Thứ sáu, 17 tháng 4 năm 2009

Bài hôm nay:

Vương quốc Bhutan, Văn hóa, Video, chị Loan Subaru.

Ra đi cho sự sống mới, Trà Đàm, chị Huỳnh Huệ.

Cành cây xanh trong tim, Danh Ngôn, song ngữ, chị Đặng Nguyễn Đông Vy dịch.

Tình nguyện viên, Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Minh Hiển dịch.

Chủ nghĩa nhãn hiệu, Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin sáng, chị Thùy Dương tóm tắt và nối links.

Ngày hội của họa sĩ “nhí” – Cả ngàn họa sĩ “nhí” đến từ nhiều trường học ở các quận nội thành cùng với thầy cô và phụ huynh ngồi chật cả khoảng sân rộng của trường tiểu học Nguyễn Thái Sơn, Q.3, TP.HCM vào sáng 12.4, chuẩn bị bước vào vòng chung khảo cuộc thi Nét vẽ xanh lần thứ 12.

Ông mổ tim – Ông là tiến sĩ Nguyễn Viết Nhân, phụ trách văn phòng tư vấn di truyền và hỗ trợ trẻ khuyết tật (OGCDC) của Trường ĐH Y dược Huế – chuyên đi quyên tiền cho trẻ em phẫu thuật tim, giúp đỡ trẻ nghèo khuyết tật suốt hơn mười năm nay.

Chợ việc làm cho người khuyết tật – Lần đầu tiên tại TP Đà Nẵng, phiên chợ việc làm định kỳ của Trung tâm giới thiệu việc làm (tổ chức hôm nay 15.4) có khu vực dành riêng để tuyển dụng những lao động khuyết tật.

Tưng bừng giải bóng đá sinh viên Việt Nam tại Pháp – Giải bóng đá truyền thống của sinh viên Việt Nam tại Pháp NNB lần thứ 10 đã diễn ra trong tinh thần thể thao cao độ và tạo ra sân chơi thể thao lành mạnh, nơi giao lưu kết nối những bạn sinh viên Việt Nam đến từ mọi miền nước Pháp.

Hoàn thành bức phù điêu đại cảnh lớn nhất Đông Nam Á – Chiều 15/4, tấm đá cuối cùng trên bức phù điêu đại cảnh lớn nhất Đông Nam Á thuộc Dự án Xây dựng Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ giai đoạn II đã được lắp ghép xong.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

🙂 🙂 🙂 🙂 🙂

Đọt Chuối Non

Vương Quốc Bhutan

Quốc kỳ Bhutan
Quốc kỳ Bhutan

Bhutan có thể xuất phát từ từ ‘Bhu-Utthan’ trong tiếng Phạn có nghĩa “cao nguyên”. Một giả thuyết khác cho rằng nó là sự Phạn hóa, từ Bhoṭa-anta có nghĩa “nơi chấm dứt của Tây Tạng” hay “phía nam Tây Tạng”. Tuy nhiên, một số người Bhutan gọi đất nước họ là Druk Yul, còn người dân là Drukpa. Cái tên Dzongkha (và Tây Tạng) cho đất nước này là Druk Yul (Vùng đất của Rồng Sấm). Vì sự thanh bình và thanh khiết của đất nước, cũng như những phong cảnh tại đó, Bhutan ngày nay thỉnh thoảng được gọi là Shangri-La cuối cùng.

Bản đồ Bhutan
Bản đồ Bhutan

Vương quốc Bhutan là một quốc gia nằm kín trong lục địa tại Nam Á, nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Toàn bộ nước này đều là đồi núi ngoại trừ một dải đồng bằng cận nhiệt đới nhỏ ở vũng viễn nam bị phân cắt bởi các thung lũng được gọi là Duars. Độ cao tăng dần từ các đồng bằng cận nhiệt đới lên các đỉnh Himalaya băng tuyết vượt quá 7,000 m. Nền kinh tế truyền thống của Bhutan dựa trên lâm nghiệp, chăn nuôi, và nông nghiệp, nhưng chúng chưa chiếm tới 50% Tổng sản phẩm quốc nội hiện nay bởi Bhutan đã trở thành nước xuất khẩu thủy điện. Cây trồng, du lịch, và hỗ trợ phát triển (chủ yếu từ Ấn Độ) hiện cũng giữ vai trò quan trọng. Một cuộc điều tra dân số toàn quốc tiến hành tháng 4 năm 2006 cho thấy nước này có 672,425 người. Thimphu là thủ đô đồng thời là thành phố lớn nhất nước.

Bhutan là một trong những quốc gia cô lập nhất trên thế giới. Những ảnh hưởng nước ngoài và ngành du lịch bị nhà nước quản lý để bảo tồn nền văn hoá Phật giáo Tây Tạng truyền thống. Đa số người Bhutan hoặc học tại trường Phật giáo Tây Tạng Drukpa Kagyu hoặc trường Nyingmapa. Ngôn ngữ chính thức là Dzongkha (dịch nghĩa “ngôn ngữ của dzong”). Bhutan thường được miêu tả là nền văn hóa Phật giáo Himalaya truyền thống duy nhất còn sót lại.

Về lịch sử và văn hóa: Bhutan có liên hệ với vùng láng giềng Tây Tạng phía bắc, tuy nhiên về chính trị và kinh tế hiện vương quốc này có quan hệ gần gũi hơn với Ấn Độ.

taktshangBhutan đã trở thành một chế độ quân chủ từ năm 1907. Vua Jigme Singye Wangchuck, người từng có một số động thái hướng tới một chính phủ lập hiến, đã thông báo vào tháng 12 năm 2005 rằng ông sẽ thoái vị năm 2008 nhường chỗ cho người con trai lớn. Ngày 14 tháng 10 năm 2006, ông thông báo sẽ thoái vị ngay lập tức, và con trai ông – Jigme Khesar Namgyal Wangchuck, lên kế ngôi. Ngày 22 tháng 4 năm 2007, theo quyết định của hoàng gia, cuộc bầu cử nghị viện lần đầu tiên trong lịch sử đất nước được dự định tổ chức vào năm 2008.

Loan Subaru
.

Ra đi cho sự sống mới

reincarnation
Nếu chúng ta không nhận thức được tính tất yếu của cái chết, liệu chúng ta sẽ trân quý từng phút giây hiện hữu của mình? Loại bỏ sự chết, ta cũng loại bỏ sự lựa chọn – cơ hội để chọn lựa những gì tạo thành chính ta.

Trong suốt chiều dài lịch sử, con người đã luôn tìm kiếm một phương thuốc cho sự già và chết. Chúng ta chưa bao giờ đặt câu hỏi liệu khả năng trường sinh ấy sẽ tuyệt vời chăng. Tuy rằng các giá trị của chúng ta, ý nghĩa đích thực của cuộc đời, sẽ hoàn toàn khác biệt nếu không có những điều như cái chết. Nếu không có cái chết rập rình phía trước, liệu chúng ta sẽ trân quý bao nhiêu từng ngày và từng giây phút hiện hữu của mình? Tương tự như thế, làm sao chúng ta có cảm giác ngon miệng nếu chúng ta có thể ăn bất cứ lúc nào mình muốn?

Chúng ta xem khí trời ta thở, và nước ta uống là chuyện tự nhiên, không mấy bận tâm suy nghĩ xem chúng cần thiết cho sự sống đến dường nào. Chỉ khi ta có nguy cơ bị mất đi những yếu tố ấy, chúng ta mới nhận ra tầm quan trọng của chúng. Sự sống cũng vậy, cuộc sống bừng sáng với những hứa hẹn vì cái chết là một sự tất yếu.

Chúng ta sẽ không thể hối tiếc thời gian đã lãng phí nếu, với ta, thời gian là vô hạn. Nhưng sự sống có giới hạn, và vì thế thời gian quý giá trôi qua như ta đếm đầu ngón tay. Tiếc thay, đa số chúng ta không tận dụng tốt thời gian mình có và để khi chết đi không mãn nguyện…

Loại bỏ sự chết và loại bỏ sự chọn lựa – cơ hội để chọn những gì tạo nên chính mình. Chính vì chúng ta nhận thức được cái chết là tất yếu, nên chúng ta kịp dừng lại để tự hỏi, tại sao chúng ta có mặt trong cuộc đời này và nên sống như thế nào.

Khi chúng ta tìm được câu trả lời và gắng hết sức mình để sống theo suy nghĩ về cách ta nên sống, bấy giờ ta mới có thể chào đón cái chết mà không có nuối tiếc ân hận về những gì chưa hoàn tất. Chúng ta nên sống mỗi ngày với tâm niệm rằng đến một lúc nào đó cuộc sống của ta sẽ dừng lại. Chính khi ta thừa nhận tính tất yếu của sự chết là ta thấy được cái gì thực sự quan trọng và cái gì là không. Chỉ khi ấy ta mới có thể hiểu được ta nên sống như thế nào.

Hãy gắng sống đẹp và xứng đáng

Cuộc sống dường như vô nghĩa đối với những người đánh đồng sự hiện hữu của họ với sự tồn tại vật lý, thân xác của mình. Nhưng đối với người nhìn thấy sự chết đi của xác thân này chỉ là sự tái sinh trong một hiện hữu khác, thì cuộc đời mình luôn có ý nghĩa và mỗi phút giây (mỗi sát na) trong chính sự hiện hữu của ta bây giờ sẽ trở thành quý báu.

Chúng ta sống cho đến hết đời mình một cách trọn vẹn nhất để bước vào cuộc sống vĩnh hằng. Mỗi chúng ta giống một vận động viên chạy đua trong cuộc chạy tiếp sức đường trường – chúng ta nỗ lực chạy nhanh nhất để chuyển giao cây gậy (trong cuộc chạy tiếp sức) cho người chạy tiếp. Có một câu ngạn ngữ Trung Hoa về mỗi thời khắc và mỗi nơi chốn cho từng mùa thế này. Xuân đi cho hè đến, hạ tàn để thu sang, rồi đông lại, cứ như thế mỗi mùa lại hoàn tất nhiệm vụ riêng của nó. Những người đã thành công nhưng cứ tiếp tục lao theo cuộc tìm kiếm ấy càng lúc càng xa có thể là đang đi ngược với tiếng gọi của tự nhiên.

Sinh, lão, bệnh, tử là những trải nghiệm ta có. Cuộc sống của ta viên mãn khi ta làm việc hết mình siêng năng cho mỗi sự vụ trên. Mỗi cá nhân là một mắt xích trong sợi dây đời vĩnh cửu. Đừng xem những năm cuối của cuộc đời mình như đang đi trên một chuyến xe tuột dốc. Thay vào đó hãy nghĩ đến những giây phút cuối trong đời như một hành khúc đi lên về với cái chết và vĩnh cửu.

Hãy làm những gì có thể làm được hôm nay

Mẹ Teresa ở Calcutta (1910-1997), người nhận giải Nobel Hòa Bình năm 1979, lúc sinh thời đã hiến tặng cả cuộc đời mình cho việc chăm sóc những người bệnh bất hạnh, tuyệt vọng, nghèo khổ không nhà. Theo lời ông Shigeki Chiba, đạo diễn bộ phim về cuộc đời của Mẹ, “Khi tôi đạo diễn bộ phim này, tôi chợt nhận ra rằng tôi chưa từng thấy một con người nào đẹp đẽ như người phụ nữ bé nhỏ với những nếp nhăn vì tuổi già này.” Ông còn nói ông vô cùng ấn tượng vì ngưỡng mộ sức mạnh tinh thần của Mẹ thể hiện ngay cả khi quay phim mẹ từ phía sau.

Những người được Mẹ Teresa chăm sóc đều nói rằng Mẹ khiến họ thấy rằng mình được Thiên Chúa yêu thương và tin tưởng rằng Chúa đã nghe thấy lời cầu nguyện của họ. Những lời cuối cùng của những người đã chết trong tay mẹ thường là “Con vui sướng đã được sinh ra trên thế gian này”.

Tác giả Shugoro Yamamoto đã nhân câu chuyện này để nói về cái chết: “Chết không phải là sự biến mất khỏi thế giới này, mà là bằng chứng về sự hiện hữu của một người. Cái chết kết thúc sự sống, nó là một sự viên thành. Nó không phải là sự tiêu vong, mà là viên mãn.

Khi chúng ta tự tin rằng cuộc sống của chúng ta sẽ chuyển tiếp vĩnh cửu, chúng ta có thể tạ từ thế giới này trong an bình, mà nói rằng: “Tôi sẽ tái sinh. Tôi sẽ trở về.”

Trong Kinh Trung Bộ, Đức Phật để lại cho ta những lời dạy này:

Đừng đuổi theo những cái đã qua
Đừng ao ước những gì chưa đến
Quá khứ đã bị loại trừ
Tương lai hãy còn chưa đến
Vì thế, hãy nhìn rõ hiện tại

Đừng hoang mang, và đừng run sợ
Hãy nhìn rõ những gì hiện có và làm theo đó
Tận tụy với những gì phải thực hiện hôm nay
Nào ai biết mình sẽ chết ngày mai
Sự thực, không có cách nào tránh khỏi
Sức mạnh lớn của cái chết.

Ai nhìn thấu rõ điều này
Miệt mài tận tụy đêm ngày
Vững chãi bằng tâm và ý
Ấy là người sáng suốt khôn ngoan
Ấy là người đạt được bình an.

Nikkyo Niwano, người sáng lập ra Tổ chức Phật giáo Rissho Kosei-kai, là chủ tịch danh dự của Ủy Ban Quốc tế Hội Thảo Thế Giới về Tôn Giáo và Hòa Bình (WCRF), và Tổ Chức Quốc Tế về Tự Do Tôn Giáo (IARF), và là chủ tịch danh dự của Shinshuren (Liên Đoàn Các Tổ Chức Tôn Giáo Mới của Nhật Bản).

Nikkyo Niwano

Huỳnh Huệ dịch
Từ “Dharma World Magazine, July/August 1998”

Chủ nghĩa nhãn hiệu

labelface

Chào các bạn,

Chủ nghĩa nhãn hiệu là labelism, là chủ nghĩa phân loại và đối xử với mỗi người tùy theo nhãn hiệu ta gắn cho họ. Hai từ này, cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt là do mình sáng tạo ra, cho nên các bạn đừng mất công tra tự điển. Nhưng nội dung của các từ này thì có lẽ là mỗi chúng ta đều nhận ra ngay lập tức.

Khi mô tả ai đó, chúng ta có khuynh hướng nói như thế này: “Chị ấy sinh năm 1973, dạy toán tại THPT Nam Định , Công giáo, thanh niên xung phong xuất sắc, 5 tuổi đảng, ly dị, một con trai 7 tuổi, cắt tóc ngắn, thích nhạc cổ điển, thỉnh thoảng ngồi quán cà phê mới mấy tay triết lý và hút thuốc, v.v…”

Mỗi mệnh đề giữa hai dấu phẩy trong đoạn trên là một nhãn hiệu. Mỗi nhãn hiệu cho chúng ta một khái niệm nào đó về chị này. Ví dụ, hmm… dạy toán—thông minh, logic và cứng ngắc; Công giáo—cứng ngắc thứ dữ; thanh niên xung phong xuất sắc—làm việc tốt; 5 tuổi đảng— thực dụng, chắc không quá cứng ngắc; ly dị–chắc không chịu chồng quản lý; nuôi con nhỏ–không có thời giờ bay bướm với đàn ông; cắt tóc ngắn—cấp tiến; thích nhạc cổ điển—trầm tính; chơi với mấy tay triết và hút thuốc—úi cha, thứ dữ!

Mỗi nhãn hiệu nhỏ cho chúng ta một ít khái niệm chủ quan. Cuối cùng ta sẽ tổng hợp lại thành một nhãn hiệu lớn “Chơi được” hay “Không được” hay “Đánh dấu hỏi.”

Suy nghĩ như vậy là suy nghĩ theo chủ nghĩa nhãn hiệu đó các bạn. Và trong đời sống này, chủ nghĩa nhãn hiệu thống trị, do đó cái quan trọng nhất khi tìm việc là résumé (hay curriculum vitae) của bạn.

label
Nhưng đó cũng là nguồn gốc của bao chia rẽ và chiến tranh của con người. Mỗi nhãn hiệu mà ta dùng là một thành kiến (prejudice), và là cái mà nhà Phật gọi là “chấp”. Chấp làm cho mình “vô minh”, thiếu ánh sáng. Điều này thì rất dễ chứng minh: Ngay chính con người của mình mà đôi khi mình còn không hiểu được. Bao nhiêu lần ta đã nói: “Tôi thật không hiểu tại sao tôi làm thế” hay “Tôi cũng không biết tại sao tôi yêu cô ấy dữ dội quá”? Chính ta ta còn không hiểu hết được, thì bất kỳ kết luận nào ta rút ra từ một mớ nhãn hiệu về một người khác đương nhiên là không chính xác. Và nếu ta cứ suy nghĩ và cư xử với người kia theo kết luận không chính xác đó, thì đó không phải là vô minh sao?

Nhưng đây là vấn nạn lớn của cuộc sống: Nếu không dùng các nhãn hiệu như thế để biết nhau một tí thì còn cách nào khác ? Làm thế nào để tìm việc và tuyển nhân viên nếu không có résumé ?

Đây chính là điểm mấu chốt nhất, nếu không phải là điểm khó khăn duy nhất, của cuộc sống tâm trí: Làm sao mình phải sử dụng các nhãn hiệu thường xuyên để làm việc, nhưng vẫn không có một tí thành kiến nào, không có một tí “chấp” nào trong tâm? Làm sao sống trong cuộc đời với nhãn hiệu với một “tâm không”, môt tâm hoàn toàn trống rỗng, không có một chấp nào ?

Đây là cuộc hành trình suốt một đời người. Mỗi người chúng ta sẽ phải tự tìm câu trả lời trong suốt đời mình. Tất cả các câu trả lời của người khác đều là lý thuyết viễn vông đối với bạn. Bạn cứ phải suy nghĩ và tìm ra câu trả lời qua trải nghiệm về cuộc sống hàng ngày của chính bạn.

Tuy nhiên, có việc cấp bách ta cần phải làm hôm nay, ngay lúc này, mình muốn nói với bạn. Chúng ta hãy nghe một vài câu nói thường nghe hàng ngày: “Tôi biết anh là người Thiên chúa giáo, nhưng tôi vẫn rất quí anh”, hay “tôi biết chị gốc ngụy nhưng tôi vẫn rất tin chị”, hay “anh là đảng viên nhưng tôi vẫn tin anh” hay “anh là người miền Trung nhưng tôi vẫn mến anh.”

Các bạn có “ngửi” thấy mùi nhãn hiệu trong các câu nói này không? Người nói muốn cho biết rằng mình không lệ thuộc vào nhãn hiệu, nhưng không phải cách nói đó cho thấy anh ta là nô lệ của nhãn hiệu sao? Nếu nhãn hiệu không là gì cả, nếu ta thực sự không nô lệ cho nhãn hiệu, mắc mớ gì phải nhắc đến nhãn hiệu trong câu nói? “Em a, dù trước kia em làm gái làng chơi, anh vẫn yêu em vô cùng.” A! cái câu tuyên bố hùng hồn về tình yêu này nghe không ổn rồi, phải không các bạn? “Dù em là đàn bà, anh cũng rất phục sự thông minh của em.” Rất tiếc! Rất tiếc là các câu nói “nhãn hiệu đi trước” kiểu này ta nghe rất thường, cứ như là cách nói chuyện kiểu mẫu.
blindfold
Đó là vô minh. Những nhãn hiệu này thực sự là những mảnh giấy dán kín tâm hồn và con mắt trí tuệ của ta. Đó là nguồn gốc của chia rẽ và chiến tranh trong lòng người, đưa đến chia rẽ và chiến tranh trong gia đình, trong trường sở, trong quốc gia, trong thế giới.

Rất tiếc là người vô minh thì không biết là mình vô minh, vì nếu biết là mình vô minh thì không còn là vô minh nữa. Bản chất của thiếu ánh sáng là làm mình không biết được mình, cho nên chúng ta cần luôn tĩnh thức và thành thật với chính mình thì may ra có thể có được tầm nhìn mạnh đủ để xuyên thủng màn vô minh, thấy rõ được tâm mình.

Tối thiểu là ngay từ bây giờ chúng ta cần gạt bỏ sự nô lệ vào nhãn hiệu trong tâm tưởng: Bạn có hay thắc mắc là người bạn mới quen gốc người ở đâu? Anh ta theo đạo gì? Anh ta có phải là đảng viên không? Anh ta có khuynh hướng chính trị gì? Anh ta theo chủ nghĩa nào? Gia đình anh ta trước kia làm gì? Anh ta đã làm gì trong quá khứ?

Dĩ nhiên là bạn bè quen biết lâu năm thì tự nhiên ta biết rất nhiều về bạn của mình. Nhưng lúc mới quen, bạn có hay thắc mắc về những nhãn hiệu này không? Bạn có hỏi không, dù là hỏi ra tiếng hay hỏi thầm trong đầu? Nếu những nhãn hiệu này quan trọng với bạn trong liên hệ con người, thì bạn đang theo chủ nghĩa nhãn hiệu đó.

Mình không nói là bạn nên khờ khạo đến nỗi trao tiền cho một người mà hoàn toàn không biết gì về người đó. Nếu phải trao tiền, dĩ nhiên là bạn phải biết về người đó đủ để tin là họ sẽ trả tiền lại, nếu không thì sẽ bị mất việc nếu đó là tiền của công ty. Mình chỉ muốn nói là trong liên hệ con người, liên hệ trực tiếp từ con tim đến con tim là cách liên hệ chính của bạn, hay từ nhãn hiệu đến nhãn hiệu–từ “giám đốc” đến “chủ tịch”, từ “tiến sĩ” đến “giáo sư” ?

Thái độ của mình rất rõ ràng về việc này—Nếu bạn là bạn của mình, thì một lúc nào đó nếu bạn có thổ lộ là bạn đã từng ở tù 15 năm vì giết 3 mạng người, thì mình biết câu trả lời có sẵn của mình là: “Rồi sao? Mình đâu có cần biết chuyện đó” (So what? I don’t need to know).

Chúc bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

© Copyright 2009, TDH
http://www.dotchuoinon.com
Licensed for non-commercial use