Các bài đăng bởi tanai

teacher - poet

Trường Cũ

Bỏ trường từ độ ấy

Ném thân hồ hải phong trần

Rồi chẳng hiểu vì sao một ngày trở lại

Bên cửa lớp bồi hồi ông giáo dừng chân.

Bỏ trường từ độ ấy

Cô giáo về xuôi vui với thị thành

Rồi cuồn cuộn thời gian cuồn cuộn người xuôi ngược

Một tháng đôi lần khắc khoải nhớ đồng xanh

Bỏ trường từ độ ấy

Cậu bé học trò đi hoang

Một chiều mùa xuân nắng vàng góc phố

Thoáng áo trắng bay trong hồn nhỏ bàng hoàng

Bỏ trường từ độ ấy

Cô bé về ru con lời hát thật buồn

Câu ca cũ sao thắt lòng đến vậy

À ơ, bướm vàng đậu đọt mù u…

Ta cũng bỏ trường từ độ

Thả lỡ câu văn em vén áo theo người

Chợt ngơ ngẩn đường về… chiều, lá đổ

Ngày ấy xa rồi… Thương lắm tuổi đời ơi!


Nguyễn Tấn Ái

Thơ Không Vần

Có ai nói rằng thầy giáo là người làm vườn chăm bón cây đời. Tôi nay đã là người làm vườn, cũng tại ngôi trường Quế Sơn này, tôi không quên cái ngày tôi hãy còn là một thứ trái xanh. Không chỉ là trái, hãy còn là hoa. Không chỉ là hoa, hãy còn là một nụ mầm. Có vui vẻ gì chăng khi tôi nhắc lại cái ngày lũ chúng tôi đói áo đói cơm cố níu ghì con chữ. Cái ngày lũ học trò chúng tôi chung đèn chung sách, chung mộng đẹp, chung quần áo đến trường, chung cả những đặc điểm lẽ ra là phải riêng: Chung hắc lào, ghẻ ngứa, chung cả bệnh phù chân. Ôi cái thời vinh quang và đói khổ. Đói khổ thuộc về chúng tôi. Vinh quang cũng thuộc về chúng tôi. Có nụ mầm xưa chỉ kịp se mình làm chiếc lá xanh, thành chiếc lá vàng, lá rụng. Song cũng có nụ mầm đã kịp cho đời quả ngọt, kịp rụng xuống để mọc lên thành kĩ sư, bác sĩ, công nhân… Và tôi, từ cây đời ấy, nay lại mọc lên thành người làm vườn. Một vụ mùa bội thu của thầy cô.

Tôi nhớ về những người làm vườn năm xưa ấy. Thầy Cao Thiệp, hiệu trưởng, rất hấp dẫn chúng tôi mỗi câu chuyện dưới cờ. Đôi tay tài hoa của thầy Thu dạy toán, nét chữ cứ đều như cấy, và vòng tròn tròn hơn cả com pa. Thầy Thuyết đến lớp và ra lớp làm chuẩn mực cho bác phu trường điểm từng tiếng trống. Thầy Quang dạy văn, và chúng tôi thực sự đã được học văn… Và còn nhiều,nhiều những thầy những cô, trực tiếp hoặc chưa trực tiếp dạy chúng tôi con chữ, song mỗi ánh mắt, mỗi dáng đi cũng là một chấm, một nét vẽ nên cuộc đời chúng tôi hôm nay.

Tôi trở về trường Quế Sơn không vì trôi theo dòng khẩu hiệu “ tiếp tục sự nghiệp trồng người”. Mà tôi đã về, tự nguyện, có thể buồn, có thể vui, mà không thể dửng dưng. Nay đã hai mươi năm rồi tôi sống trong giấc mơ xưa, giấc mơ làm thầy giáo. Mộng đời thật đẹp, mà đời cũng thật gian nan. Có lúc vỗ cánh bay, có lúc đi khập khiễng. Có lúc làm người hào phóng. Cũng có lúc xót xa nhìn ánh mắt vợ con.

Ngày ấy tôi chỉ gặp thầy cô tôi vào những giờ lên lớp, những bữa cơm tập thể của thầy tôi chưa hề biết đến. Chúng tôi tưởng thầy giáo thì khỏi phải ăn. Khu tập thể giáo viên chỉ dành riêng cho những người độc thân, chúng tôi nghĩ thầy giáo thì chẳng cần có vợ. Và tôi đã chiêm ngưỡng ánh hào quang đơn độc và tinh khiết của thầy cô mình như trẻ em thích thú ngắm nhìn các vì sao xa.

Nay tôi đã về lại trường xưa mà khắc khoải làm thầy, nhớ oặn lòng về thầy cô , bè bạn. Thương và nợ những thầy, những cô, những đời thường đã cố hóa thân thành những vì sao xa xcho chúng tôi chiêm ngưỡng. Tôi thực sự hiểu cái giá để được làm thầy. Tôi hiểu, nhà văn thì có quyền chọn cửa để hóa thân- hiện thực hay lãng mạn. Nhà giáo chỉ duy nhất một độc chiêu chân truyền của bổn môn: Làm kiểu người lí tưởng.

Tôi về lại trường xưa làm một người thầy. Giữa bài giảng văn chợt nao nao nhớ về thằng bạn, thằng ấy giờ phiêu bạt phương trời để lại trong lòng tôi câu thơ nhoi nhói:

Cây phượng tương tư nối những hiên trường
Cho bên nớ bên ni cùng tâm sự


Cây phượng già năm xưa vẫn còn đó, khó nhọc với thời gian nhắc tôi nhớ lời thầy tôi thủ thỉ “chỉ cây phượng già hiểu người năm cũ, cứ âm thầm trút nhỏ một mùa thu.”

Tôi lại về trường Quế Sơn gắng gỏi làm thầy, qua đèo Le nhớ mùa sim chín muộn, nhớ con bé miệt mài cắm cúi để lưng đèo còn đọng giọt mồ hôi.

Nhớ ơi là nhớ! Thương ơi là thương!

Cậu học trò năm xưa lại về trên bục giảng. Chập chững làm thầy, khó nhọc làm thầy. Tôi đã dạy các em tôi những điều tôi chưa làm được. Tôi mời các em cùng tôi theo đuổi lí tưởng làm người. Lắm lúc rạng rỡ vui khi có những học trò vượt qua mình mà vươn vai hóa thành Phù Đổng. Thi thoảng buồn khi bạn bè xưa lối hẹn, bỏ cuộc, hoặc đành lòng làm một thứ hoa ôi!

…Rồi sau tôi , còn có cả một thế hệ học trò. Các em sẽ viết tiếp về thầy cô mình ngày ấy. Yêu toán, yêu luôn mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ. Yêu văn, cố nhịn ăn để có vóc dáng hao gầy. Yêu lí, yêu cả những ai thật thà gan góc… Còn yêu, sẽ yêu hơn những thầy, những cô đã khiêm nhường hóa thân cho các em có một ngày mai.

Hai mươi năm kỉ niệm, hai mươi năm làm thầy, với tôi, trường lớp đã là một thứ của riêng, vừa muốn phô phang, vừa muốn âm thầm cất giấu. Nói ra và im lặng. Một thứ ngôn ngữ dở dang. Nhưng tôi vẫn chưa đi hết một đời nhà giáo. Hãy để thời gian viết tiếp những dòng xanh về chốn sinh thành. Và những dòng tâm sự của tôi, ước ao sao hãy cứ là tiếng nói của trẻ thơ vừa rời khỏi vòng nôi- bập bẹ khuyết mòn ý tưởng. Song rất mực chân thành. Như một bài thơ không vần. Mùa tặng mình. Tôi khe khẽ xướng ngâm.


Quế Sơn, Nguyễn Tấn Ái.

Phải Quấy Là Đâu?

Một người có người thân chết trôi. Xác dạt vào vườn một người. Người nhặt xác đòi tiền chuộc. Người kia không chịu, bèn lên quan kiện. Quan phán: Mày cứ để đó, xác chết có bán được cho ai. Người nhặt xác thấy lâu, cũng lên quan, quan phán: Mày cứ để đó, nó không mua người thân sao được.

Câu chuyện trên tôi nhặt được trong vườn cổ học.
Đố bạn đọc của Đọt Chuối Non cuộc người kia có mấy xác chết?
Người chết thì đã chết rồi. Nhưng thử hỏi người sống có là sống không?

Luận từ cái đạo làm người, nghĩa tử là nghĩa tận. Việc hỉ có thể buông tuồng. Việc hiếu thì cần nghiêm cẩn. Đang là việc hiếu, dù là của người hay của mình thì nghiêm cẩn mới là lễ. Vậy mà cả khổ chủ lẫn lân gia đều thi nhau tranh cạnh trong cái giá tử thi, buông tuồng quá đỗi. Vậy là không biết giữ lễ. Vậy là thêm hai cái thây sống.

Luận từ đạo làm quan, dù cao đạo mà tự nhận là “ phụ mẫu chi dân” hay đĩ thỏa mà quang quác là đầy tớ nhân dân đi nữa thì cũng phải hiểu cái lẽ cầm cân nảy mực. Có đâu biến hóa phù phép để cho từ một cái thây chết thành hai cái thây sống thế kia? Người kiếm ăn từ bãi tha ma người ấy không cú diều cũng âm hồn quỉ sứ. Vậy là ba cái chết.

Giờ thử luận xem, cái hại đến bực nào.
Tử thi thì chẳng hại được ai. Cùng lắm chỉ dọa dẫm những người yếu bóng vía sợ ma nhát quỉ.
Còn cái âm hồn bất tán trong những cái xác sống không có chất người ấy thực tác hại không biết đâu mà lường. Cái mùi thối của tử thi cùng lắm ba tháng mười ngày, còn cái mùi tanh tử của cái thây sống thì bao giờ mới dứt?
Mà cái xấu thì dễ lây lan, biết chừng đâu nó thành hội thành bè, thành băng thành đảng, có tôn chỉ hẳn hoi, thì cả xã hội không có nguy cơ thành nghĩa địa sao?

Than ôi! Cái sự nào chỉ chuyện xưa, nào chỉ chuyện người.
Có bao giờ ta bạn vì tình mà lơ đi một chuyện quấy?
Có bao giờ ta bạn vì tình mà thông cảm cho cái xấu của một người thân?
Hay vì nể bậc đàn anh, người trưởng thượng mà thủ khẩu như bình?
Hay vì áo cơm mà đành lòng đổi chác?

Tôi đang lôi cái thằng tôi mà phân chất, mà tự kiểm, thật không dám cao giọng luận đời!
Giá mà kiên trì học cách cổ nhân, cứ mỗi một việc xấu lại tự kiểm mình, lại nhích cái nhà mình gần nghĩa địa hơn mười mét. Ba năm sau thấy mình sống giữa nghĩa địa với loài ma quỉ.
Trước khi nguyền rủa đời quỉ quái, hãy tự xem lại mình có đúng là người?

Nguyễn Tấn Ái

Tổ Quốc Tôi

tatnuoc
Tổ Quốc tôi?
Là buổi người nông dân hát trên đồng cạn
Mênh mông bát ngát
Hình ảnh chiếc gàu sòng múc nước đêm trăng.
Tổ Quốc tôi?
Là buổi Ức Trai khóc ở Đông Quan
Hòa lệ viết Bình Ngô sách
Là Nguyễn Tiên Điền náu mình trong căn nhà rách
Đêm Thái Bình thiên lí tha hương!
Tổ Quốc tôi?
Là cột cờ Ngọ Môn trang nghiêm
Rêu phong dấu tích Nguyễn Hoàng
Trầm mặc thời gian lăng tẩm
Sá gì lời phù thịnh gian ngôn!
Tổ Quốc tôi?
Là những Mẹ già của hai cuộc đao gươm
Đứa con sinh đôi đi về hai phía
Nghe đại bác gào vang trận địa
megia2 Súng nổ bên nào lòng Mẹ cũng bị thương!
Tổ Quốc tôi?
Là thăm thẳm rừng xanh,
Cây trên rừng không tự biết trầm hương mà vẫn trầm hương
Không tự nhận sến lim mà bền mưa nắng
Thôi trả lại cho người cái định danh nhiều khi háo thắng
Rừng tự buổi không tên đã Tổ Quốc mình!
Tổ Quốc tôi!
Là Tổ Quốc ở trong lòng.
Tôi yêu Tổ Quốc mình!
( Nào ai bắt mình yêu Tổ Quốc?)
Cuối đầu trước linh thiêng bốn ngàn năm lòng tôi tự biết
Tôi yêu Tổ Quốc mình. Và tôi rất vô danh.

Nguyễn Tấn Ái

Hố Hụi Hò Khoan

Hố hụi hò khoan
Khoan anh chưa vợ, khoan em chưa chồng…

Xưa mỗi lần nghe ới lên như thế thì trai gái lục tục kéo đến đình làng…
Tôi thường nghe sách vở nói thế.
Hokhoan
Các cụ bảo: Toàn nói tầm phơ! Xưa làm gì có nhà văn hóa như bây giờ. Mà kéo đến đình làng để làm gì kia chứ?

Các ông tiên chỉ kéo đến đình làng là để chia phần cái thủ lợn, đôi móng giò kì thanh minh, giỗ chạp. Còn thường dân áo vá cũng chỉ đến đình mỗi khi nợ thuế đinh, trộm gà bẻ bí bị tóm, hay không chồng mà chửa, nhất nhất không vui. Trai gái chỉ ới với nhau kì gặt lúa ba trăng, kì hái đậu phụng hay giã vôi làm nhà, róc mía … Mà cũng ở bờ bãi ruộng đồng hay sân vườn ai đó. Mà cũng chỉ những đứa chưa chồng chưa vợ, đi hoang cho nó vui, đỡ cái cực cày cực cuốc, cực nắng cực mưa, thế thôi. Mà toàn là mặt mẹt với đực rựa, tha hồ mà trái khoáy.

Mà đúng là trai trống gái tơ, lời ý cứ xáp vô nhau, tình tứ thì nên vợ nên chồng, choảng nhau thì đớ lưỡi rát mặt.
Này là đàn chị ra roi dạy đàn em chơi trồi:

Đời chi quái lạ làm sao
Gà chưa cứng cựa đòi vô cửa trường

Gặp đàn em ớt chuột mà cay:

Đừng chê anh nhỏ anh rầu
Chớ con ong kia mấy lớn mà đú trái bầu cù queo!

Này em hát khó hòng loại đàn anh ra khỏi sới hát:

Gặp anh qua hỏi anh đây
Chớ trời không thắt gióng kéo mây làm gì?

Đàn anh thuận thế bịt đuôi không cho em chạy:

Hỏi qua đây thì qua trả lại đây
Trời không thắt gióng thì kéo mây đậy mù!

hokhoan1
Nói chung, trong lối hát “kiến tại”, hay hát “ môi miếng” này thì đúng là “xuất đối dị, đối đối nan”, nên cái tài cái trí thường ở vế sau, khoái là khoái cái lời đáp tài cao trí lẹ, tưởng những lúc chỉ còn “tẩu vi thượng sách”, vậy mà “mạt lộ xuất sinh lộ”, thế là đôi bên cùng “hố hụi hò khoan” tán thưởng cho lời xuất sắc.

Một em hát:

Anh về đào lỗ sau hè
Chôn con lấp vợ mới ve đặng nường ( nàng)

Thiệt là hát ác!
Ra đòn càng thâm thì vế phản càng độc:

Anh về đóng một cái thang
Mười hai cái nấc
Bắt từ dưới đất bắt thẳng lên trời
Mồ cha cái đứa bạc lời
Sử anh chôn con lấp vợ sống ở đời với ai

hokhoan2
Hố hụi hò khoan!
Hố hụi hò khoan!
Hố hụi hò khoan!
Có anh nghịch khẩu, ý muốn hát đến tốc váy mấy cô thì mới thích, thành sàm:

Ba cô đứng lại một chùm
Tui liều quần rách tui đùm ba cô

Đáp:

Tui liều một gốc tre khô
Đóng gông ba cậu giải vô đồn lầu

Bí!
Xin kết câu chuyện dông dài bằng một giai thoại:

Ở huyện Đại Lộc có anh Trần Hàn nổi danh cao thủ. Hàn thường dọc ngang xuất khẩu thành chương chinh phục các hội các làng. Vậy mà “cao nhơn tất hữu cao nhơn trị”, có lần trong một đám hát, một cô trẻ mà hát thiệt già:

Trần ai gặp cảnh cơ hàn
Rổ đan mặt mốt xuống làng mót khoai

Hàn đớ họng. Cái hiểm ở câu hát là xoi đúng cái khuyết tật ở Hàn: Mặt rổ hoa, lại chột con mắt ( rổ đan mặt mốt).
Sau bận thọ đòn độc, Hàn biết điều, ít hẳn cái sự dọc ngang.

Mà nghĩ cũng hay, cái văn hóa dân gian lành mạnh ngay trong ứng xử, không theo cái kiểu “miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”, người ta cũng chỉ quăng quật nhất thời, rồi ai về nhà nấy, vỗ bụng ngủ khì, sự được thua quên sạch. Sự được mất cũng chỉ không ngoài mục đích khoe tài bắt nọn cho vui. Vui thôi mà!

Bây giờ mỗi khi đi ngang làng ngang xóm thấy thiếu hẳn miếng trầu đầu câu chuyện. Các cụ còn biết bỏm bẻm nhai trầu, còn vần vè đôi câu hát thì cũng đã quá cái tuổi tám mươi, càng khi càng hiếm. Những câu hát hò khoan của xứ Quảng quê tôi khi dần đi vào tuyệt lộ!

Tôi sinh sau đẻ muộn, thương cái sự văn thuở còn ăn chung ở lộn với đời khoai sắn mà lặn lội xóm làng khề khà chén rượu ki cóp đôi vần. Việc vặt mà mưu cái sự cao: Lưu giữ cho con cháu đời sau.

Cà kê thế nào lại sinh sử sự mai sau, một ngày tao ngộ, khi mời anh Đức Dược với chị Minh Tâm của Đọt Chuối Non đối đáp một phen cho mình “ kiến tại”.

Nhưng nhớ đừng ra những đòn quá độc!

Nguyễn Tấn Ái

Đi trắng về đen

Đôi khi dạo chơi phơ phất đâu đó nơi quen thuộc ta lại chợt nhặt được đôi điều mới lạ mà xưa kia vô ý chẳng nhận ra.
Đây là câu chuyện tôi nhặt lại trong vườn cổ học:
dogchasingman
Một hôm trời nắng Dương Bố đi chơi. Khi ở nhà mặc áo trắng, nửa đường gặp mưa ước hết. Người quen cho mượn cái áo thâm.
Bố về nhà, con chó nhà vừa cắn vừa đuổi. Bố giận toan cầm gậy đánh. Anh là Dương Chu chạy ra bảo:
“ Đừng đánh nó làm gì! Nó đuổi như thế cũng phải. Giả sử con chó trắng nhà ta đột nhiên đổi màu lông thành đen thì em có lấy làm lạ không?”

Không biết lỗi tại phía nào?
Nghĩ cái sự con người ta lạ ngay cái chỗ nết người, thường thì nhạy lắm cái sự người ta xoay ra chiều khác, mà cái sự mình đổi khác thì cứ tỉnh như nhiên! Thế là cố chấp và ích kỉ lắm. Giá như lúc nào cũng sẵn một người anh bên mình như Bố để cảnh tỉnh mình.

Lại nữa, cái màu mè sơn phết bên ngoài còn có cơ nhận ra mà tránh, còn cái đen từ ruột đen ra, mình còn không biết, nói chi anh em!

Mà phàm phu tục tử thì chẳng chấp làm gì. Đôi lúc hiền nhân quân tử mà cũng cứ bị cái sự được không cao thấp của đời nó hoặc cho đến mê mới hại. Anh cả của đọt chuối non có lúc chê Nguyễn Công Trứ bị hoặc bởi chữ danh ngẫm mà có lí!

Mà có riêng gì tướng công Uy Viễn, tội nghiệp Nguyễn Tiên Điền chọn cho mình tên tự Tố Như hẳn giàu hàm ý, vậy mà cũng có lúc cứ đau đắm đuối trong một nỗi niềm hư ảo:

Dao ức gia hương thiên lí ngoại
Trạch xa đoạn mã quí đông lân

Tạm dịch:

Quê nhà xa hút mù khơi
Đời xe ngựa, thẹn với người thuở xưa!

Ý hẳn cũng mong cái sự khác mình nhiều lắm!
Xin lượng thứ!
heartcarvedintotree
Cũng xin lượng thứ khi kể một chuyện không vui, một nhà thơ từ một “kiếp phôi pha” cho đến khi rời cái bậc tam công của mình vẫn còn oán “chúng nó tiếc gì cái chức cố vấn mà không cho miền giữ”( theo phóng sự của Phùng Quán).

Ô hay, hành trình làm người khó giữ thiên lương cho lành vững!

Ngẫm mà thương Vương Xương Linh, đỗ tiến sĩ, đi làm quan xa, chỉ lo ngai ngái cái lòng mình trên hoạn lộ, chỉ sợ cố nhân ngày về chẳng còn nhận mặt nhau mà chí tình nhắn gửi:

Lạc Dương thân hữu như tương vấn
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

Tạm dịch:

Bạn xưa dù hỏi, rằng ta
Lòng trong vẫn giữ như là thuở nao!

Lại nhớ cụ Nguyễn Khuyến dù thương Dương Khuê đến thế mà khi khóc Vân Đình tiến sĩ lại lẫn trong tiếng tình thống thiết một lời trách khôn nguôi:

“Bác già tôi cũng già rồi
Biết thôi, thôi thế thời thôi mới là.”

Khi nói những lời này, lòng cứ ngùi ngùi nhớ dăm thằng bạn, lại thon thót giật mình không biết cái tôi giờ đã ra sao?
Một chút phản tỉnh giữa ngày đời bận rộn, không biết có đại ngôn tật hô không thế?
Mà e khi to tiếng lớn giọng thì đã khác ngay từ cái giọng của mình, chao ôi!
Mà Dương Bố chỉ có một Dương Chu, tôi thì còn có cả anh em mình, ta hãy nhắc nhau sống từng ngày đời cho thật!

NGUYỄN TẤN ÁI.

Chuyện của những đêm tối trời

Ở quê, thuở chưa xa, những đêm không trăng mênh mông là đêm tối, sự sống lu bu quần tụ quanh những ngọn đèn dầu. Và lũ trẻ có được cái thú háo hức nghe những chuyện li kì rùng rợn.

Chuyện ma le
ghost1
Chú Bốn góa vợ, không phải chú không có vợ, mà vợ chú chết rồi. Mà cái việc chú có vợ cũng là chuyện “hên”. Một cô gái không biết từ đâu đến làng mót khoai, thấy nhà chú một mẹ một con, xin ở nhờ, rồi thành vợ chú.
Ai cũng khen cô tốt nết, tốt người, lại khéo vá may. Từ ngày có cô dâu, cái cơm tấm áo nhà mẹ con chú Bốn tươm tất hẳn. Chỉ khổ ba năm rồi mà chưa có mụn con, mà chú Bốn ngày một xanh xao. Thương chồng, vợ chú dành cơm cho chú, không ăn hột nào.
Có tiếng dè bỉu: “Chỉ làm bộ, không ăn sao người hồng hào béo tốt mặn mắt thế, khéo ở nhà ăn vụng.”
Mẹ chú Bốn sinh nghi, một bận giả bộ đi làm đồng, nửa buổi quay về rình sau hè.
Cô dâu vẫn chăm chỉ vá áo. Bỗng một cơn gió thổi tung rẻo vá.
Rồi cái lưỡi cô dâu cứ thế le ra dài thườn từ chổ ngồi đến mảnh vải có chừng vài sải.Cô nhặt mảnh vải bằng lưỡi!
Mụ gia chết điếng người.
Mụ cầu phù thủy. Phù thủy mách: Ma le dễ trị, nó không ăn cơm, chỉ hút tinh khí người, ban đêm thường đi ăn thêm phân gia súc. Rồi cho một lá bùa.
Đến đêm, mụ gia qua giường con dâu, thấy chỉ còn cái xác rỗng, phần đầu và ruột đâu mất!!! Mụ đem lá bùa dán nơi cổ, rồi lật úp xác lại. Xong về giường nằm.
Nửa khuya mụ nghe có tiếng gào khóc trên mái hiên, con dâu đòi mở cửa cho nó vào nhà. Mụ sợ ngồi tho lo một xó,Chú Bốn vẫn ngủ mê mệt.
Gần sáng, con ma bay đi đâu mất. Chỗ cái xác chỉ còn dúm giẻ rách.
Chú Bốn về sau khỏe mạnh như thường, chỉ cái không có vợ nữa, ai hỏi chú cười hề hề bảo: Ngủ với ma đã đời ông địa rồi, không nghiện người nữa!
.

Chuyện ma bù cào
ghost
Các bạn có biết cái cào năm răng dùng để cào cỏ không? Ở quê gọi là cái bù cào.
Tiếng đồn ở dốc Bà Giáo có con ma răng dài mặt đỏ, ai cũng sợ, gọi là ma bù cào.
Vì sợ nên lúc chạng vạng thì trên dốc tuyệt không có bóng người. Ai có chuyển bụng cũng chờ đến sáng hôm sau.
Một vị khách có việc ngang đường, không dám lên dốc, đành ghé nhà bên đường xin nghỉ qua đêm. Một lát, lại có người xin ở lại, cùng một lí do. Hai ông khách bàn nhau: Mình có hai người, trời chưa tối lắm, cũng có thể cùng nhau vượt dốc. Mặc chủ nhà ngăn cản, hai ông khách lên đường.
Càng đi, đường càng vắng, gió càng lạnh. Một người đã bắt đầu sợ, nói với người kia:
Sợ quá, hay hồi nãy ở lại, nghe nói chỗ ni kinh lắm.
Người kia bảo: Đừng lo, có tôi đây, anh xem con ma kia có đáng sợ như tôi không?
He!!!Trên mặt là hai cục lửa đỏ lòm lòm, hai cái nanh dài như hai cái tay vượn!
Sáng hôm sau người đi đường thấy một cái xác còng queo, tái nhợt không còn hột máu.
Dốc Bà Giáo từ ngày san đồi lấp hố, đường nhựa phẳng lì, chẳng biết con ma bù cào đi đâu không rõ.
Chỉ biết mấy chú ngồi xác cầu cơ thỉnh thoảng la hét cào cấu, mặt xanh dờn,máu chó chổi rể phải đập tới tấp mới xả nổi. Ấy là ma bù cào nhập xác.

Hề, chuyện hoang đường kiểu này ở quê còn nhiều lắm, không kể sợ thất thoát. Nếu bạn đọc có hứng thú thì xin cho biết, sẽ còn nhiều chuyện như rắn hiển linh, phù thủy bị quỉ vật… Tha hồ.
Xin cam đoan rằng chỉ kể vui, không thật đến trăm phần trăm đâu.

NGUYỄN TẤN ÁI.

Chiêu Niệm

ladywithfan-Ơi em của diệu huyền, ơi em của tình yêu
Em của sớm mưa bay, em của chiều tắt nắng
Ơi sứ giả dắt hồn lang thang hoang vắng
Ơi mảnh vỡ của đời, ơi vết cắt lòng anh!
Ơi hơi hướng thiên thần, ơi mái tóc ngời xanh
Ơi một thuở ta đam mê khờ dại
Ơi tuổi đôi mươi hãy cùng ta về lại
Điểm xuất phát ngày nào khi ta hãy còn em!

Nguyễn Tấn Ái.

.

Calling memories
memory
O maiden of mystery, O maiden of love
Maiden of rainy morning, maiden of sunless afternoon
O messenger who leads my soul to the wilderness
O splinter of life, O the cut on my heart!
O breath of angel, O flowing hair of the sky
O the time of my naive passion
O the twenties, come back with me
To the beginning
When I still had my beloved!

TDH
Lake of the Woods, VA, USA
10:45 pm Oct. 28, 2009

Đêm Dài

ĐÊM DÀI

    Kính tặng Tú Xương

Nam Định.

Tú Xương. Tranh của họa sĩ Trần Quang Trân vẽ sau khi ông Tú mất khoảng 20 năm
Tú Xương. Tranh của họa sĩ Trần Quang Trân vẽ sau khi ông Tú mất khoảng 20 năm

Cuối thế kỉ 19 không còn yên tĩnh nữa, cái tin mừng ông hoàng giáp làng Vị Hạ tỉnh Hà Nam vừa vinh qui không đắp đổi dồn dập nghững nỗi kinh hoàng: Hà thành thất thủ, danh tướng Nguyễn Tri Phương rồi liên tiếp thủ khoa Huân , hoàng giáp Phạm Văn Nghị tuẫn tiết; hòa ước Hác- măng ô nhục, Tự Đức băng hà.

Sĩ tử rụt rè gà phải cáo.

Trên đường đê, dấu cũ của con sông Vị Hoàng phố cổ thành Nam, một thư sinh bước đi thiểu nảo.

Căn nhà ba gian tường gạch trát đất vữa đứng sùm sụp sau một hàng trúc lơ thơ.

Đến ngoài bờ trúc, nho sĩ dừng lại, thở dài. Trong nhà mấy đứa con nít túa ra, vừa chạy vừa reo:

Thầy đã về.

Trái với vẻ hớn hở của lũ trẻ, nho sĩ chậm rãi sờ đầu từng đứa: Thằng Bái, thằng Bột, thằng Bành, con Thục.

Gói quà là mấy nắm xôi lạc mua vội từ góc phố, chút vớt vát của một mùa thi Hương thất bát.

Bà Tú vẫn chưa về. Ông Tú ngồi bắt bằng trên bộ ngựa đợi vợ, rít một khói thuốc lào.

Đợi vợ trong nỗi buồn mà xót bà Tú tất bật chợ đời.

Một quãng đồng mênh mông quạnh vắng, vùng Nam Định trắng xóa là nước ngày đông, chang chang là nắng ngày hạ. Bà cứ như một chấm trắng nhỏ giữa trời chiều. Chao! Cái cánh cò lẻ loi đó lặn lội chắc đã nửa đời, rồi chắc cũng lặn lội kì hết nửa phần còn lại. Phố Nam Định từ Tây sang tấp nập trên bến dưới thuyền. Những con tàu viễn dương khổng lồ nuốt từng tấn than đen no bụng, ầm ì nhả khói, lừng lững ra khơi. Những con thuyền thủ công nhọc lòng đi khơi đi lộng dạt về bến mới. Bến cá trong cái nhỏ bé nhọc nhằn của mình cũng không kém phần chao chát eo sèo.Một người phụ nữ chừng dưới ba mươi, mặt lành da trắng, thị vuốt ngược một giọt mồ hôi, tức tửi lách mình bưng bê giữa đám người nhốn nháo. Chao ôi! Ai dám nghĩ đó là bà Mẫn, vợ của đấng tú tài nổi tiếng tài hoa. Chao ôi! Nhớ cái ngày bà về làm dâu mới rình rang nở mặt:

Căn nhà 280 Hàng Nâu (Minh Khai) nơi Tú Xương từng cư ngụ
Căn nhà 280 Hàng Nâu (Minh Khai) nơi Tú Xương từng cư ngụ

Ông tu tát nhà cao cửa rộng toan để cho dâu
Chồng lăm le bia đá bảng vàng cho vang mặt vợ.

Năm ấy là năm Ất Dậu ( 1885).

Những tưởng rồi Tú Xương đỗ đạt, võng tía lọng vàng, danh thơm bốn bể, bà cũng thơm lây:

Võng anh đi trước võng nàng
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò.

Nào ngờ… con gái dòng dõi thi thư nổi tiếng làng Lương Đường tỉnh Hải Dương nay lại hàng tôm hàng cá thế này, chao ôi! Eo sèo mặt nước buổi đò đông!

Ngồi nghĩ mình lận đận, tám khoa nhẵn mặt chỉ vớt vát nổi cái tú tài, nghĩ mà xót đồng tiền mồ hôi nước mắt của bà vợ lắm!

Và kì này mùa thi năm Đinh Dậu( 1897), sĩ tử buồn hiu. Một vì văn tinh từ trời cao vừa rơi rụng, vì văn khúc ứng vào Tuy Lí Vương Miên Trinh.* Cái văn nghiệp nước nhà đến kì hỏng bét.

Kì thi phú. Tú Xương đắt chí cái thơ mà hụt hẫng cái trường:

Nào có ra gì cái chữ nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm thông phán
Tối rượu sâm banh sáng sữa bò
.

Kì văn sách, quan trường một phường bợ đít Đu – me lại học đòi nói câu cửa khổng: “ Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.
TruongNamĐinh
Tú Vị Xuyên chấm bút, huơ liền một mạch, nét bút lông cứ xoắn lên nền giấy hoa tiên, phần phật như gió lại ran rát như lửa:

Dân ta hỏng rồi

Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng

Xã tắc ta hỏng rồi

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai

Vua ta hỏng rồi, quí sĩ tử cứ ngóng lời ông nghè làng Yên Đỗ mà rõ việc

Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề

Tú nộp quyển, chệnh choạng ra khỏi trường thi, lần ruột tượng ghé bà hàng nước, đồng tiền kẽm rơi đánh keng trên nền gạch, mấy đồng xu đã hoen gỉ xanh với mùi muối cá bà Mẫn gom góp từ những phiên chợ chiều.

Chợt mi mắt vị tú tài cay cay.

Tiễn chân cô mất dăm đồng lẻ
Sờ bụng thầy không một chữ gì!

Hỏng kì này là chẵn năm.

Tú Xương ngồi chong đèn thu mình trên gác ván, nghĩ lại câu chuyện Đặng Tử Mẫn thì thào khi chiều: Phan Bội Châu đã ra Bắc, lên Phồn Xương, chắc là để gặp Đề Thám.

Tú ngẫm lại đôi lần trò chuyện cũng Phan danh sĩ. Miệng rồng mắt sư tử, con người chọc trời khuấy nước ấy ngang nhiên mang cái án “hoài hiệp văn tự” ngao du bốn bể, kết giao cùng nhân sĩ hào kiệt Bắc Nam. Cũng là kẻ sĩ mà thẹn mình chưa được cái khí cốt Bội Châu. Ngẫm một đời văn nhược tài hoa, một đời phong nguyệt tình hoài, một đời nổi tiếng được cái chơi ngông phá bĩnh, cũng hoài phí một kiếp đầu thai nhầm thế kỉ. Tú thở dài, chấm bút nắn nót những dòng thơ cuối đời:

Chập tối trông ra ngỡ sáng lòa
Đêm sao đêm mãi thế ru mà
Kìa kìa ai kẻ tìm ta đó
Đốt đuốc mà soi kẻo lộn nhà.


NGUYỄN TẤN ÁI

* Tuy Lí Vương Miên Trinh mất ngày 18 tháng 11 năm1897.

Tưởng Rằng Đã Quên

Thoáng qua một bắt tay san sẻ, một nụ cười gửi trao, một ân cần muộn màng…sao nặng lòng đến thế!
Cuộc công chức viên vo đến từng giờ, từng ngày, từng tuần… giá trị người như còm đi theo thời gian biểu. Cần lắm một lời chào tử tế, một ngưỡng mộ giả vờ, một đồng cảm bâng quơ… như hâm nóng con tim ngày nguội lạnh.

Có thể rằng trong một vật vã đời thường, một câu thúc đời thường, một chỉn chu đời thường… tâm hồn chợt lóe lên một chớp sáng kì dị, khát một chia li, khát một đạp đổ, khát một rũ bỏ để thênh thênh nhẹ cánh bay vèo đến những cơn mơ.
Và trong những phút giây tăng tốc vượt đèn đỏ có thể tình cờ ta cùng một đường bay.
Cũng có thể trong một phút giây thôi miên nào đó ta tình cờ lạc vào túi đen nhân loại, biến mất khỏi những lực hút trái đất một cách dị kì.

Từ Thức xưa, Lưu Thuần xưa tìm được đào nguyên cũng cùng một uyên nguyên như thế.
Mà vườn đào thì yêu quái lắm, chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian, có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn phai một lần.
Mà đào nguyên thì cô đơn lắm, những lúc phiêu bồng làm đám mây lãng đãng lại khát hoài một sợi dây liên hệ với gia đình, vợ con, bè bạn. Cái con rối người cắt đứt những sợi dây thì rủ liệt tay chân.

Lại quay về với chức phận làm người, lại đứng hát nghiêm trang bên bờ vực mái tóc xòa hứng hết gió gieo neo.
Mà cũng thế, chẳng thể nào nguôi quên một phút phiêu bồng.
Nơi ấy ta tạo hóa diệu kì tạc hình em thành tiên nữ, nơi ấy ta nghệ sĩ điên rồ tội lỗi say mê hôn ước với tác phẩm của mình.
Nơi ấy ta vắt hồn ta thành suối nguồn yêu thương chảy ngang đời em chân bùn tay lấm, em rũ áo sáng lòa bao nhiêu!
Nơi ấy ta bang chủ ngạo cuồng đong đời bằng vung múc đời bằng vá. Em ý hẳn cho ta là điên, ý hẳn cho ta là cuồng, ý hẳn cho ta là lạ. Và em cũng hóa tâm thần cho vừa tầm kẻ loạn thần kinh.
tovuong
Và nơi này ta là kẻ mọt sách lần hoài những trang kí ức xa xăm.
Và nơi này ta là gã công chức già một chiều lang thang vào quán cà phê, biết chẳng là gì của nhau xin trả em về, lời Khánh Li muôn thuở não nùng oan khổ như buổi người về trong lặng lẽ đam mê.
Ngồi sắp xếp lại đời mình cứ thấy ngổn ngang rối rắm một sự đời, rối rắm một thước đo, rối rắm một hôn ước, rối rắm một nước cờ.
Mỗi một đời là một tồn sinh. Mỗi một đời là một sáng tạo. Mỗi một đời là một sự sống chưa có lập trình. Ta đã dại dột tự tin đời là một chuyến tàu dẫu tốc hành thì lộ trình cũng đã kí định ở những chuẩn mực thông thường.

Và chẳng thể phi thường được nữa.
Và trả những cơn mơ về với những cơn mơ.
Như trả ngày bão nổi về cho biển cả.
Như trả giọt sương đi hoang về tận mây trời.
Như kí thác mình cho lục địa bình yên.
Và biết xa xăm còn một dỗi hờn.
Và day dứt khôn nguôi.

Cuối xin em chút dỗi hờn
Về ươm cả một mùa buồn cho nhau.
Ai đó có lời mãnh liệt: “ Có một tình yêu mãnh liệt là vứt bỏ”
Ta đang làm một lộ trình ngược chiều: “ Có một tình yêu đích thực là vọng tưởng
Cũng là đốt hết năng lượng của mình để chứng nghiêm một tình yêu!

NGUYỄN TẤN ÁI

Bùa Yêu

Chim xa còn nhớ lối về
Bậu ra là dứt ước thề được sao
Nợ trầu cau trả chiêm bao
Người gieo tiếng dữ, người đau giọng tình
Ví dù, bến nước sân đình
Trăm năm… bậu hết thương mình, mình thương!
(Vĩnh An)

I. Mụ Hoàng

Bên nhà tôi, về hướng tây, có nhà mụ Hoàng. Mẹ cấm tôi qua chơi,không biết tự bao giờ, từ hồi tôi mười ba, mười bốn chưa? Từ hồi thằng chim thằng cò tôi đã nhu nhú nên trai chưa?
Mụ Hoàng góa chồng, không phải chồng chết, mà còn sờ sờ bên trời Tây. Lão là sĩ quan cảnh sát, vượt biển đông từ hồi chiến tranh còn ì ầm ở cửa Xuân Lộc, mụ thành gái góa.
Gái một con trông mòn con mắt, vắng chủ nhà gà vọc riêu tôm, mụ Hoàng thành cái gai trong mắt đám đàn bà con gái. Nổi gió nổi bão tự bận mụ thuốc một gã trai tơ.
thomoc

Thanh thợ mộc, khéo tay, mau miệng, mắt dài mi dài như gái, quảy thùng dùi đục đến đâu y như là Thanh làm nên một tình sử đến đó. Vậy mà sau khi chạm trổ xong bốn chân giường nhà mụ Hoàng ,Thanh chẳng đi đâu nữa. Nghe nói chiếc giường để bên hướng đông, có cửa sổ hóng gió, Thanh nằm nghỉ một giấc trưa, mơ màng thế nào mà tỉnh dậy chân tay còn bủn rủn, người cứ rỗng như ống thù đủ, mất cả chí tang bồng. Nghe nói Thanh ngủ mê, mụ Hoàng lấy một sợi tóc cột ngang ngực Thanh, lại dấm thêm chút nước miếng nơi lỗ rốn. Rồi Thanh lú lẩn.
Thanh hai mươi hai, mụ gần ba mươi, vậy mà thành nhân ngãi, đúng là mụ có bùa yêu!

II. Chuyện Hạnh

Tránh trời sao khỏi nắng mưa, mụ Hoàng không thuốc tôi, mà Hạnh con mụ lại thân tôi lăm lắm.
Bận ấy con bò nhà bé Hạnh lạc mất ở núi cấm. Bọn trẻ cùng bầy chẳng đứa nào động chân đi tìm.Mấy đứa trẻ quá rành, mặt trời gần lặn là giờ bùa yêu rất thiêng, dại gì mà đụng vào mẹ con mụ phù thủy. Hạnh bưng mặt khóc.
trau
Tôi đánh trâu đi sau cùng, ngoái lại, động lòng. Se sẽ tách bầy, tôi quay lại. Chẳng tìm ra bò, bé Hạnh sợ bị mẹ phù thủy đánh, lại bưng mặt khóc. Tôi đành phải dỗ, rồi đưa Hạnh về. Hú hồn, hóa ra con bò no cỏ bỏ về chuồng.
Mụ Hoàng ra, vẫy tôi vào, tôi thụt lùi rồi co giò chạy biến.
Không biết bùa phép có di truyền không mà tự đó tôi đâm nhớ Hạnh, nhớ hoài đôi bờ vai tròn lẳng rung bần bật mỗi khi Hạnh khóc, nhớ hoài đôi mắt to tròn lúc nào cũng ngơ ngơ ngác ngác. Hạnh tình như cũng đã. Một bận tôi đau, không dong trâu lên đồi được, vừa sâm sẩm tối đã thấy Hạnh thập thò ngoài bờ dậu, vẫy tôi ra, trao cho chùm dủ dẻ vàng ươm chín mọng.

Tôi hỏi:
-Mẹ Hạnh có bùa yêu phải không?

Hạnh gật.
– Nó như thế nào?
– Không biết. Nghe nói nó dẹt dẹt như cái lá, trong như mắt mèo. Mẹ không cho Hạnh biết.
Tôi không tin rằng Hạnh không biết, nên mỗi bận ngồi bên Hạnh, mắt cứ nhìn trô trố, cố tìm xem nơi nào trên người Hạnh dẹt dẹt như cái lá, trong như mắt mèo không.
Thấy tôi quanh quẩn hoài với mấy cái bùa yêu, Hạnh mách:
-Nghe mẹ với chú Thanh hay nói chuyện gì mà miếu cô Châu. Hay mẹ dấu bùa yêu sau núi, chổ miếu cô Châu ấy.
Chuyện cô Châu là một bi tình. Đẹp gái, hát hay, múa giỏi. Trai làng mê lắm. Ác nghiệt, cô lại mê anh thợ may đã có vợ. Bị bắt ghen, cô Châu ốm ba tháng, buồn đến da xanh cổ cao. Cô thắt cổ chết trên đồi chổ miếu hoang, thề bắt tất cả những đàn ông đã có vợ làm chồng.
mieu
Một buổi trưa trên đồi tôi đưa Hạnh lại chổ miếu cô Châu. Ngôi miếu hoang tàn không nhang khói lại càng nhuốm màu thê lương. Lom khom tìm hoài, đủ thứ đá lắm hình thù màu sắc mà không có cái nào trong trong dẹt dẹt cho ra vẻ bùa yêu. Mệt quá, ngồi nghỉ. Hạnh tựa vào tôi thiếp đi tự lúc nào không rõ.Nhìn Hạnh bầu má hồng hồng, mi mắt dài lim dim, nỡ nào mà khách sáo. Tôi tìm được bùa yêu trong túi áo của Hạnh.

III. Đoạn kết

Huyền thoại hồi ấu thơ tôi giữ mãi, mà huyền thoại thì không thật bao giờ.
Tôi nhảy xổm từ đồng cỏ vào văn chương trà rượu rồi sa đà mê mãi. Lá bùa yêu rơi rồi đâu đó ở kí ức xa xăm. Một hôm nghe tin Hạnh có chồng, đâu đã dăm năm.
Ngày Hạnh chết, tôi không về viếng đưa được. Thằng Hùng, đứa si Hạnh một đời đến giờ vẫn chưa lấy nổi vợ, kể với tôi:
-Mày đi học, nghe nói léng phéng với mấy đứa thị thành phải không? Hạnh đòi mụ Hoàng bí quyết bùa yêu, mụ giận tát cho mấy cái. Hạnh ức bỏ đi Nam làm thợ nhuộm, bắt chồng dắt về nhà. Hạnh mang thai, cứ lang thang quanh quẩn bên miếu cô Châu, ai cũng cho là điềm gỡ. Rồi sinh khó, mẹ mất, con mất.
Có người bảo “ đời cha ăn mặn đời con khác nước”, mụ Hoàng bắt nhiều gã trẻ, con mụ trả nợ thay cho mụ.
Có người bảo: Hạnh có bầu mà không cử, cứ quanh quẩn hoài chổ hoang quạnh, bị cô Châu vọc.
Lại có người bảo cái nghề thợ nhuộm độc hại, cái khó bó cái đời, tội nghiệp!
Hùng bảo tôi:
– Sao mày đớn thế? Hạnh chết mà không về đưa linh nó, tao biết nó chết uất vì mày.
Rồi lại bảo:
– Thôi cũng được. Giá mày lớn xớn đi đưa khóc đểu, dễ chừng tao thịt mày quá.
Tôi biết Hùng nói thật.

Rock
Hạnh ơi! Cô Châu ơi! Mụ Hoàng ơi! Bùa yêu là mấy tội, mà hồng nhan lại mấy người. Thề có đất trời, tôi chưa tìm được bùa yêu.
Nếu có thì tôi cũng thuốc tôi luôn, để tôi biết si tình, yêu Hạnh một đời mà không so đo hơn thiệt.
Tôi chỉ nghe bùa yêu là tội lỗi.
Mà chừ mới thấm thía không mang được chút ngải yêu trong tim người mới lại càng tội lỗi.
Tôi đi rửa mặt, để có một quyết định sạch sẽ, mai tôi sẽ về thăm miếu cô Châu. Rồi về nhà mẹ Hoàng, viếng Hạnh.

Nguyễn Tấn Ái.

Cầy Quán Chủ

CẦY QUÁN CHỦ

Quê hương, ai cũng có một quê hương, là cây ổi sau nhà, vườn cà trên rẫy…là má lúm đồng tiền trên bầu má nâu non.
Tôi cũng thế, mà rồi cái qua đi phải bái biệt thôi, cây ổi vườn cà chặt rồi, má lúm nâu non theo chồng rồi, cái quê của tôi giờ đơn giản lắm, mấy cụ già hỏi: Con của Cừ đó ư? Mấy thằng bạn hỏi: Mày đó ư?
thitcho
Và, xôi thịt quen rồi, lại nhớ hoài một chủ quán.
Lão du nhập đến góc chợ tự hồi nào chẳng nhớ, chỉ nhớ man máng một bữa lũ bạn hồi chăn trâu cắt cỏ phục tôi một bữa gục tại trận tiền, tỉnh dậy thì bên tôi là chủ quán. Vừa bón từng thìa nước chanh lão vừa mắng:
• Thằng mặt trắng, mày cũng đòi giang hồ ư? Coi chừng uổng mạng.

Tôi quí lão, mà ít gặp, bởi còn đuối với vợ với con, giá có thời gian để la cà với dăm người như lão cũng chả uổng một đời.
Tôi mê nhất là cái cách không giống ai của lão. Đến góc chợ dăm năm, ngoài cái chức dịch chủ quán cầy, lão lại kiêm luôn chức danh “chủ tịch câu lạc bộ thơ bán nghệ sĩ”.
Chuyện nên chuyện từ độ một gã nhà thơ đã từng có thơ đăng trên mực tím với áo trắng đến quán cầy của lão. Thi sĩ tiêu chưa hết bốn mươi ngàn với một dĩa phay , một dĩa mận và chai rượu mật đã nôn ra cả một tràng thơ. Mà thơ nào thơ nấy cứ chỏi nhau như đực với cái. Tức ách, ông quán góp vần, thơ quán chính hiệu :
Q S có quán thịt cầy
Có dăm gã nhậu mặt đầy lông tơ
Thà làm thịt chó lá mơ
Còn hơn làm những vần thơ giả cầy.

Từ đó, thi sĩ không tới nữa, mà giang hồ tứ chiếng thì tới tấp.
Bằng hữu lão từ đó nghìn nghịt, hết chổ ngồi, cứ leo ngược lên vách ván, đứa nào cũng muốn mình bất tử như quán cầy của lão. Mỗi thực khách cược đủ mười hai nghìn mồi nhậu là được đề thơ. Trên vách lão ôi trời là thơ!
Thơ người bán bún:

Em đi bán bún lời hay lỗ
Có tính tình anh trong nước nhưng?

Thơ người thợ mộc:

Thế rồi cả lũ chúng ta
Trèo lên nóc tủ ngắm gà khỏa thân.

Thơ thợ hàn:

Quần em rách dọc rách ngang
Thầy liệu thầy hàn em trả công cho.

Nói thực, cũng nghề thơ, cũng rành nhạc điệu thi tứ, cái thằng mặt trắng này đâm phục thơ của mấy tay ăn chịu đái đồng này quá xá. Riêng chủ quán lại nghiện nhất cái câu nghịch của một gái nhà quê. Mồ hôi mồ kê nhễ nhại, em nhà quê đọc tặng lão:

Quê hương là chùm khế chua
Đội ra chợ bán không mua, đội về.

Đáp lại, quán chủ tặng cô cả một rề thịt chó.
dzo
Tiếng lành đồn xa, lão ăn nên làm ra rõ một, nhất là tự bận Dũng Lai trùm vàng Phước Sơn phục lão. Dũng gân rượu, một mình một đêm hai mươi chai uýt ki chẳng thừa sạch mặt. Dũng lai giàu, chơi tây; về đóng quán, cấm đàn em lai vãng để độc ngựa đối ẩm với lão. Chủ bãi chủ quán tán một đêm nửa ngày. Đàn em khiêng Dũng về, lão chủ đi gom cầy bán tiếp.
Tôi với lão tình sơ ý thân. Không biết tự bao giờ tôi đâm kiêng mà nghe lão giáo huấn. Lời lão cứ ngang phè như cái mặt ít xương nhiều thịt, lão bảo tôi:
• Mặt trắng, Huy Cận có câu thơ dở ẹt, “ cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”. Tao hỏi mày, em nào mà có đuôi? Khỉ vượn à?
• Mặt trắng, tao đố mày câu này của ai: “Nếu quân thù không đem quân tiếp viện, thì quân ta tiêu diệt hết quân thù”.
Thú thiệt, nếu lão không mách thì tôi không ngờ đó là câu thơ của thi sĩ thảo dân nổi tiếng.
Lão lại cực lực khen thơ bút tre, ý sâu mà kín: “Chị em phụ nữ tài thay, bắn tàu bay Mĩ rơi ngay cửa mình”. Chửi tụi Mĩ dâm mà chửi đến thế mới là đắc đạo.
Thấy tôi si lão, lão mắng:
• Mày suốt đời ngu đó. Cái tướng mặt trắng mà bách hội cao, chẩm cốt thấp thì đớn một đời. Tao thương mày là thương cái thằng mặt trắng hữu chữ vô mưu, liệu mà sống với đời nghe con.
Lời vàng vâng lĩnh ý cao, tôi nghe lão mà chỉn chu hơn trong cuộc sống, in ít cái vụ rượu chè giao thiệp.
Rồi lâu không về thăm chủ quán.
thitcho2 Hôm qua tôi về, chạy vội đến tìm cầy quán chủ. Vắng tanh. Nhà ván xiêu vẹo. Lão đi đâu rồi.
Nghe nói, đoàn hát bộ Sông Hàn I về diễn, có cô đào đóng Điêu Thuyền hay lắm, lão mê, tội lỗi, nữ nghệ sĩ cũng mê lão. Lão đóng quán theo luôn.
Nghe nói, lão đóng quán vì hay thơ. Ai đời lại đi làm thơ mà châm ông chủ tịch:

Quê ta có điện có đèn
Có ông chủ tịch hiền hiền dễ thương
Có trại giam, có cổng trường
Có luôn công nghiệp mía đường Quảng Nam.

Một thằng bạn bảo tôi: Toàn nói xàm cả.
Nó kể: Cầy quán chủ bỏ nghề bỏ nhà ngót hai tháng. Không theo đứa nào đâu, cũng chẳng chính kiến gì ráo. Chỉ vì cái bận mấy tay mãi võ dỏm được xã mời về biểu diễn mấy đường tây kinh đô non choẹt. Lão ức lắm, bấm cho mấy huyệt. Chỉ tê tê, chẳng làm đứa nào bị thương, mà lão thì chính quyền truy nã. Lão dông luôn.
Từ bận lão phán về mấy cái chẩm cốt với bách hội của tôi, tôi đã ngầm sợ lão, nên lời thằng bạn tôi tin là thật.
Cầy quán chủ ơi! Đời là một cuộc rong chơi, quán chủ cũng đã rong chơi già nửa đời người, phần còn lại không có mặt trắng thì đã có mỏ đỏ môi hồng tiếp lão, bận bịu gì cho lắm.
Bần thần, nhớ xưa lời lão tặng tôi, đúng là một tiên tri cho biểu đồ đời lão:

Mai sau giang hồ lênh đênh
Chẳng thành trộm cướp cũng thành nhà thơ!

Bái biệt cầy quán chủ.

NGUYỄN TẤN ÁI.

Cuộc Cờ

Tôi biết Binh vẫn còn giận tôi. Không, đúng hơn là Binh thất vọng, mà đúng hơn nữa là Binh buồn cho một con người.

Binh thương tôi lắm, thương bằng một mối quan hoài vọng tưởng giành cho người tri kỉ. Vật mà trong một uất ức với người không đâu, trong một lơ đểnh và xốc nổi, tôi phụ Binh. Tôi không đáng là thằng bạn tâm giao mà Binh kì vọng nữa.

Năm tôi khăn gói vào đại học, Binh tiễn tôi đến dốc Tranh, dúi vào tay tôi gói quà tặng mà suốt ba cây số đường đất Binh cứ ôm khư khư trong lòng:

* Cho Nhi đó!

Đó là cái bọc đựng quyển Bình Phong Mã Cuộc Thế.

Đó là thuở ấu thơ của tôi với Binh.

Binh và tôi là anh em cô cậu, cùng tuổi. Ba thương Binh như thương tôi. Ba là một kẻ sĩ bất phùng thời, đam mê đủ thứ mà cũng dang dở đủ thứ. Ba chọn tôi( dĩ nhiên) và Binh( cũng dĩ nhiên) làm khai môn đệ tử để truyền cho môn kì nghệ.
danhco
Bàn cờ là nền đất sét in chặc khắc những đường xảo diệu. Quân cờ là ba mươi hai nắp ken ba sai tôi với Binh gom nhặt từ cửa hàng ăn uống của hợp tác xã.Tự tay ba viết lên những quân cờ. Rồi từ những nét vở lòng “ sĩ nhật tượng điền xa liên pháo cách” đến những đường cơ bản “ thuận pháo hoành xa chống trực xa”

Đệ tử quần nhau toát mồ hôi.

Sư phụ gật gù đắc ý.

Rồi kha khá ngót ba năm, ba giao cho bửu bối : Dương Quang Lân, Hà Tùng Thuận, Vương Gia Lương…

Tôi xốc nổi, Binh đằm hơn tôi. Tôi thường phải in lại nền đất sét vì di quân nặng tay, hỏng cả mặt bàn cờ. ( Giờ tôi mới hiểu đó là cách Ba dạy tôi cầm quân cờ cho phải đạo. ) Cũng sau ba năm học đạo, Binh xứng là sư huynh. Ba thương Binh nên tặng riêng Binh cuốn Bình Phong Mã

Từ ngày Binh có mã trấn đài, tôi biết mình thấp hơn Binh một cuộc.

Ngày tôi vào đại học, Binh đã đem cả niềm tự hào non trẻ ấy mà già dặn trao tôi.

Rồi qua bao là nổi nhiêu khê, đáng kể và không đáng kể, tôi lại về trường Huyện làm thầy giáo. Binh của tôi mừng như nhà cháy mới dựng lại.

Tôi sến sáo bảo Binh:

* Quạ đi quạ về quê cũ, cáo chết quay đầu về núi, Cầm thú còn thế huống nữa là người.

Binh gắt nhẹ:

* Chưa chi đã muốn hóa cầm thú rồi sao?

Tôi hẫng hụt. Rồi chột dạ.

Mười năm có hơn , những chiều thứ bảy Binh vẫn thường cỡi con kì nhông sắt đến thăm tôi. Và như thường lệ, kết bằng một cuộc cờ.
danh cò
Hai thằng vẫn một thế bình phong.

Tôi thấy Binh già đi nhiều, đen đúa, xộc xêch. Riêng đường cờ lại càng già hơn xưa, đằm và lạnh. Thấy tôi chung thủy với thế bình phong, Binh gật gù đắ ý:

– Thầy giáo đi thế bình phong vừa hợp đạo vừa trái đạo. Bình phong không dạy người, không tấn người, chỉ giữ mình. Thầy lại đi dạy cho đời thì coi chừng tấn người rồi đó. Nhưng thầy cũng biết giữ mình, nước sông không phạm nước giếng, thủ ý như bình, đó là đạo bình phong.

Có lẽ vì thế mà cuộc cờ của tôi với Binh diễn ra theo hai chiều trái ngược : Thú vị và nhạt thếch.

Ấy vậy mà cái thế bình phong cũng có ngày bị vỡ.

Lần ấy, một ngày mùa hạ, không biết oán hận gì, chán chường gì mà tôi đã đổi thế. Binh khai cuộc bình phong, tôi lại pháo tuần hà.

Có lẽ quen với cái thường tình, có lẽ cũng chỉ cần có cái nhạt thếch thường tình, Binh đâm hờ hững.

Kì phá thành đối xa hãm xa cuộc. Binh mất xa mã tượng, lại bị tôi song pháo đơn xa dồn đuổi.

Hôm ấy Binh về. Buồn hiu, thắc mắc:

-Cờ Nhi hôm nay sao giàu sát khí thế? Có nhớ thế pháo tuần hà xưa dượng cấm chúng mình không?

Còn nhớ xưa cha dạy: “ Cuộc ngũ lục pháo cương dũng mà nóng nảy, cuộc tuần hà pháo gian giảo quỷ quyệt thiếu đức nhân. Đối cuộc với người không nên khinh xuất mà đương đầu pháo. Càng không thể quỷ quyệt láo lường mà kém tư cách.”
co2
Binh về. Tôi trở lại bàn cờ. Những quân cờ lăn lóc. Tách cà phê của Binh vẫn còn dang dỡ.

Ngước nhìn lên vách, cuộc cờ Binh tặng tôi vẫn lặng im khổ nảo, cuộc Binh chiêm nghiệm một đời: Cùng đồ tốt. Cái con tốt đáy đường vẫn còn lặn lội phá sĩ tượng chiếm thành, rồi xả thân với lời đề tựa: Cuộc cờ thí tốt tự vây đời mình.

Tôi lai nghiệm đến cuộc mã cầm cô sĩ, Binh cứ như con sĩ trong một cuộc cờ đã trống toang trống toát quân ta.

Lâu rồi Binh không đến nữa .

Tôi biết Binh giận tôi.

Không, đúng hơn là thất vọng.

Mà đúng hơn nữa là buồn cho một con người.

Đợi hoài từ hạ sang đông, tôi bần thần tự hỏi: Mình đã hỏng một cuộc người?

cuc vang

Cuối chạp tôi đến thăm Binh, bước thậm thò như trò có lỗi. Binh đang lúi húi bên mấy lối cúc vàng. Thấy tôi, mắt Binh chớp chớp.

Dẫn tôi loanh quanh bên mấy dậu hoa, Binh bình luận:

Năm nay sương giá, hoa muộn cả, riêng hoa mình vẫn kịp mùa, biết bí quyết gì không? Tro bếp đấy, loại nầy mịn mình, tích nhiệt, giữ ấm cho cây rất tốt.

Thấy Binh vui, tôi đùa:

– Cụ ơi, hoa thì đượm màu mà cụ thì lốm đốm cả rồi đấy.

Binh nghiêm chỉnh:

-Mình có mốc đầu thì tết thiên hạ mới tươi được chứ.

Rồi chép miệng: Còn chỉ phiên chợ tết, không biết có nuốt trôi ngần này không đây!

Tôi đề nghị:

* Năm này hai đứa mình cùng ra chợ đứng.

Binh nghía nghiêng tôi, mắt nửa cảm động, nửa cười cợt:

-Thầy giáo đứng đường chắc là đắt khách!

Chưa tết mà lòng vui lạ. Vậy là Binh đã tiêu hóa tự tám hoánh đời nào cái bận thằng tôi vô sỉ, mà tôi thì cõng hoài đến oặn lòng. Tôi hiểu rằng với cái chấp này, chẳng bao giờ tâm tôi đạt được như Binh.

Mà thôi, sắp Tết thì cứ là sắp Tết.

Quế Sơn,
Nguyễn Tấn Ái.

Bão Miền Trung

MỘT GÓC TƯỜNG THUẬT

du bao bao
Chương trình thời sự đưa tin: Ngày…bão…cấp…
Chống bão, cơ quan lên kế hoạch, công ty lên kế hoạch, nhà nhà lên kế hoạch.
Mọi việc diễn ra y như bài diễn tập ở thao trường, tưởng có thể dễ dàng giăng bẫy đánh sập nhốt gọn loài thủy quái hung hiểm kiêu ngạo kia.
Vậy mà cơn bão vẫn ập đến với đầy đủ sự bất ngờ táo tợn như bất thần, như không hề được báo trước.
Suốt từ nửa đêm về sáng gió thốc và gầm rít, quần quật và quằn quại, như núi đổ, như thác réo, như biển trào.
Những căn nhà nhỏ nép vào nhau. Những linh hồn nhỏ nép vào nhau. Mọi sức mạnh là ở lời cầu nguyện.

Bừng sáng là những cảnh tượng kinh hoàng. Nhà trơ nóc, đại thụ trơ gốc, đường ngập lụt.
Vừa sáng tôi đã có mặt ở cơ quan tham gia tình nguyện vào đội phòng chống bão, lôi từ phòng học nhà trường từng nhúm người nhàu nhò hớt hải ra khỏi nơi trú ẩn.
Bão tạm yên, những người đàn ông hò hét hối thúc nhau gom nhặt phần rách nát còn lại để đắp điếm chắp vá giữa nhịp nghỉ của hai cơn bão. Cái kinh nghiệm miền Trung cho biết trong chốc lát một cơn khác lại đến, khủng khiếp hơn: “Bão đi té đái, bão lại té …”.
Liên tiếp những bao cát,những súc cây, những dây chằng được đưa lên những mái nhà.
Những dãy nhà giờ đây trông như những khu gia binh với những ụ súng thời ấp chiến lược.

chong bao

Giữa những đợt nghỉ tay là tới tấp những tin nhắn.
Từ Quảng Trị: “ Nhà anh sao rồi? Nhà em đang bị bao vây, toàn gia cố thủ trên gác thượng”
Từ Huế: “Nước sông Hương dâng cao, Đông Ba bị ngập, Đập Đá hoàn toàn bị cô lập”
Từ thành phố Tam Kì: “Gia đình có sao không anh? Tội nghiệp anh quá, nơi đây chỉ duy nhất đường chính Hùng Vương còn đi lại được”
10 giờ thì mọi liên lạc cá nhân cũng bị cắt nốt, mọi cuộc gọi đều nhận được phản hồi: Chỉ được gọi những số s.o.s.

Chợt nhớ một thằng bạn đang thi công ở núi chưa về được, ngôi nhà chênh vênh giữa đồng với một vợ và hai con nhỏ, tôi bươn bả tìm đến. Hai đứa nhỏ đã được sơ tán kịp thời. Nền nhà ngập gần thước nước, tivi, tủ lạnh được đưa lên mắt phản gỗ, nơi ấy bà vợ ngồi ngự như thần giữ của, tái xanh tái xám. Cầm tay cô ấy lôi tuột đi hai cây số đường ngập lụt, gửi tạm vào một nhà đổ kiên cố, tôi tức tốc trở về.

11 giờ cơn bão lại đến.
Kinh nghiệm chống bão cho biết bây giờ cách chống hữu hiệu nhất là… ẩn nấp và… nhìn bão.
Bất thần, một mái nhà cất mình bay lên như một con diều quái đản khổng lồ.
Cây xà cừ hơn mười năm tuổi vốn đã nằm bẹp dúm từ khuya bất thần dựng thẳng dậy như có phép màu rồi bất thần đổ ập về phía bên kia.
Nhà kho của trường bỗng dưng biến mất.
Và rất nhiều những đồng dạng như thế.
cay do

SAU CƠN BÃO

Hai ngày sau khi cơn bão đi qua nhịp điệu cuộc sống mới kịp trở lại bình thường.
Tối thứ sáu, những người dân vùng tâm bão mới có cơ hội chính thức nhìn tổng quan cơn báo qua sóng truyền hình.
Lũ lụt.
Thiên tai.
Của mất.
Người mất.
Những thùng hàng cứu trợ.
Những nhà hảo tâm.
Những chính khách.
Những bài diễn văn.

VÀ NHỮNG SUY NGẪM.

sau bão 2

Trong những ngày này, khẩu hiệu “ khúc ruột miền Trung” lại ra rả nhói lòng.
Nếu tôi không nhầm thì khẩu hiệu “ khúc ruột miền Trung’ lần đầu xuất hiện và được cả nước đón nhận là trong gian lao chống Mĩ.
Và bây giờ khẩu hiệu đó lại đến hàng năm trong gian lao chống bão.
Nhìn lên bản đồ đất nước, hình ảnh miền Trung cứ như sợi dây thừng ngoằn ngèo nối hai địa đầu Tổ Quốc. Cái sợi dây mềm oằn ấy có đốt sống là dãy Trường Sơn, giữa mình có điểm mỏng tang, từ Trường Sơn đến biển chưa đầy năm mươi cây số, nghĩa là kém hơn một giờ chạy với vận tốc trung bình của một xe máy.
Vậy mà cái sợi thừng mảnh mai ấy đã đương mình ra với bao nhiêu địch họa thiên tai.
bandotrung
Hẳn không phải ngẫu nhiên mà người Pháp chọn miền Trung làm điểm thử lửa đầu tiên vào năm 1958 tại cảng Đà Nẵng.
Và bằng một tính toán kĩ lưỡng, người Mĩ cũng chọn đúng đất Miền Trung làm điểm đổ lính viễn chinh vào năm 1965 ở đất Chu Lai.
Và mỗi năm có trên mười cơn bão từ biển Đông trườn vào cũng dải miền Trung.
Là sơn cao thủy thâm, là địa linh nhân kiệt nên hút nhiều cường địch?
Hay ỷ dãy Trường Sơn mà ngạo với biển Đông nên chịu trừng phạt của thủy thần?
Câu trả lời giành cho các nhà nghiên cứu lịch sử, địa lí.

Tôi nghĩ nhiều về khí chất miền Trung.
Lắm địch họa nên thành anh dũng.
Lắm thiên tai nên rất đỗi kiên cường.
Tôi nghĩ nhiều về hoàn cảnh miền Trung.

Phải chăng cũng từ lắm tai họa mà từ lâu đời miền Trung cũng là dải đất nghèo nhất nước? Mấy mươi năm đất nước hòa bình, hai đầu đất nước giàu sang, Tây Nguyên thay da đổi thịt, mà mảnh đất nổi tiếng trung dũng kiên cường này tự thẳm sâu lòng người vẫn một ao ước giản đơn: “ Ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Và trong những ngày này, miền Trung tự nhiên đón đợi những tấm lòng cả nước.

cứu trợ

Tôi kịp đi một vòng trăm cây số thăm bà con bè bạn, kì lạ là sáng nay, sau thiên tai chưa xa, lại tưng bừng những đám cưới. Tôi tự hỏi: Giá như hôn lễ diễn ra đúng hồi thiên tai thì sẽ ra sao? Chắc hẳn là không loa thùng loa phóng, không đưa rước cô dâu, và đôi tân hôn sẽ cố thủ trên một căn gác xếp, có thể nhà mình, có thể mượn tạm của người hàng xóm, nhưng chắc chằn không thể thiếu li rượu mời nhau ngày hỉ sự. Mặt thủy tai ghen tuông lồng lộn, đôi vợ chồng son trẻ cứ chạm li, cụng li.

Ừ, dẫu thế nào thì cũng cứ hãy cạn một li hạnh phúc. Rồi cứ cạn một hơi hạnh phúc.
Phải, nên làm thế, đó là cái chất miền Trung!

NGUYỄN TẤN ÁI

Nỗi buồn từ li

Thôi chia tay.
Lời từ li người gửi cho tôi
Ngắn ngủi cũng là kỉ niệm
Suốt một đời ngẩn ngơ tìm kiếm
Để tình mình bi chừ như thoáng gió bay qua.
MuaPhoHue
Thôi chia tay.
Anh là người yêu thơ
Gửi vào em cả tấm tình với Huế
Chiều nay nghe ai kể
Chợ Đông Ba chừ lắm ngựa nhiều xe.

Thôi chia tay.
Lời từ li người hỏi chiều có nghe
Mà mây chiều ủ dột
Mà con đò trên sông thảng thốt
Gửi lên câu tình nghĩa lạc loài.

Thôi chia tay.
Anh là khách qua đường.
Nỗi niềm riêng chưa một lần san sẻ
Và em rồi cũng thế
Hai mảnh linh hồn không tìm gặp nhau đâu.

Thôi chia tay.
Anh về giữa đêm sâu
Đường xưa vốn quen sao chừ lạc lối
Đêm này quá tối
Giọt nước mắt người xin soi dẫn hồn anh.

Thôi chia tay
Tình yêu vốn mong manh
Lỡ lầm chăng tơ hay lỡ lầm vướng víu
Đùa chi nhau để bây giờ anh hiểu
Nỗi buồn trong câu từ li!

Nguyễn Tấn Ái