Bài Văn Tả Cây Mai Nhân Dịp Xuân Về

Mấy tuần trước, khi tôi đang lặt lá Mai, bé Út (Hồng Ân, 3 tuổi) hỏi “tại sao?”. Tôi trả lời lặt lá đi cho Mai ra hoa. Bé cũng muốn lặt lá và sau vài lần thử tay nghề bằng cách bứt lá, tôi phải nói ngay rằng con làm vậy cây Mai đau. Bé hiểu ra và thì thầm xin lỗi cây Mai, còn dỗ dành ráng chút cho có hoa, rồi cẩn thận lặt ngay cuống từng chiếc lá. Tôi chợt nhớ bài văn tả cây Mai dịp Xuân về do chị Hồng Phúc của bé viết năm lớp 6:

“… Cả nhà vui vẻ quây quần bên cây Mai để lặt lá. Em làm theo lời mẹ dạy, chú ý lặt đúng cách từng chiếc lá, tưởng tượng như đang mở từng chiếc cửa sổ tí ti trên thân cây …”.

Tết này, mẹ gửi bài văn tả cây Mai của chị Hồng Phúc lên ĐCN và sẽ đọc cho Hồng Ân nghe nhé (vì con còn chưa biết chữ mà)

Mùa xuân đã về. Chẳng thua gì miền Bắc với hoa Đào sặc sỡ, miền Nam cũng tưng bừng đón Tết với hoa Mai rực vàng. Mai từ lâu đã trở thành một hình ảnh không thể thiếu trong ngày Tết, Mai – loài hoa đặc trưng của miền Nam- mang một bổn phận thiêng liêng là đem hết vẻ đẹp của mình làm đẹp cho miền Nam, cho đất nước trong những ngày xuân về.

Nhà em có một cây Mai. Ngày thường, Mai đứng một mình trong góc vườn, lặng lẽ giữa bao nhiêu là Quỳnh Anh, Lan, Cúc, Vũ Nữ… Ấy vậy mà Mai vẫn ung dung, thản nhiên lớn lên với dáng vẻ đơn sơ và giản dị. Cây Mai cao hơn em đến hai cái đầu. Nó khoác trên mình một chiếc áo xanh đậm điểm vài bông hoa vàng hoe.

Đến rằm tháng Chạp, Mai được đem ra giữa sân nhà. Nó bắt đầu được chú ý đến. Mai được mọi người chăm sóc, bón phân, tỉa cành và đặc biệt lặt lá – một công việc mà em rất thích. Vào sáng Chủ Nhật, cả nhà em vui vẻ quây quần bên cây Mai để lặt lá. Em làm theo lời mẹ dạy, chú ý lặt đúng cách từng chiếc lá, tưởng tượng như đang mở từng chiếc cửa sổ tí ti trên thân cây cho những nụ hoa mở mắt hé nhìn trời đất.

Khi tất cả những chiếc lá đã rời cành mẹ, cây Mai trở nên trơ trụi, khẳng khiu. Những cành cây tia ra như những nét phác thảo bằng bút kim của một bức tranh. Nhưng chính sự trơ trụi ấy lại mang một vẻ háo hức và tưng bừng, đem đến cho mọi người cảm giác mùa xuân về.
Không phụ lòng người chăm sóc, không để cành phải đợi lâu, những nụ hoa li ti đã bắt đầu xuất hiện. Thân cây trơ trụi được tô điểm bằng những chấm xanh non của mầm hoa, mầm lá.
Gần đến Tết, những nụ hoa lớn lên, phình tròn, nhõ bằng chiếc móng tay út. Nhìn cây Mai như có hàng trăm con bọ xanh âu yếm bám chặt vào cành, cố gắng làm đẹp cho cây và hứa hẹn một sự đơm hoa rực rỡ ngày Tết

Tết tới, Mai được đặt chễm chệ ở một vị trí trang trọng trong nhà. Mọi người lo đi sắm đồ Tết, chẳng để ý đến Mai nhiều. Hôm mồng Một Tết, mọi người vui vẻ trong những bộ đồ mới. Đến lúc này, nhìn qua cây Mai, ai cũng ngạc nhiên khi thấy nó cũng đã sẵn sàng trong bộ trang phục truyền thống của mình. Mai phủ hắp người một chiếc áo vàng rực rỡ của hoa, điểm thêm vài màu xanh non của lá. Chúng em trang trọng treo những lời chúc “ An khang thịnh vượng”, “ Vạn sự như ý”, … và những bao lì xì lên cây, chia sẻ lời chúc năm mới với loài hoa tuyệt đẹp này. Vậy là chiếc áo vàng của Mai còn được điểm những món đồ trang sức màu đỏ, thể hiện may mắn và tình thương yêu

Hoa Mai vàng tươi, rất đẹp. Cánh hoa mềm, mịn như nhung. Nhưng chỉ sau một vài ngày, những cành hoa ấy héo dần và từ từ rời cành xuống điểm tô cho đất. Đất trong chậu đầy một màu vàng của cánh Mai.
Hoa Mai rụng đi nhường chỗ cho những nụ hoa con con bung mình hé nở. Những cái nụ xanh be bé, điểm vài màu vàng ở đỉnh. Chúng em thay nhau đoán xem đâu là nụ hoa, đâu là nụ lá, nụ nào nở trước, nụ nào nở sau. Những chiếc nụ lá không được quan tâm nhiều nhưng vẫn hồn nhiên nở cánh trước cả nụ hoa

Sau tết, Mai vẫn cố gắng thể hiện hết vẻ đẹp còn lại của mình, hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng được giao. Dưói đất, hoa vàng rụng nhiều. Trên cây, lá xanh lớn lên . Hết Tết, hết mùa hoa Mai, đến lượt lá đua nhau trang trí cho cành. Mai lại khoác lên mình chiếc áo màu xanh thẫm.
Mai cũng “ điệu” như con người, cứ đến Tết là xúng xính trong bộ quần áo đẹp. Mai như một người bạn quen thuộc, chia sẻ ngày Tết với mọi người. Mai gắng sức mình tô đẹp cho ngày Tết. Mọi người quan tâm, làm đẹp cho Mai. Em yêu Mai, gia đình em yêu Mai, miền Nam này yêu Mai, cả đất nước Việt Nam cũng yêu Mai. Cây Mai- biểu tượng của may mắn, vui vẻ và hạnh phúc.

Hồng Phúc viết năm lớp 6 ( 2 năm trước )

Hoa mai sáu cánh

Trước đây hầu như nhà nào ở Huế cũng trồng mai trước sân- một hoặc nhiều cây tùy theo sở thích chủ nhân và diện tích đất. Nhà tôi cũng có hai cây. Và hai cây mai nầy đã chứng kiến bao buồn vui của gia đình tôi suốt mấy chục năm nay.

Hai cây mai được Ba tôi trồng trước khi có tôi hay ai trồng trước đó nữa thì tôi không rõ và cũng chưa lần hỏi, chỉ biết khi quan sát được đã thấy trước sân nhà, một bên phải và một bên trái. Cây bên trái có vẻ bị lấn át bởi cây bên trái về chiều cao, số nhánh và hoa nhưng cả hai đều có dáng đẹp với cành vươn cao, cành nghiêng nghiêng , cả cành ngang bướng bỉnh và cho hoa đẹp. Hoa năm cánh vàng rực với nhụy vàng lộng lẫy kết vòng tròn tròn như vương miện, tỏa hương dìu dịu trong nắng sớm ngày xuân. Ba tôi rất quí hai cây mai. Không kể mùa, ngày nào ông cũng để mắt tới. Khi thì vừa thức dậy; khi thì đi làm về; khi thì đang bế em tôi, ông đều nhìn hai cây mai với vẻ trìu mến.

Hai cây mai hình như cũng hiểu được tình cảm ông nên xanh tốt suốt mùa hè dể rồi đến hết mùa thu thì dần rụng lá và phô vẻ phong sương trụi trần cho đến quá giữa tháng chạp thì nhu nhú nụ xanh, cần mẫn đợi chờ và nở đúng vào dịp tết. Cũng đôi khi do thời tiết thế nào đó lá không rụng đúng chu kỳ, ông lại tự tay trảy bỏ. Chị em tôi thắc mắc thì được giải thích là làm vậy để cây ra hoa đúng tết. Tôi cũng phụ ông trảy những cành thấp với niềm hân hoan tỏ lộ. Ông hướng dẫn tỉ mỉ từ cách cầm cành đến cách trảy lá . Tay trái cầm từng nhánh nhỏ, tay phải cầm lá đưa ngược về sau để không làm trầy lớp vỏ ở mắc lá. Ông bảo đó là nơi chồi sẽ nứt ra với hoa và lá. Chồi hoa tròn, mọc hai bên. Chồi lá nhọn, mọc đầu nhánh. Ông dạy chúng tôi cách phân biệt như vậy Tôi và em trai lớn phụ giúp ông trong khi các em khác của tôi thi nhau nhặt lá làm tiền chơi mua bán. Mặt đứa nào đứa nấy hí hửng vì tiền có nhiều mà không phải hái ( Để chơi trò mua bán trẻ con như chúng tôi thường hái lá giả làm tiền). Tôi thường được ba khen vì không làm gãy nhánh trong khi thằng em thỉnh thoảng bị nhắc ( chả là cậu ta chưa cao bằng tôi nhưng lại ưa với cành cao nên mới vậy).

Trong tiết lạnh của mùa đông Huế nhìn cây mai trơ trụi thấy thương lắm. Những ngày mưa dầm trông càng thương hơn với vẻ cam chịu nhưng không ẻo lả khuất phục như các loại cây khác. Em tôi thường hỏi “ Cây lạnh không Ba” thì được nghe trả lời là “ Cây mai giỏi lắm, lạnh nhưng không kêu ca, còn lo tích nhựa để cho hoa đúng tết” khiến chị em tôi vừa phục Ba vừa phục cây mai. Tôi và em trai cũng bắc chước ông, ngày ngày săm soi ngó nghiêng và vui vẻ thông báo về tiến triển đâm chồi nẩy lộc cho Ba thường xuyên cứ như là ông không biết vậy .

Hai cây mai này có vẻ rất muốn làm vui lòng ba tôi nên lúc nào cũng nén lại chờ đúng sáng mồng một Tết mới xòe cánh, không phải đồng loạt mà rón rén trên từng chùm từng chùm nhỏ trong khi mai hàng xóm đã bung đầy từ nhiều ngày trước.Sỡ dĩ nói vậy vì ba tôi thích trò bói hoa mai với các con. Thành lệ từ bao giờ, sáng sớm mồng một là ông kêu chị em tôi ra sân bảo “ đố đứa mô tìm được hoa sáu cánh ba sẽ lì xì nhiều hơn” vì ông cho rằng mai sáu cánh báo hiệu sự may mắn cho cả nhà trong năm mới.Cả mấy đứa thi nhau ùa ra, thi nhau săm soi mong mình là người thấy. Mấy đứa em sau còn thấp bé nên ra sức nhón chân nhón gót tranh giành chỉ trỏ, chỉ tôi thường hay thấy trước vì có lợi thế chiều cao. Qua mồng hai hoa nở nhiều, hoa sáu cánh vì thế cũng dễ có nhưng ba tôi bảo chỉ linh nghiệm trong ngày mồng một. Mấy đứa em tôi không chịu, theo bắt đền ba cho bằng được. Trò bói hoa thật vui, đem lại bao nhiêu tiếng cười trong căn nhà đơn sơ.

Có một năm chúng tôi không bói mai được.

Từ giao thừa tiếng súng rộ khắp nơi. Sáng mồng một mẹ tôi líu ríu hớt hải đắt chúng tôi đến một nhà khác trong xóm kiên cố hơn để tránh đạn, không ai kịp thấy có hoa nào sáu cánh không. Chuyến đi đó không ngờ thành dài ngày với nhiều địa điểm khác nhau đến khi trở về mai đã rụng đầy sân , vàng xuộm một màu trên đất dưới mưa phùn ảm đạm. Chúng tôi mất ba từ những ngày đó, ngẩn ngơ mồ côi.

Mẹ tôi một mình chống chèo nuôi chúng tôi. Hai cây mai vẫn nở tàn nở tàn trước sân. Nhớ ba mấy chị em tôi lại ngắt lá, chờ hoa, tìm hoa sáu cánh với niềm hy vọng ba sẽ về đem theo tiếng cười và ánh nhìn ấm áp. Nhiều năm mai đơm nụ nhiều vô kể. Bao nhiêu người đi dạo tìm mua mai đã trả giá cao mong mẹ tôi bán nhưng bà đều từ chối. Bà giữ mai như giữ vật lưu niệm của ba tôi để tưởng nhớ ông.

Theo thời gian hai cây mai cao dần, muốn hái lá phải bắt thang nên chúng tôi chỉ trông chờ
vào trời đất và sân nhà lại vàng tươi khi tết đến xuân về.Rồi chị em lần lượt có vợ có chồng, lận đận mưu sinh, bận bịu con cái. Trò bói mai trở thành kỷ niệm.

Năm 1993, gia đình nhỏ của tôi chuyển đến Buôn Ma Thuột sinh sống. Tết đến dạo chợ hoa hoặc đến thăm nhà ai toàn thấy mai không phải năm mà là sáu, tám, hoặc mười hai cánh, chi chit chen nhau . Cây trồng trong sân thì tỏa nhánh tròn đều, vươn cả lên,dáng na ná đào, ít có cành ngang như mai nhà tôi xưa nên không có ý trồng dù công nhận rằng chúng đẹp.

Vài năm sau có người đem từ Huế vào tặng tôi một cây mai nhỏ. Hóa ra người nầy cũng như tôi, chỉ thích mai năm cánh nên đã nâng niu suốt hai ngày trời trên xe khách ( trước đây xe cộ không như bây giờ) để có mai Huế trên đất bazan.

Chính tay tôi trồng cây mai này ở mé sân trái, hồi hộp theo dõi mấy năm để rồi mừng vui khôn xiết khi lứa đầu tiên rụt rè khoe những hoa năm cánh tươi vàng.

Từ đó mẹ con tôi có thêm niềm vui chờ mai nở. Cũng thường đúng vào sáng mùng một tết hoa mới bung cánh dịu dàng. Nhớ ngày xưa lại săm soi tìm hoa sáu cánh như một hy vọng về sự may mắn có từ bé thơ bởi ba tôi. Kể lại với các con để cười để nhớ để rưng rưng…

Đất Ban Mê rất tốt, mưa nắng khác Huế nên mai thường ít rung lá đúng thời điểm. Các con tôi, đăc biệt là cô con gái lại cùng mẹ trảy lá. Có khi mẹ bân lại lụi hụi bắt ghế trảy một mình. Không có ai giành lá làm tiền như ngày tôi thơ bé bởi trẻ con không còn chơi trò mua bán như thế hệ chúng tôi thưở nào. Năm nay, thằng út lo việc thay mẹ và chị. Khi nụ hoa đầu tiên he hé chút vàng, cu cậu í ới gọi mẹ chỉ trỏ , hí hửng khoe thành tích. Đáng tiếc là hoa nở không đợi tết do năm nhuận – từ 20 tháng chạp – trước cả ngày ông Táo về trời. Sáng sáng tôi tranh thủ nghiêng ngó trước khi đến lớp, thong thả tí chút thì tìm góc đẹp đợi nắng đẹp chụp hình, loay hoay cành thấp cành cao ngắm ngắm tìm tìm bấm bấm. Vậy mà cũng đành chịu lọt mất vài thế hoa đẹp vì giờ giấc không cho phép.

Tết là mùa khô ở cao nguyên. Hiếm khi mưa, mưa phùn càng không có. Mai vườn nở trong ngọn nắng chói chang trông thật lạc lõng. Lại nhớ ngày xưa ở Huế, dưới màn xám nhạt mưa phùn màu vàng của mai thành ngọn lửa ấm áp, cháy trong tĩnh lặng.

Tiếc cái đẹp bị chìm lấp. Dù là chìm lấp dưới nắng trời.

Tôn Nữ Ngọc Hoa
Xuân con cọp.

Vệt vằn của cọp

VT VN CA CP

Trần thị LaiHồng

dịch The Tiger’s Stripes của Võ Đình*

Ngày xửa ngày xưa, bộ lông là niềm hãnh diện của cọp.  Trong bóng cây rừng, dưới ánh trăng, toàn thân cọp là một khối vàng uy nghi uyển chuyển uốn lượn.

Nhưng ngày nay, cọp khoác những vệt đen vằn vện làm hỏng cả bộ mã óng mượt toàn hảo ngày nào.  Với cọp, những vệt vằn vện đẹp đẽ đó ngó chẳng ra chi mà là dấu vết một trận đòn chí mạng.  Tuy nhiên, rồi cọp cũng quen sống với những vệt vằn vện này.  Và mỉa mai thay, những vệt vằn vện đó lại giúp cọp thêm dễ dàng trốn lẩn.  Ẩn mình trong đám cỏ tranh hay náu thân sau lùm cây chằng chịt, cọp lẫn vào cây cỏ, chẳng thể nào thấy được.

Tuy nhiên, khoan vội nghĩ là hồi còn nguyên bộ lông thẫm vàng óng mà cọp lại ít đáng khiếp sợ hơn. Cọp nổi danh nhanh nhẹn, uy vũ, tàn bạo, và tham lam.  Ai cũng biết sư tử no mồi chẳng buồn giết nữa.  Nhưng cọp thì khi nào cũng sẵn sàng tấn công.

*

Chính con thú đó đe dọa cư dân một làng vùng núi nọ.  Lâu nay dân làng sống yên ổn trong công việc hàng ngày, cho đến lúc nỗi hãi hùng bùng nổ như núi lửa.  Chưa đầy một tuần, cọp về làng ba lần.  Một con nghé, một con nghé nữa, rồi một con heo bự lần lượt biến.  Dân làng sợ hãi, hoang mang.  Con mãnh thú – dấu chân rất lớn rành rành để lại – hẳn là một con thú vô cùng xảo trá quỷ quyệt, nhanh nhẹn, và dũng mãnh.  Tấn công lặng lẽ không gây tiếng động, vì lũ chó mọi khi vẫn canh gác cẩn mật thế, lại im hơi lặng tiếng khác thường.  Những vòng rào tre bao quanh mấy căn nhà chẳng hề xiêu vẹo chút nào.

Một người dân làng lo mất gia súc, giận dữ đích thân canh thức cùng hai chàng trai khác đợi suốt đêm rình tên cọp sát thủ. Đối đầu ba tráng đinh giáo mác sắc nhọn, cọp rút chạy về rừng sau khi lẹ làng tàn bạo vồ một người.  Nạn nhân vỡ sọ chết tức tưởi tại trận.

Từ đó, Vua Cọp –  Chúa Sơn Lâm, Ông Hổ, Ông Ba Mươi, Ông Khái với vóc dạng gồ ghề – được cả làng nhắc nhở trong hãi hùng, khiếp sợ và căm hận.  Và cọp tung hoành hùng cứ toàn vùng thung lũng.

Lâu nay Vua Cọp để mắt đến một con trâu mộng đen mập hàng ngày cày ruộng dưới sự điều khiển của một bác nông dân.  Từ sau đám cỏ và bụi rậm trên đồi cao, Vua Cọp quan sát.  Cọp chưa muốn vội tấn công.  Cọp nghĩ:  “ Nếu con trâu mộng to mập dường ấy có bộ sừng nhọn hoắc dường ấy coi bộ mạnh vậy để tui phải đắn đo suy đi tính lại trước khi vồ nó, thì tên lực điền dũng mãnh kia hẳn phải nguy hiểm lắm mới làm chủ sai bảo được con trâu chứ !”

Ngày lại ngày, Vua Cọp càng nôn nóng.  Nhưng thay vì xuống núi tuôn vào cánh đồng liều một trân đẫm máu, cọp quỷ quyệt đủ khôn để vẫn ẩn mình chờ cơ hội.

Một buổi sáng, bác nông dân ra đồng như thường lệ, nhưng coi bộ bỏ quên vật gì ở nhà, để con trâu ở lại một mình trên ruộng.  Từ xa, cọp chăm chú theo dõi.  Một ý tưởng nẩy lóe trong đầu.  “Ta sẽ xuống lân la thân thiện với con trâu, và sẽ bất thần chộp khi nó chẳng ngờ.  Rồi ta sẽ dấu trâu trong bụi rậm.”  Vừa nhẹ nhàng bước, cọp vừa nghĩ tiếp: “Và khi tên lực điền trở lại, ta sẽ “xử lý” hắn khi không còn con trâu để trông cậy !”

Uyển chuyển nhanh nhẹn, Vua Cọp đến gần trâu, cố làm ra vẻ tử tế dịu ngọt: “Bậu trâu ơi !  Nghe nè !  Tui đến với bậu không có ý làm hại bậu đâu.  Tui chỉ muốn hỏi bậu mấy điều lâu nay cứ bận tâm hoài …”

Dầu khiếp đảm, con trâu hiền lành giữ bình tâm.  “Ồ, ông bạn đó à !  Ông bạn Chúa Sơn lâm !  Thiệt tử tế hết sức !  Có chuyện chi tui làm được nào ?”

“Ơ bậu ơi !”  Cọp nói, trong khi tiến thủ trong vị thế sẵn sàng thình lình nhảy vồ trâu, “Lâu nay tui ngưỡng mộ bậu lắm.  Khỏe quá !  Siêng quá !”  Cọp ngước mắt lên trời.  “Thiệt tui không thể tưởng nổi làm sao bậu kéo cái cày nặng nề này được.  Rồi cách bậu làm việc nữa !  Từ sáng sớm tửng bưng đến tối mịt chỉ nghỉ chút xíu vào trưa !  Tui nghĩ bậu thiệt tuyệt, tuyệt, bái phục bậu …”

Dầu khiếp hãi, trâu cũng khoái lắm.  Đấy, chính Vua Cọp đứng trong bùn ruộng đích thân ca ngợi trâu, con vật kéo cày hèn mọn !  Nhưng trâu không quên cảnh giác.  Hễ cọp nhích chân là trâu cũng nhích chân.  Vua Cọp luôn luôn đối đầu với cặp sừng lớn cong vút, nhọn lễu, chĩa thẳng vào mặt.

Cọp lập lại: “Tui nghĩ bậu thiệt dễ nể.  Có điều chẳng phải vì chủ của bậu, bác nông dân …”

Trâu lùi lại : “Chủ tui làm sao, hở ông bạn Vua Cọp?”

“Ờ … họ khoan họ rị, bậu ơi !  Tui nghĩ là bậu để ông ấy khai thác bậu cạn tàu ráo máng.  Tui chẳng biết ông ta sẽ làm thế nào mà kéo cái cày nặng nề này nếu không có bậu giúp.  Nhưng ông ta xử tệ với bậu, quá tệ.  Hò tắt hò rì túi bụi !  Cứ ra lệnh riết !  Rồi cái roi tre trong tay ông ta nữa … Ông ta quất cố mạng vào mông bậu từng ba bước một !  Tàn nhẫn !  Hung bạo quá là ông chủ của bậu.  Nếu tui là bậu thì …”

Nhưng cọp bị trâu ngắt lời.  Trâu chẳng muốn nghe ai nói xấu ông chủ mình.  Trâu ôn tồn:  “Ông bạn lầm rồi.  Ông ấy là một người tốt.  Ông phải ra lệnh để tui biết mà đi chứ.  Còn cái roi ông ấy dùng chẳng phải để đánh tui đau !  Da tui dày cộp nên cái roi ấy nhằm nhò chi !  Ngoài ra, ông ấy chăm sóc tui tử tế, cho tui rơm ăn và chuồng ở.  Cố nhiên ông ấy là chủ tui vì ông có trí khôn.”

“Trí khôn ?”  Vua Cọp nhảy nhổm lên, xích lại gần.  “Trí khôn là cái chi chi vậy cà?   Tui chưa hề nghe.  Trí khôn ngó ra làm sao?”

Trâu ngúc ngoắc đầu, chĩa sừng ngay mặt cọp.  “Tui không biết.  Tui cũng chưa hề tận mắt thấy cái trí khôn ra làm sao cả.  Nhưng tui biết ông ấy có trí khôn vì ai cũng nói thế.  Họ nói vì vậy mà ông ấy rất có uy thế và minh mẫn.  Nhân tiện lát nữa ông ấy trở lại đây, ông bạn có thể hỏi ông ấy về cái trí khôn.”

Tính tò mò của cọp nổi dậy.  Lần này cọp không cẩn thận như mọi khi. Cọp quyết định đợi bác nông dân trở lại.

Vừa ló dạng từ khúc quanh đường làng, bác nông dân chạm mặt cọp.  Nhưng từng được chỉ bảo cách ứng phó với tình hình như vậy, bác biết là không nên bỏ chạy.

Trâu cất tiếng gọi:  “Ông chủ ơi !  Bạn tui đây là Ông Vua Cọp nè.  Anh ta đòi coi cái trí khôn của ông !  Xin ông vui lòng cho anh ta coi cái trí khôn của ông đi !”

Cọp phụ họa theo: “Bác cho tui coi với nào !  Tui muốn coi cái trí khôn của bác, xin coi một lần thôi !  Có phải cái trí khôn giúp bác thông minh và có uy quyền không ?  Sao tui chẳng có cái trí khôn đó ???”

Hoàn hồn sau cơn khiếp hoảng, bác nông dân giang hai tay lên: “Được !  Được !  Chào ông cọp !  Sao ông không tới sớm một tí trước khi tui chạy về nhà lấy mo cơm trưa ?  Để tui biết mà đem cái trí khôn trở lại cho ông coi.  Nó bự lắm nặng lắm không phải lúc nào cũng kè kè vác theo bên mình.  Tui luôn luôn để trí khôn ở nhà.”

Cọp tiu nghỉu.  Nhưng nỗi thất vọng của cọp không làm hắn quên mục đích xuống núi là làm thịt cả con trâu mộng mập ú và bác nông dân kia.  Bây giờ cọp đứng gần chẳng thấy trâu mập người mạnh và nguy hiểm như nhìn từ xa.  “Ta có thể vồ chúng ngay bây giờ, ngay trên thửa ruộng này!”  Vừa nghĩ vậy, cọp vừa quật đuôi, sửa thế vồ mồi.

Bác nông dân nhanh nhẹn:  “Ồ!  Được rồi !  Được rồi !  Đừng ra bộ khổ sở vậy ông ơi !  Ông đã mất công từ rừng ra đây, tui không để ông về tay không chẳng thấy được cái trí khôn.  Tui sẽ trở lại ngay tức thì !”  Bác dợm chân, nhưng chưa được mươi bước, vội quay lại:  “Chiều ý Ngài Chúa Sơn Lâm, tui sẽ về nhà lấy cái trí khôn.  Nhưng tui không muốn để Ngài một mình với con trâu của tui.  Ai phụ tui cày ruộng nếu Ngài ăn thịt con trâu của tui?”

Cọp gầm gừ phản đối chẳng có ý làm thịt trâu, nhưng bác nông dân quyết không rời bước.  Bỗng bác hả hê vỗ đùi đen dét:  “Được rồi!  Nếu Ngài quyết tâm thấy cái trí khôn của tui cho kỳ được, thì Ngài hãy chịu khó để tui buộc Ngài vào gốc cây kia nhé?  Có vậy tui mới chẳng lo chi về con trâu của tui.”

Vua Cọp đảo mắt nhìn bác nông dân rồi nhìn con trâu, rồi lại nhìn bác nông dân rồi lại nhìn con trâu.  Coi chúng thiệt yếu hèn đối với cọp.  Bây giờ có ông chủ, trâu trở lại hiền lành thuần thục.  Trâu đứng đó, đầu hơi cúi xuống, mắt trầm tư đượm buồn.  Cọp nghĩ: “Và cái anh chàng nông dân kia !  Cái anh chàng yếu đuối kia !  Ta phải thấy cái trí khôn của hắn mới được.  Ta sẽ cướp cái trí khôn của hắn, rồi ăn tươi nuốt sống cả hai.”  Quyết tâm xong, Vua Cọp bằng lòng nghe lời bác nông dân.

Bác nông dân bắt cọp đứng thẳng trên hai chân sau, úp bụng ôm sát thân cây gần đó, lấy giây thừng lớn trói vòng con vật vào thân cây.  Vừa buộc chặt nút thắt cuối, bác tháo ngay cái cày khỏi lưng trâu, lấy hết sức lực thẳng cánh nện lên mình cọp.  Cọp đau đớn giận dữ gầm thét vang làng chuyển xóm.

Cuối cùng, cọp vùng vẫy thoát được một chân sau, chống lên thân cây, gồng mình ráng sức bứt đứt giây trói.  Nhưng thay vì quay lại vồ mồi, cọp cúp đuôi dông tuốt một mạch về rừng.

Kể từ đó cọp không còn như trước.  Vì cố ráng vùng thoát, cọp đã làm những vòng giây trói siết chặt phát nhiệt nóng đốt xém bộ lông vàng thành những vệt vằn vện quanh mình.

Bây giờ cọp mới hiểu cái trí khôn của con người là gì, nên thêm quỷ quyệt và là kẻ thủ không đội trời chung với loài người, trở thành con vật chuyên giết người ăn thịt.

Chẳng bao giờ cọp rời hang núi lúc ban ngày để mầy mò quấy nhiễu đám gia súc và chủ của chúng.  Bộ lông trên mình với những vết vằn vện luôn nhắc cọp nhớ đến mưu trí của loài người.

Xin bổ túc thêm phần cuối chuyện liên hệ đến con trâu, không có trong nguyên bản tiếng Anh.

Thấy chủ xử sự dùng trí khôn dạy một bài học để đời cho Vua Cọp, trâu khoái quá hả họng cười lăn cười bò, ngã bổ chửng vào gốc cây, va bập mõm vào tảng đá, gãy trọn cả hàm răng trên.  Và từ đó, trâu không có hàm răng trên nữa.  Cũng từ đó, ta có câu tục ngữ “chởm hởm như trâu mất hàm côi”**, ý chế nhạo chẳng có gì mất cả, vì vốn đã không có rồi.

*  Nguyên bản tiếng AnhThe Tiger’s Stripes của Võ Đình, trong tập chuyện kể dân gian Việt Nam có minh họa The Toad is The Emperor’s Uncle/Con Cóc là Cậu Ông Trời, nhà xuất bản Doubleday & Company, Inc, Garden City, New York, 1970

**  Côi có nghĩa là trên, tiếng Việt xưa, còn dùng tại vùng Thanh- Nghệ- Tĩnh và Quảng Bình/Quảng Trị/Thừa Thiên

A long time ago, the tiger’s coat was a source of great pride to him.  In the shadows of the forest, under the moonlight, the great feline’s body was an undulating and powerful mass of glittering gold.

But today, he loathes the irregular black stripes which mar his once perfect fur.  To him, these beautiful stripes look like nothing but the marks of a cruel slashing whip.  Nevertheless, he has learned to live with them.  And ironically, these very marks have made him even more elusive.  Lurking in the elephant grass or crouching behind a thicket, the tiger, blending into his surroundings, is all but invisible.

Let no one think for a moment, however, that when the tiger’s coat was of a uniform golden brown he was any less fearsome.  His reputation for swiftness and power, cruelty and greed was already established.  It is well known that a lion which has just eaten never kill.  The tiger, though, has always been ready for attack.

*

It was such an animal which had been terrorizing the population of a whole mountain village.  The people had been living peacefully in their day-to-day routine when suddenly fear erupted like a volcano.  In less than a week the tiger had visited their hamlet three times.  A calf, another calf, then a prize pig disappeared.  The villagers were afraid and puzzled. The large beast – his footprints were enormous – was a particularly cunning, swift, and strong one.  The raids had taken place noiselessly, because the dogs, usually vigilant, had kept quiet.  The bamboo fences surrounding the houses had remained undisturbed.

Afraid of losing any of his cattle, one man angrily mounted guard himself and, with two other men, waited all night for the killer.  Confronted by three men armed with spears and swords, the tiger beat a quick retreat, but not before he had swiftly and savagely struck one of the men.  The victim died of a fractured skull.  By now, the Tiger King, so name for his huge size, had become the most feared and hated creature in the whole valley. There, he reigned supreme.

For quite some time, the Tiger King had had his eyes on a big black buffalo he saw almost every day, pulling the plow in the field for its master.  From behind the grass and bushes of the hill, high above the village, the Tiger King often gazed down at the working team.  But as yet, the Tiger wanted no battle with them.  He thought, “If the big buffalo with his sharp horns seems so strong that I think twice before attacking it, how dangerous and powerful the man must be to remain its master!”

As the days passed the Tiger King became more and more impatient.  Still, instead of going to the field and risking a bloody fight, he was cunning enough to remain hidden and wait for the right moment.

One morning the farmer came to his rice field as usual, but apparently having forgotten something, he disappeared after a moment, leaving his buffalo behind.  From afar, the tiger watched all this.  “I will go and try to make friends with the buffalo,” the Tiger King thought suddenly, “and strike him when he least suspects it.  Then I’ll hide him in the bush,” he thought again, on the way down to the field, “and when the man returns, I will handle him without his buffalo’s help!”

Swiftly, the Tiger King approached the buffalo, trying to look as gentle as he could.  “Listen, friend, I have come with no harmful intentions.  I only want to ask you something which has been bothering me for some rime.”

Although frightened, the good buffalo remained calm.  “Oh, it’s you, friend Tiger!  How nice to see you!  What is this that I can do for you?”

“Well, friend buffalo.” The tiger said, maneuvering himself all the while into a good place from which to leap at the unsuspecting buffalo. “I have been admiring you for a long, long time now.  Your strength!  Your industry!”  The tiger raised his eyes toward heaven.  “How you can ever pull this heavy plow is beyond me.  And the way you work!  From dawn to dusk with but a short, short break at noon!  I think you are wonderful, friend buffalo, wonderful, admirable …”

Despite his fear, the buffalo was pleased.  Here was the Tiger King himself, standing in the mud of the field, praised him, the lowly plow-piller!  But he did not relax his guard.  Every time the tiger moved, he, too, moved.  The Tiger King always found the huge, curved, sharp horns facing him.

“I think you are admirable,” the Tiger King repeated.  “If it were not for your master, the farmer –”

“What of my master, friend Tiger?”  The buffalo inquired, somewhat taken aback.

“Well, now, don’t take offense, friend buffalo. I think you have been letting yourself be injustly exploited by that man.  I don’t know what he would do to pull this heavy plow without your help.  But he treats you badly, very badly.  Go!  Stop!  Left!  Right!  All those orders!  And that bamboo cane in his hand … He whips you every three steps you take!  What a cruel, hard man!  If I were in your place, I would …”

But the Tiger King was interrupted. The buffalo did not like to hear his beloved master abused.

“You are wrong, my dear friend,” he said to the Tiger King.  “The man is as good as he can be.  He has to give orders so I will know where to go.  And his whip is not meant to hurt me!  My skin is too thick for that wisp of bamboo!  Besides, he is kind and gives me food and ahelter.  And, of course, he is my macter because he has intelligence.

“Intelligence!”  interjected the Tiger King, edging closer.  “What’s that?  I have never herad of it before.  What does an intelligence look like?”

Shaking his head, the buffalo faced the tiger with hic horns.  “I don’t know.  I really don’t!  I have never seen it myself.  But I know he has it because people talk about it.  They say that that’s why he is so powerful and clever.  By the way, he will be back any moment now, and you could ask him about it yourself.”

The Tiger King’s curiosity was aflame.  For once he was not as cautions as he should be.  He decided to wait for the man’s return.

As soon as the farmer rounded the corner of the path, he came face to face with the tiger.  But having taught what to do in such a situation, the man knew better than to turn on his heels and run.

“Master!” the buffalo called to him, “Here is my friend, Tiger.  He asks to see your intelligence!  Won’t you please show it ti him?”

The Tiger King chimed in: “Show it to me, Farmer!  I want to see it, just for once. Is it true that it helps you to be clever and powerful? Why then haven’t I got it?”

Completely recoved now from the initial shock, the farmer threw his hands up:  “Well, well, good morning Mister Tiger, sir!  Why in heaven didn’t you come a bit earlier, before I went home to fetch my lunch?  I certainly would have brought my intelligence back to show you.  It’s too big and too heavy to carry around you know!  I always leave it at home.”

The tiger was thoroughly disappointed.  But his disappointment did not make him forget the the real reason he was there was to assault both buffalo and man.  Now that he was seeing them at close quarters, they didn’t look as big and dangerous as they had from afar.  “Perhaps I could try to take them on right here and now,” the Tiger King thought, and his tail began to quiver as it always did before an attack. … But quickly the farmer said to the tiger:   “Oh, all right, all right!  Don’t look so miserable, sir!  Since you came here all the way from the jungle, I don’t want you to go back without having seen it.  I’ll return in a moment.”  Thereupon the farmer turned on his heel and started home.  But before going to a dozen feet, he retraced his steps hurriedly and said to the tiger. “But look here!  To oblige you I’m willing to go all the way home to get my intelligence. But I don’t want to leave you alone here with my buffalo.  Who would help me plow my fields if you ate up my buffalo?”  The tiger protested vigorously that he had no intention of doing so, but the farmer was adamant and refuse to leave.

Suddenly the man slapped his thigh triumphantly.  “Well, if you want to see my intelligence so much, why don’t you let me tie you up to this tree here?  Then I wouldn’t worry about my buffalo.”

The Tiger King looked at the man, then at the buffalo, then back at the man, then back at his buffalo.  More than ever, they seemed so mild, so humble to him.  Now that his master was back, the buffalo was behaving in his usual docile, gentle way.  He was standing there with his head slightly bent down, his eyes thoughtful and sad.  “And the farmer!  That puny man!” thought the Tiger King.  “I have to see this fellow’s intelligence.  I will take it from him and then I will kill and eat them both.”  Having made up his mind, the Tiger King agreed to the farmer’s proposal.

Making the tiger stand upright against the trunk of a nearby tree, the man began to encircle the animal with yards of strong rope.  No sooner was the final knot tied than the farmer quickly unfastened the heavy plow from his buffalo, and with all his strength started to beat the captive tiger who roared in pain and fury.

Finally, maddened to the extraordinary strength, the Tiger King managed to get one of his hind feet against the tree and in one incredible push broke the strong binding rope.  But instead of turning upon his intended victims, he ran desperately for his life.

*

The tiger has never looked the same.  Having struggled so hard to free himself, he forced the rope to sear his fur, burning dark lines all over his body.

Because he knows now what man’s intelligence is, the tiger has become an even more treacherous and bitter enemy, an eternal “man-eater.”  Never again will he dare come down from his mountain lair in daylight to molest the domestic beasts or their masters.  His marred fur is always there to remind him of man’s cunning.

Thứ sáu, 12 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

Những khúc ca xuân – series, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, chị Huỳnh Huệ.

Muộn còn hơn không, Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Hạnh phúc trong công việc , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Giúp một người, Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Thị Thu Hiền.

Điều tốt đẹp nhất bạn có và là , Danh Ngôn, song ngữ, chị Lâm Thanh Thanh.

Bâng quơ từ nơi xa xôi, Thơ, anh Phạm Lưu Đạt.

Chợ Tết, Thơ, chị Tôn Nữ Ngọc Hoa.

Cuối năm , Thơ, anh Trần Đình Hoành.

Chuyển Gửi – Transmission , Thơ, song ngữ, anh Nguyễn Minh Hiển và anh Trần Đình Hoành.

Nghĩ về mưa nắng trời xuân, Văn, Văn Hóa, anh Trần Huiền Ân.

Mưa hoa, Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Những khúc ca xuân – series

21. Liên khúc Xuân ca, Đón Xuân & Xuân nghệ sĩ hành khúc

Bich Vân & nhiều nghệ sĩ


.

22. Xuân Đã Về- Mây Trắng


.

23. Dịu Dàng Sắc Xuân – Mây Trắng


.

24. Khúc Hát Thanh Xuân_ Johann Srauss, Lời Việt Pham Duy

Trình bày: Thanh Lan & Ngọc Hạ


.

25. Lắng Nghe Mùa Xuân Về

Trình bày: Bằng Kiều, Hồng Nhung


.

26. Xuân Quê Tôi – Cẩm Ly & Quốc Đại


.

27. Liên Khúc Thì Thầm Mùa Xuân – Chiều Xuân

Trình bày: Tam Ca Con Gái


.

28. Khúc Nhạc Mừng Xuân – Trish


.

29. Xuân Họp Mặt

Jacqueline Thùy Trâm, Dạ Nhật Yến and Trish Thùy Trang


.

30. Khúc Xuân Ca Nhạc Nguyễn Ngọc Phúc – Quỳnh Lan trình bày

Hạnh phúc trong công việc

Để mọi người hạnh phúc trong công việc, có ba điều cần thiết: Họ  cảm thấy phù hợp cho việc đó. Họ không phải làm việc đó quá nhiều. Họ có cảm giác thành công trong việc đó .

Nguyễn Hoàng Long dịch

.

In order that people may be happy in their work, these three things are needed: They must be fit for it. They must not do too much of it. And they must have a sense of success in it.

John Ruskin (1819 – 1900), Pre-Raphaelitism, 1850

l

Buâng Quơ Từ Nơi Xa Xôi.

Gío thở từng sợi lạnh
Xuân vẩn ở nơi nao?
Loanh quanh vài trang báo
Đâu đó một cành mai
Thế thôi.
Nắng đầu mùa chút ấm
Nằm nướng dài trên sân
Con chim sẻ gật gù
Tìm tình yêu đầu Xuân?
Thế nhé

Ai có về bến xưa
Nhớ gói cánh hoa đào
Nhớ thăm con đường nọ
Nhớ gởi lời chúc xuân
Nhớ em.
Vài cụm mây lơ đểnh
Vướng ngọn núi thông gìa
Vài con sóc kiếm ăn
Rớt rơi từng nhúm tuyết
Cô độc
Xuân vẫn xa
Thêm một lần
Chồng chất tóc phai.

Phạm Lưu Đạt

02/06/2010

Chợ Tết

Giữa giòng người ngược xuôi

Tôi thả bước lẻ loi

Không tìm mà mong gặp

Một người. Lâu lắm rồi…

Người ấy chợ Tết xưa

Thưở mười sáu trăng mơ

Giữa đông vui bè bạn

Gởi bông hoa thay lời

Ngày đó tôi thơ ngây

Tưởng chuyện đùa bé con

Cầm bông hoa bứt cánh

Thả gió cuốn. Reo dòn..

Nào biết tôi vô tình

Xé nát mối tình son

Nào biết tim ai vỡ

Giữa chiều xuân rộn ràng

Từ đó người phiêu dạt

Năm tháng mãi không về

Từ đó tôi biết nhớ

Người đã thành người xa

Xuân đến rồi xuân qua

Hoa tàn lại nở hoa

Bao nhiêu năm thầm lặng

Tiếc hoài bông hoa xưa

Chợ Tết người đông vui

Này lứa đôi lứa đôi

Không thấy người. Không thấy

Khói đâu mà mắt nhòe

Tôn Nữ Ngọc Hoa

Chuyển gửi – Transmission

Chào các bạn,

Tết năm 2008, khi anh Hoành post bài The Old Master (Ông Đồ Già) trên diễn đàn VNBIZ, mình gởi bản dịch của anh Hoành đến người bạn Mỹ lớn tuổi mà mình gọi là Uncle Hank. Uncle Hank lấy được hứng khởi từ bài The Old Master và viết một bài thơ tặng mình, có tên là Transmission.

Gần đây mình nhờ anh Hoành dịch ra tiếng Việt, gọi là Chuyển Gửi.

Hôm qua anh Hoành đăng bài The Old Master trên ĐCN. Nên hôm nay mình muốn chia sẻ bài thơ Transmission và câu chuyện nhỏ này đến các bạn.

Chúc cả nhà một ngày chuyển gửi! 🙂

Hiển

Chuyển gửi

Một mình trong quán sách cà phê.
Tôi ngồi và đọc và ngắm
người qua.
Một chàng Á châu đẹp trai
(người Phi, sau này tôi khám phá)
lượn ra lượn vào giữa những hàng sách.
Hắn thấy tôi.
Tôi thấy hắn.
Hắn đến và ngồi,
dù có cả hàng chục chiếc ghế dư,
ở chiếc bàn kế tôi.
Chằng nói với nhau lời nào.
Cũng chẳng chào hỏi.
Hắn mở cặp
và lôi ra một mớ bưu thiếp
và một sổ địa chỉ nhỏ.
Hắn viết và ký
(với hoa hòe bóng bẩy
của một chàng trai trẻ!)
tám hay mười thiệp.
“Tôi tưởng tôi là người cuối cùng trên thế giới
thực hành nghệ thuật cổ-lổ-xỉ này,”
tôi bắt chuyện.
“Cái gì? Gởi bưu thiếp
cho bạn bè lưu lạc khắp nơi
trên thế giới?
Đừng lo, ông nội.
Tôi sẽ trung thành với nó
mãi sau khi ông đã ra đi.”

TĐH dịch

Transmission

All alone in the bookstore cafe,
I sit and read and watch
the passers-by.
A handsome Asian man
(Filipino, I later find out)
weaves in and out of the stacks.
He notices me.
I notice him.
He comes and sits,
despite two dozen empty seats,
at the table next to me.
No words are exchanged.
No greetings yet.
He opens a briefcase
and extracts a stack of postcards
and a small “carnet d’addresses”.
He writes and signs
(with a young man’s pretentious
flourish!)
eight or ten of these.
“I thought I was the last man on earth
to practice this arcane craft,”
I offer.
“What? Sending postcards
to friends scattered all around
the world?
Don’t worry, grandfather,
I’ll be faithful to it
long after you are gone.”

Thanks for the inspiration.  Here is my Tet present to
you.  (When is Tet?)
Uncle Hank

Nghĩ về mưa nắng trời xuân

Đọc tập hồi ký viết tay thấy cha tôi kể chuyện hồi những năm đầu thập niên 30 của thế kỉ trước song thân tôi “lưu lạc” vào Nam Kỳ. Sáu bảy năm trời xa quê, nhìn “thiên hạ” đón xuân ông cảm khái ngâm rằng:

Xuân mãn nam thiên phong thủy cựu
Nhơn tồn khách địa tuế thời tân


Hồi đó Tây chia nước ta thành ba kỳ, ba chế độ cai trị khác nhau. Dân Trung Kỳ vào Nam Kỳ coi đây là đất khách. Xuân về tết đến… đem lại thời gian mới nhưng người vẫn còn nơi đất khách nhớ về quê cũ. (Tương tự, Nguyễn Bính từ Bắc Kỳ vào đến Huế đã làm thơ rằng Chén rượu ly hương, trời, đắng lắm, rồi trong Hành phương nam cũng từng cảm khái với Đêm mưa đất khách). Thế nhưng, nghiệm trong câu trước thì dẫu phương nam hiện tại (lúc ấy) có là đất khách, cha tôi vẫn hiểu mình đang sống dưới trời nam, không riêng cho một kỳ nào. Khắp cả trời nam mọi người cùng đón xuân với phong tục tập quán tự ngàn xưa. Vậy là cha tôi không cô đơn nơi khách địa, ông đã bắt gặp cả phong thủy cựu bàng bạc khắp nơi giữa buổi tuế thời tân, bởi vì xuân mãn nam thiên, bởi vì mùa xuân không bao giờ lỗi hẹn.

Rồi khi tôi vừa chào đời song thân tôi trở về quê cũ. Tôi đã sống những ngày thơ ấu trong không khí vùng cao nguyên mùa dông lạnh buốt gió bấc mưa dầm. Dần dần mưa tạnh, run run chút nắng mong manh, lớp đất đóng rong trên mặt sân bóc lên những miếng bằng miệng chén, vỡ ra giòn vụn dưới bàn chân cho tôi sự thích thú nhẹ nhàng. Vài ba buổi chiều rồi năm bảy buổi chiều. Cái nắng như người bệnh yếu ớt ẻo lả ấy dần dần bình phục, mỗi hôm đậm thêm một chút, dần dần không biết tự lúc nào vẻ chói chang rực rỡ hiện rõ, trong màu sắc còn có hương thơm và hình như có cả vị ngọt. Chúng tôi ngớ ra y như con thú rừng ngẩng đầu vươn cao tầm nhìn để đánh hơi trong gió và thấy được: tết sắp tới rồi. Tuổi nhỏ chúng tôi chỉ biết có tết, sau này lớn lên, hồi tưởng mới nói: mùa xuân đang đến.

Tháng chạp hết mưa, buổi sáng đầy sương là báo hiệu buổi trưa nắng tốt mà giữa khuya càng thấm lạnh. Đến cuối tháng chạp thì nắng đẹp lắm, màu vàng tươi rói. Thế mà sang tháng giêng thì cái nắng ấy biến đâu mất. Nắng tháng giêng đã nghiêng sang màu hồng, hơi nặng, không vàng, không nhẹ như nắng tháng chạp. Và tháng giêng trời lại chuyển mùa, hay có những cơn mưa: mưa xuân.

Có thể nói thời tiết từ đông sang xuân thật rắc rối:

Cơ mầu tạo hóa bốn mùa vần
Đông: cuối ba mươi – mồng một: xuân
(Thơ Hồng Đức quốc âm)

Nhiều lần chiều hăm chín chiều ba mươi vẫn là nắng vàng tháng chạp, nhưng giữa khuya hoặc mờ sáng rắc xuống cơn mưa. Đôi lúc là cơn mưa khá lớn, nhưng mưa không lâu. Thông thường mưa nhỏ lay bay, mưa phùn lất phất. Đọc thơ Trung Hoa thấy ông thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên nhàn nhã đến mức ngày xuân mà ngủ quên không biết trời trăng mây nước gì, đến khi nghe tiếng chim kêu rộn ràng thức dậy tự hỏi: Đêm qua trời mưa gió hoa rụng ít nhiều?

Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu?
(Xuân Hiểu)


Khi chúng tôi trưởng thành mà chưa phải nhận trách nhiệm gia đình thì ngày tết cũng thật thoải mái, tưởng như đất trời trong gang tấc để vẽ vời cái gọi là giấc mộng sông hồ. Tết là dịp để rộng bước giao lưu, đi chơi đây đó. Thanh niên Miền Trung năm mươi năm trước phần đông hiền khô như cục đất, bước đầu tập uống la-ve, đọc cổ văn cố bắt chước theo cái buồn của người xưa nhưng chẳng thấy đâu mối sầu vạn cổ mà càng có điều vui để nói với nhau, nhìn bạn gái qua lăng kính Tự lực văn đoàn, thấy người nào cũng đẹp, cũng thánh thiện. Mưa xuân làm đôi má bạn trắng hơn, nắng xuân làm má bạn hồng hơn. Tết được đồng hóa với mùa xuân và mùa xuân đồng hóa với tuổi xuân, cho nên khi tết không chịu nán lâu hơn thời ta còn niên thiếu, Kiều Thệ Thủy viết:

Ai đem tâm sự mà thương nhớ
Cồn tóc mây xa ở cuối trời
Bạn cũ sông hồ năm bảy đứa
Biết còn trinh bạch những đôi môi?

Đời tôi trải nhiều buổi nguyên đán nắng hồng hơn những buổi nguyên đán mưa nhạt. Nhưng những buổi nguyên đán mưa nhạt còn đọng lại trong ký ức lâu hơn. Năm ấy tôi về ăn tết tại nhà bà cô ở làng Bình Chánh trong vùng châu thổ sông Cái Tuy An, sáng mồng một theo ông dượng lên chùa Đá Trắng. Đá Trắng là tên nôm, tên chính thức của chùa là A Lan Nhã sắc tứ Từ Quang tự. Trời mưa bụi lay bay, thoáng nhìn ta không biết ướt, nhưng vuốt tay lên đâu thì thấy nước ở đó. Tâm hồn tôi như lâng lâng khi dạo trong vườn tháp rêu phong, cứ nghĩ hoài đây là nơi gắn bó với những việc quan trọng của gia tộc. Trong cuộc khởi nghĩa Cần vương tại Phú Yên năm 1885 do Lê Thành Phương lãnh đạo, ông nội tôi lúc ấy hăm sáu tuổi là Quân thứ từ hàn, lo về văn thư bút lục, thường lãnh nhiệm vụ ra chùa Đá Trắng làm một khách vãn cảnh để gặp gỡ liên hệ với các bạn đồng tâm trong văn thân tỉnh Bình Định. Một buổi trưa nắng gắt tại dốc Đá Trắng ông đã gặp người phụ nữ gánh nước độ đường. Người phụ nữ ấy sau là bà nội tôi. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông nội tôi đưa bà lên Vân Hòa trú ẩn, về già lui xuống Phong Thái, căn dặn con cháu khi ông lâm chung chôn sâu trong hang đá. Cha tôi thì an táng ở Tuy Hòa. Thành ra cả họ Trần nhà chúng tôi chỉ có hai người dâu là bà nội tôi và mẹ tôi ngàn năm yên nghỉ tại Vân Hòa. Bởi lẽ ấy tôi dành trọn tình cảm sâu nặng cho làng quê.

Có một nguyên đán từ huyện lị tôi khăn gói lên đường làm chuyến đi xa. Đi xa là nói theo chữ nghĩa cho vui và nói theo giao thông cách trở thời tôi hai mươi tuổi chứ ba bốn trăm cây số thì giờ đây có xa gì. Từ quán trọ nhìn ra con đường vừa tu bổ, những hàng dương mới trồng xanh nhạt dưới màn mưa nhỏ. Chưa biết nhiệm sở sắp đến thế nào, bằng hữu sẽ gặp ra sao, tưởng tượng cũng có phần thích thú nhưng không khỏi phảng phất bâng khuâng xa cách cố nhân, sẽ không còn những lần lang thang từ phố huyện ra nhịp cầu xưa đến chân đồi Lá đôi mắt bạn nhìn xa xôi tận điểm cuối cùng.

Tôi mạn phép sửa một chữ trong thơ Vương Duy:

Huyện thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân

Và thoát dịch theo ý mình: Mưa mai rắc bụi huyện thành. Hàng dương quán trọ xanh xanh nhạt nhòa.

Tháng giêng bao gồm hai tiết lập xuân và vũ thủy. Từ lập xuân đến vũ thủy mưa xuân chỉ rơi rắc như bụi nhẹ. Mưa vũ thủy mới đáng mặt là mưa, mưa cho cây cối núi rừng, hoa đồng cỏ nội, ruộng đồng đất thổ, cho lúa bắp sắn khoai, mưa thật lớn, ào ào tuôn đổ, ép dẽ mái tranh, băng bờ tạo trổ, thật tươi trẻ, mạnh mẽ, dứt khoát từng cơn rồi tạnh ráo, tầng cao trở lại trong xanh, nõn nà mây trắng, mưa không dai dẳng lê thê, trời không âm u trì trệ. Nếu coi những cơn mưa bụi buổi nguyên đán khai xuân là mưa sơ sinh, mưa thơ ấu, thì mưa trong tiết vũ thủy là mưa tuổi hai mươi, bước vào giai đoạn trưởng thành, tràn trề mộng ước. Tiết vũ thủy năm ấy cha tôi làm thơ nôm vịnh cảnh ruộng đồng, có những câu:

Lúa nứt ngạnh trê thêm bộn gié
Đỗ ra trái đỉa lại nhiều hoa
Con chàng bắp nọ không lo háp
Mấy đám khoai kia chẳng sợ hà…


Thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên mới ngày nào đó nhàn hạ vô tư, sau giấc ngủ mùa xuân trễ tràng nghe tiếng chim kêu nghĩ chuyện hoa rụng ít nhiều thì tới lúc nào đó cuối năm trở về Nam Sơn không khỏi chạnh lòng thấy tóc bạc giục tuổi, mỗi năm một già, ngày xuân đưa năm cũ trôi đi hết:

Bạch phát thôi niên lão
Thanh dương bức tuế trừ…

Câu thơ ấy đang ứng với thế hệ chúng tôi. Có thể nhìn xuôi chiều thời gian từ ấu thời đến lão niên, cũng có thể nhìn ngược lại để điểm dừng ở tuổi ấu thời. Ba bữa tết, bảy ngày xuân, nắng mưa, mưa nắng… trong mỗi đời người đâu phải ít lần trải qua, cứ đến chu kỳ quay lại đúng hẹn, luôn luôn bao trùm lên tất cả, sông núi cỏ cây hoa lá và quan trọng hơn hết là trong lòng người. Cũng con đường ấy sáng mồng một mới hơn chiều ba mươi, cũng con người ấy hôm nay chỉnh tề mực thước hơn hôm qua. Cái mới của mùa xuân khiến cho mỗi tâm hồn trẻ trung vì biết phân định quá khứ đồng thời dự phóng tương lai.

Cho nên khi một cành mai phương nam, một cành đào đất bắc hay một khóm hoa núi, một tiếng chim rừng chợt báo tin xuân, con người ở chặng nào của cuộc đời đều sẵn sàng dọn lòng chuẩn bị hoan nghênh. Dù vui hay buồn, mưa hay nắng, ai ai cũng trải mở phong thủy cựu để đón tiếp tuế thời tân.

Trần Huiền Ân

Mưa hoa

Tu-bồ-đề là đệ tử của Phật Thích Ca. Sư có thể hiểu được uy lực của Không, quan điểm rằng không có gì hiện hữu ngoại trừ trong liên hệ chủ quan và khách quan của nó.

Ngày nọ Tu-bồ-đề đang ngồi dưới gốc cây, trong trạng thái cực kỳ tĩnh lặng, Hoa bắt đầu rơi quanh ông.

“Chúng tôi ca ngợi ngài về đàm luận của ngài về Không,” các vị Phạm thiên thì thần với ông.

“Nhưng tôi đâu có đàm luận gì về Không,” Tu-bồ-đề nói.

“Ngài đã chẳng đàm luận gì về Không, chúng tôi đã chẳng nghe gì về Không,” các Phạm thiên trả lời. “Đó chính là Không.” Và hoa rơi trên Tu-bồ-đề như mưa.

Bình:

• Cảnh “mãn thiên hoa vũ” (mưa hoa đầy trời) nầy thường xảy ra trong kinh Phật, thông thường là khi Phật Thích Ca hay một vị Bồ Tát nào đó dạy một “pháp” rất lớn, rất vi diệu.

• Phạm thiên, lấy từ chữ Brahman trong Ấn giáo, là vua của một cõi trời.

• Chữ emptiness trong bản tiếng Anh được dịch ở đây với hai chữ khác nhau ở hai nơi: “Không”, và “tĩnh lặng” (khi Tu-bồ-đề ngồi dưới gốc cây).

“Không” là tất cả vũ trụ của ta (cả nội tâm lẫn ngoại tại).
“Tĩnh lặng” là một trạng thái nội tâm.

Trạng thái nội tâm của ta (tĩnh lặng, emptiness) cũng chính là vũ trụ của ta (Không, emptiness). Đây là một mệnh đề triết lý có thể được lý giải bằng những lý luận và từ ngữ triết lý phức tạp. Nhưng chúng ta có thể giản dị hóa vấn đề bằng quan sát rằng: “Khi tâm ta cực kỳ tĩnh lặng thì ta thấy thế giới quanh ta cực kỳ tĩnh lặng.”

Tức là, Vũ trụ ta thấy là do tâm ta thấy như vậy. Đây là quan niệm chủ quan về hiện hữu—Hiện hữu quanh ta chỉ có thể thấy được như tâm ta thấy.

Tức là, Vũ trụ mà ta thấy chỉ là l‎ý giải của tâm ta về vũ trụ ta nhìn.

Nghĩa là, mỗi người chúng ta “thấy” một vũ trụ, và vũ trụ ta thấy thì khác với vũ trụ người khác thấy.

Và nếu tôi không hiện hữu (ví dụ, tôi chết đi) thì vũ trụ tôi thấy cũng chết theo tôi. Không có tôi thì vũ trụ của tôi không hiện hữu.

Không có những người khác, thì những vũ trụ của họ cũng không hiện hữu.

Cho nên ta nói “Vũ trụ là do tâm ta sinh ra.” Nếu ta chết, vũ trụ của ta chết theo.


• Nhưng, dù là chúng ta chỉ có được cái nhìn chủ quan về hiện hữu thì hiện hữu vẫn phải “có” đó một cách khách quan, trong một dạng nào đó, dù là không ai nắm bắt được khách quan tính của nó. (Ngay cả nói nó “có” đó một cách khách quan cũng đã là sai rồi, vì “có” là hiện hữu, mà hiện hữu nào thì cũng chỉ là cái nhìn chủ quan méo mó, không bảo đảm, của tôi).

Ta gọi tính khách quan của vũ trụ là Không, vì không diễn tả được cách nào cả, ngoài việc dùng tạm tên “Không”; nếu diễn tả bằng ngôn từ, thì ngôn từ sẽ biến Không thành “l‎ý giải chủ quan của hiện hữu” mất rồi.

• Đó là ‎ý nghĩa của câu: “Không có gì hiện hữu ngoại trừ trong liên hệ chủ quan và khách quan của nó.”

Không có gì hiện hữu đối với tôi ngoại trừ trong liên hệ chủ quan giữa nó với tôi—cái nhìn chủ quan của tôi về nó.

Không có gì hiện hữu với tôi ngoại trừ trong liên hệ giữa hình ảnh chủ quan của nó trong tâm trí tôi và một suy luận chủ quan của tôi là nó phải hiện hữu khách quan một cách nào đó (để tôi có thể nhìn và thấy nó một cách chủ quan).

Ngoài những cái nhìn chủ quan (méo mó) và suy luận chủ quan (méo mó) của tôi về chủ quan và khách quan, thì chẳng thể nói gì chính xác về hiện hữu cả.

Bên ngoài và bên trên những cái nhìn và suy luận này thì cùng lắm chỉ có một “cái” chính xác nhưng lại không diễn tả được–đó là Không, cái khách quan tính của hiện hữu mà vĩnh viễn tôi không thể nào mô tả hoặc nắm bắt được.

• Vì không thể mô tả và nắm bắt “Không” được, nên Tu-bồ-đề đã chẳng nói gì về Không, và chư thiên đã chẳng nghe gì về Không, và như thế Không là Không.

• Liên hệ chủ quan và khách quan là các từ triết lý tây phương. Ở Đông phương, người ta thường nói đến “tánh” (khách quan) và tướng (chủ quan), hay “thể” (khách quan) và “dụng” (chủ quan).

• Đây là vũ trụ quan của Phật giáo. Và đồng thời cũng là nhân sinh quan, khi Tu-bô-đề ở trong “subtime emptiness” (“cái Không vi diệu”, mà chúng ta đã dịch là “cực kỳ tĩnh lặng”).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Flower Shower

Subhuti was Buddha’s disciple. He was able to understand the potency of emptiness, the viewpoint that nothing exists except in its relationship of subjectivity and objectivity.

One day Subhuti, in a mood of sublime emptiness, was sitting under a tree. Flowers began to fall about him.

“We are praising you for your discourse on emptiness,” the gods whispered to him.

“But I have not spoken of emptiness,” said Subhuti.

“You have not spoken of emptiness, we have not heard emptiness,” responded the gods. “This is true emptiness.” And blossoms showered upon Subhuto as rain.

# 36