻ chúng ta hiện nay.

    Hoàng Trung Thông
    Báo Nhân Dân, Thứ Ba, 29/ 12/ 1970

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s