Tag Archives: trà đàm

Lời nguyện Giáng Sinh

Hỡi Chúa Hài Đồng,

Tạ ơn Người đã đến
và sống giữa chúng con
để sẻ chia với chúng con nhân tính của chúng con
và an bình của Người.
Hãy ban bình an cho chúng con.
Hãy làm sạch quả tim của chúng con.
Làm sạch trí óc của chúng con.
Làm sạch linh hồn của chúng con.
Làm sạch tâm linh của chúng con.
Hãy làm lành quả tim của chúng con.
Làm lành trí óc của chúng con.
Làm lành linh hồn của chúng con.
Làm lành tâm linh của chúng con.
Hãy xua khốn khổ đi khỏi thế giới này,
khỏi hành tinh của chúng con, khỏi quả tim của chúng con.
Hãy mang chúng con vào tình yêu vô biên của Người.
Hãy nắm các quả tim của chúng con trong tay Người
và ban phúc cho chúng với bình an vô tận của Người.
Amen

Trần Đình Hoành (nguyên tác Anh ngữ, và Việt dịch)


Dear little Jesus,

Thank you for coming
and living among us
to share with us our humanity
and your peace.
Grant us peace.
Cleanse our hearts.
Cleanse our minds.
Cleanse our souls.
Cleanse our spirits.
Heal our hearts.
Heal our minds.
Heal our souls.
Heal our spirits.
Drive miseries off this world,
off our planet, off our hearts.
Bring us all into your infinite love.
Hold our hearts in your hands
and bless them with your everlasting peace.
Amen

Lời nguyện cho tạo mới

Mong bầu trời được làm sạch

Mong nước được làm sạch

Mong mặt đất được làm sạch

Mong trái tim của chúng con được làm sạch

Mong trí óc của chúng con được làm sạch

và do đó được tạo mới.

AMEN.

~Marianne Williamson

Nguyễn Minh Hiển dịch

May the sky be cleansed

May the water be cleaned

May the ground be cleansed

May our hearts be cleansed

May our minds be cleansed

and thus made new.

Amen

Ông Tàu Vui Tính

Ai đi trong các Phố Tàu ở Mỹ đều thấy ảnh tượng một ông mập mang một bao vải. Thương nhân Trung Hoa gọi ông ấy là Ông Tàu Vui Tính hay Ông Phật Cười.

Ông Hotei này sống thời nhà Đường. Ông chẳng muốn ai gọi mình là thiền sư hoặc tụ tập học trò đông đúc quanh mình. Thay vì vậy, ông đi đọc đường phố với một bao lớn trong đó ông mang các món quà như kẹo, trái cây, bánh ngọt. Đây là quà ông cho các em bé thường chơi đùa với ông. Ông tạo ra lớp vườn trẻ trên đường phố.

Lúc nào gặp một thiền nhân ông cũng xòe tay và nói: “Cho tôi một xu.”

Có một lần ông đang sửa soạn chơi/làm-việc, một thiền sư khác đi ngang và hỏi: “Yếu tính của thiền là gì?”

Hotei vất ngay bao vải xuống đất, trả lời thầm lặng.

“Vậy,” vị thiền sư hỏi tiếp, “thế nào là đạt được Thiền?”

Ông Tàu Vui Tính lập tức xách bao mang lên vai và đi tiếp.
.

Bình:

• Hotei chính là Phật Di Lặc, và có nhiều tên khác nhau như Phật Mập, Phật Cười, Phật Vui, Phật Tình Yêu, Phật Phát Tài…

Theo kinh sách thì Phật Di Lặc là Phật tương lai, Phật cuối cùng của thế giới ta bà này, có lẽ phải khoảng 30 ngàn năm nữa mới đến.

Tuy nhiên, theo truyền thuyết dân gian thì Bố Đại Hòa Thượng thời nhà Đường là hóa thân của Phật Di Lặc, như trong truyện này.

• Yếu tính của Thiền là gì?

Là không vướng mắc, không vướng bận, không chấp. Như Hotei vất bao xuống đất.

• Thế nào là đạt được Thiền?

Là sống, là làm mọi điều mình vẫn làm thường ngày, với tâm không vướng mắc. Như Hotei mang bao quà đi chơi/dạy con nít.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Happy Chinaman

Anyone walking about Chinatowns in America will observe statues of a stout fellow carrying a linen sack. Chinese merchants call him Happy Chinaman or Laughing Buddha.

This Hotei lived in the T’ang dynasty. He had no desire to call himself a Zen master or to gather many disciples around him. Instead he walked the streets with a big sack into which he would put gifts of candy, fruit, or doughnuts. These he would give to children who gathered around him in play. He established a kindergarten of the streets.

Whenever he met a Zen devotee he would extend his hand and say: “Give me one penny.”

Once as he was about to play-work another Zen master happened along and inquired: “What is the significance of Zen?”

Hotei immediately plopped his sack down on the ground in silent answer.

“Then,” asked the other, “what is the actualization of Zen?”

At once the Happy Chinaman swung the sack over his shoulder and continued on his way.

#12

Không trộm được mặt trăng

Thiền sư Ryokan sống cuộc đời đơn giản nhất trong một căn chòi nhỏ dưới chân núi. Buổi tối nọ một tên trộm vào chòi chỉ để khám phá ra là chẳng có gì trong đó để trộm.

Ryokan trở về, bắt gặp tên trộm, “Có lẽ anh đã đi một quãng đường dài để thăm tôi,” thiền sư nói với tên trộm, “và anh không nên về không. Vậy hãy nhận áo quần của tôi làm quà tặng.”

Tên trộm sửng sốt. Hắn nhận áo quần và lẩn đi.

Ryokan ngồi trần truồng, ngắm trăng. “Tội nghiệp,” thiền sư nghĩ thầm, “Ước gì mình có thể cho anh ta mặt trăng đẹp đẽ này.”

Bình:

• Gặp trộm thì la hét, đánh đập, chưởi bới. Đó là phản ứng của đại đa số người. Đại đa số được “lập trình” như thế, và các phản ứng như vậy chỉ là lập trình máy móc như robot. “Phản ứng” là bị động. “Phản ứng theo lập trình” là nô lệ của lập trình.

Thiền sư hoàn toàn chủ động tâm mình. Xử với mọi người như khách quý, dù hắn là ai. Đó là một tâm thức hoàn toàn tự do, hoàn toàn do chính mình làm chủ.

Thiền sư cũng chẳng buồn hỏi “Tại sao anh làm thế?” để nghe giải thích hợp lý như là “Con tôi đang bị bệnh, cần tiền mua thuốc.” Mọi người là khách quý của thiền sư, thế thôi—không điều kiện, không ràng buộc. Một tâm thức hoàn toàn tự do.

• Cũng như vị linh mục trong Les Miserables của Victor Hugo, dùng tình yêu và ân cần mà xử với kẻ trộm, có thể làm cho người đó sửng sốt đến độ sẽ không muốn làm sai nữa và chỉ muốn làm điều thiện.

• Còn cái đáng giá hơn cả bộ áo quần của thiền sư cả muôn nghìn lần—cái đẹp hiền dịu của ánh trăng và những phút giây hạnh phút nhìn ngắm nó. Đó mới là quà quý để tặng khách. Nhưng đương nhiên là không được.

• Thực ra, anh trộm cũng đã có mặt trăng rồi, và cũng đã có thể ngắm trăng sung sướng rồi. Nhưng nếu anh không biết ngắm trăng thì đành chịu. Người khác không thể cho anh mặt trăng và sự ngắm trăng.

• Mặt trăng là biểu tượng của tâm tĩnh lặng, tâm trong sáng, tâm giác ngộ, tâm Phật—ai cũng đã có hết rồi. Thấy được hay không, hưởng nó được hay không, là do chính mình. Chẳng ai có thể giúp mình làm được điều đó.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Moon Cannot Be Stolen

Ryokan, a Zen master, lived the simplest kind of life in a little hut at the foot of a mountain. One evening a thief visited the hut only to discover there was nothing in it to steal.

Ryokan returned and caught him. “You may have come a long way to visit me,” he told the prowler, “and you shoud not return emptyhanded. Please take my clothes as a gift.”

The thief was bewildered. He took the clothes and slunk away.

Ryokan sat naked, watching the moon. “Poor fellow, ” he mused, “I wish I could give him this beautiful moon.”

#9

Đạo khả đạo phi thường đạo

Chào các bạn,

Ai đó đã nói “Một phương pháp bất di bất dịch thì không phải là một phương pháp.” Bất kỳ người nghệ sĩ nào cũng hiểu được câu này, dù đó là ca sĩ, văn sĩ, họa sĩ, thi sĩ hay chi chi sĩ… Đó nghĩa là, tất cả mọi định nghĩa, mọi công thức, mọi phương pháp, mọi lề luật, cứng ngắc, về bất cứ điều gì trên đời, đều không dùng được cho người bậc thầy, bậc “sĩ”. Chúng chỉ có thể dùng cho môn sinh nhập môn, hàng “sinh” mà thôi.

Lão tử gói ghém đời sống và nghệ thuật sống như thế trong hai câu đầu tiên của Đạo Đức Kinh, vang vọng qua hơn 25 thế kỷ của triết lý‎ Đông phương:

Đạo khả đạo phi thường đạo
Danh khả danh phi thường danh

Tạm dịch:

Đạo có thể coi là đạo thì không là đạo vĩnh viễn
Tên có thể gọi là tên thì không là tên vĩnh viễn

“Đạo” của Lão tử là nguyên lý tối hậu, Sự Thật tối hậu, của vũ trụ–tương tự như “Không” của nhà Phật, hay Thượng đế của Thiên chúa giáo.

Đạo mà có thể nói rõ ra được Đạo là gì, thì Đạo không còn là Đạo nữa. Cũng như nếu ta có tả rõ được Thượng đế thế nào thì không còn là Thượng đế nữa, hoặc nói được Không là gì thì Không không là Không nữa.

Nguyên lý vận hành vũ trụ là thế, cho nên mọi sự trên đời cũng đều là thế. Ví dụ “tên” Hằng. Hằng là một cô gái ai cũng biết. Nhưng hỏi mọi người biết Hằng, ghi xuống giấy Hằng thế nào, thì mỗi người sẽ có một danh sách các đặc tính của Hằng, và chẳng danh sách nào giống danh sách nào. Có những danh sách còn chỏi nhau dữ dội nữa là khác—như là thiên thần một bên và bên kia là phù thủy.

Tức là cùng người tên Hằng, nhưng ý ‎ nghĩa đối với mỗi người thì khác nhau. Cho nên nếu ta dùng một danh sách “chuẩn” kể ra mọi thứ về Hằng và nói “đây là Hằng”, thì tất nhiên sẽ có người đọc và nói “Đây không phải là cô Hằng tôi biết.” Tức là, “Tên có thể gọi là tên thì không là tên vĩnh viễn.”

Tên Hằng có thể tạm dùng được với mọi người mà không gây tranh cãi nếu ta cứ để chữ Hằng mù mờ như thế, đừng định nghĩa nó quá rõ, và hiểu nó theo nghĩa tương đối thôi—tức là mỗi người hiểu khác một tí, chẳng ai đúng chẳng ai sai.

Đó là: Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh.

Nhưng, mấy câu tiếng Hán rắc rối hai ngàn năm trăm tuổi này có liên hệ gì đến tư duy tích cực của chúng ta?

Thưa, có rất nhiều: Chúng muốn nói, Đừng lệ thuộc vào ngôn từ, công thức, luật lệ cứng ngắc để phán đoán và chia cách nhau.

Tất cả các thứ đó đều không chính xác, và dùng chúng cứng ngắc là phản lại nguyên lý sống, phản lại “Đạo” sống.

Ví dụ: Thằng này Đảng viên đừng chơi vói nó. Anh kia Công giáo, nguy hiểm. Ông này là thiền sư, tin được. Tên này chống cộng, phản động nguy hiểm. Tên nầy thân Mỹ, không tin được. Tên này theo Tàu, đáng nghi.

Hay là: Chuyện này để nhà nước lo. Dân không nên bàn chuyện này. Vấn đề này nhậy cảm không bao giờ nên nói.

Nếu chúng ta sống với các nhãn hiệu và công thức như thế, dòng sông sáng tạo của chúng ta sẽ tuôn chảy tươi mát như sa mạc Sahara. Và chúng ta sẽ chia năm xẻ bảy về những vấn đề lớn của xã hội, cũng như trong liên hệ giữa các cá nhân chúng ta.

Sống lệ thuộc vào “danh”, lệ thuộc vào nhãn hiệu như thế , nhà Phật gọi là “chấp vào danh sắc”, tức là ôm cứng vào tên và hình bên ngoài.

Và trong Thánh Kinh Thiên chúa giáo có chuyện này. Bà nọ bị bắt về tội ngoại tình, theo luật Do Thái thời đó, bà ta phải bị tử hình bằng ném đá (Ngày nay vài nơi theo Hồi giáo trên thế giới vẫn còn luật ném đá này. Somali mới tử hình bằng ném đá một phụ nữ bị tố cáo ngoại tình, tháng 11/2009 vừa rồi). Các giáo sĩ Do Thái, có lẽ muốn gài Chúa Giêsu vào tội phá luật, bèn hỏi, “Ngài nghĩ nên làm gì với bà này?” Sau một lúc yên lặng, Giêsu nói, “Ai là người không có tội trong số các vị, xin hãy ném viên đá đầu tiên.” Mọi người lần lượt bỏ đá ra về.

Chúng ta thấy mọi người hành xử dã man theo nhãn hiệu và công thức: Có tội, bị ném đá, ta vô tội ta ném đá. Nhưng nếu suy nghĩ sâu một tí vào tâm ta, thì ta biết ta cũng có khối tội chẳng hơn gì ai cả, đâu có tốt lành gì hơn đâu mà kiêu căng hợm hĩnh, đáng để ném đá ai.

Nhãn hiệu, công thức, tự cao tự đại, cái tôi lớn… là những bức màn vô minh che tối tâm thức con người. Chúng ta phải vượt qua chúng.

Nói thế không có nghĩa là chúng ta bỏ hết ngôn từ, tên và công thức. Ngôn từ, tên và công thức làm nên cuộc đời. Chỉ là, ta cần uyển chuyển dùng chúng với một con tim khiêm tốn yêu ái và một tâm thức sáng láng. Chạy xe thì phải biết thắng, biết rồ ga. Nhưng khi nào thắng khi nào rồ ga, đó là nghệ thuật. Người lái giỏi, người lái dở, là ở đó.

Và đừng nên dùng suy tư của ta mà kết án người khác. Dùng lòng mình mà đo lòng người khác, hầu như là 100 lần thì sai hết 99 lần. Nếu có hai cách kết luận khác nhau về một người nào đó—một tốt một xấu– kết luận tốt về người đó thường là đúng hơn là kết luận xấu, vì kết luận tốt thường phù hợp với suy nghĩ sâu sắc trong lòng người đó hơn.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Từ Chuyện Cây Bàng Trong Sân Trường

Sân trường tháng muời hai luôn đặc biệt bởi những chiếc lá bàng. Cây bàng không biết từ lúc nào đã tự nhuộm mình thành đỏ ối như một ngọn đuốc khổng lồ, cứ thầm lặng cháy trong trời đông xám lạnh. Mỗi ngày, ngọn đuốc ấy lại hao mòn đi một ít sắc đỏ vì những chiếc lá rụng.

Tháng mười hai Tây Nguyên cũng đã bắt đầu mùa gió, nên vừa rời cành lá bàng đã được gió đón lấy, nâng trên đôi cánh của mình mà đưa đi tít xa. Có những chiếc lá không theo gió, chỉ chao nhẹ đáp xuống rồi nằm thảnh thơi trên mặt đất, làm nên một tấm thảm màu nâu đỏ, đẹp đến ngỡ ngàng.

Cô giáo dạy văn mê đắm lá bàng, cứ ngẩn người xuýt xoa không ngớt trước vẻ xao xác của sân trường mùa lá rụng. Rồi tiếc nuối hụt hẩng khi thấy học trò của mình quét sạch lá rụng…
Không chỉ quét lá rụng, học trò còn leo lên cây tuốt hết những chiếc lá đã chín màu nâu đỏ, tuốt cả những chiếc lá mới chỉ vương chút nâu vàng… Lá bàng bị cưỡng bức rụng ào ào xuống sân trường.
Rồi trong chốc lát, tất cả những chiếc lá như những mảnh màu ấm áp tuyệt đẹp, đã bị dồn hết vào trong bao tải. Học trò mang những bao lá bàng ra để ở một góc đường, xe rác sẽ đến và mang chúng đi…

Thầy giáo phụ trách cơ sở vật chất của trường không thích lá bàng rụng, không thích màu sắc quá chói gắt của lá bàng trong mùa đông, không thích sự bay tung, sự sóng soãi, sự rực cháy của nó trên sân trường. Sân trường đầy lá rụng, trông chẳng giống sân trường một chút nào, trông cứ luộm thuộm như một công viên hay một góc rừng… Thầy muốn sân trường phải thật sạch sẽ thật nghiêm trang như một ông giáo mặc veston trong ngày khai giảng!

Cho học sinh tuốt sạch lá bàng! Không để cho cây bàng tự do sống đời sống của nó!
Không để cho tụi học trò ngớ ngẩn dạo qua dạo lại trong sân trường, nhặt mấy chiếc lá đỏ, lật đi lật lại trên tay mà ngắm nghía, mà xuýt xoa!
Không để cho cô giáo dạy văn đang giảng bài chợt sững người nhìn chiếc lá bàng vừa bay vào lớp. Rồi nhặt chiếc lá mà liên hệ với học trò về sự hữu hạn của mỗi đời sống trong vô hạn của thời gian. Sự cần thiết phải nỗ lực của mỗi con người, để có thể đi qua cuộc đời một cách lương thiện, đoàng hoàng, đẹp đẽ. Như chiếc lá bàng đã sống trọn đời với màu xanh trên cành làm nên bóng mát, rồi chọn một cái chết đẹp, với màu sắc rực lên, cháy đến tận cùng, dâng hiến đến tận cùng cho mùa đông, làm nên một đốm lửa ấm áp sưởi ấm không gian lạnh lẽo trước khi tan biến vào cát bụi đất đai!

Cô giáo dạy văn nhớ bài thơ Mùa lá rụng của Ôn ga Bec gôn với lời đề dẫn: Mùa thu ở Matxcơva người ta treo những tấm biển trên các đại lộ với dòng chữ: Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng… Và tiếc rằng, thầy giáo phụ trách cơ sở vật chất của trường, có thể không biết bài thơ đó. Không biết rằng ở nhiều nơi những chiếc lá vàng óng kia, đang được bảo vệ cẩn trọng như những báu vật.

Những đàn sếu bay qua. Sương mù và khói toả…
Matxcơva, lại đã thu rồi!
Bao khu vườn như lửa chói ngời
Vòm lá sẫm ánh vàng lên rực rỡ
Những tấm biển treo dọc theo đại lộ
Nhắc ai đi ngang dù đầy đủ lứa đôi
Nhắc cả những ai cô độc trên đời
“Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng”



Bảo vệ từng chiếc lá cây trong mùa cây rụng lá, hoặc leo lên cây tuốt sạch hết lá vàng, hoặc bẻ đến kỳ hết những chùm trái bằng lăng khô khốc .. Đó không chỉ là những hành xử của con người với cây cỏ thiên nhiên. Đó còn là biểu hiện quan điểm của mỗi người về cái đẹp. Trong môi trường sư phạm, đó còn là quan điểm về vấn đề giáo dục cái chân, cái thiện, cái mỹ cho mỗi học sinh.

Nhưng làm sao có thể trách được người không biết. Mà vẻ đẹp kỳ diệu trong từng chiếc lá rụng, có phải ai cũng nhận biết hết cả đâu. Đâu phải ai cũng có thể tưởng tượng rằng ngày xưa, cái ngày xưa Thơ Mới đó, Xuân Diệu cũng đã từng choáng ngợp trước cây bàng lá đỏ mà viết:

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Những cây bàng trong sân trường giờ đã trơ trụi lá, nhưng vẫn đẹp một vẻ rất riêng. Cành nhánh trên thân cây khẳng khiu trông như những cánh tay dang rộng, phả lên bầu trời cái màu khói sương bãng lãng.

Rồi ít lâu sau, bàng sẽ nhú lộc. Những mầm non đỏ tươi đậu chi chít trên cành như minh chứng cho sự trẻ trung, cho sức sống cuồn cuộn rạo rực chảy tuôn sau lớp vỏ dày nứt nẻ.
Rồi lá bàng sẽ to ra dựng đứng như tai thỏ.
Rồi lá bàng sẽ nhanh chóng lớn nữa, xoè rộng, tạo nên một vòm bình yên với tầng tầng lớp lớp lá non xanh như ngọc.
Rồi đến lúc tiếng ve báo hè vang dậy, dưới những tán lá bàng sẽ có những cô cậu học trò ngồi học bài.. Họ hái chiếc lá bàng ghi vài câu thơ vào đó, có khi tặng bạn, có khi ngần ngại ép vào cuốn sách mang về…
.


Xã hội càng hiện đại, những khoảnh khắc xúc cảm lãng mạn như vậy, phải chăng càng cần thiết? Phải chăng nhờ vào đó, bao tâm hồn của thế hệ trẻ sẽ có cơ hội cân bằng trước những xơ cứng của máy móc, của thao tác nhấp chuột tìm bạn bè, tìm trò chơi, tìm thông tin trên net?
Cũng như vò trong tay một lá cỏ hăng hắc, nghe bên tai lảnh lót một tiếng chim, phải chăng là một cách di dưỡng tinh thần, để con người chúng ta bớt cằn cỗi với café uống liền, trà xanh chai nhựa, nước trái cây đóng lon, cùng bao nhiêu sản phẩm đóng hộp khác, nhan nhãn trong xã hội hiện thời?

Vì vậy, hạnh phúc thay cho những ngôi trường có khuôn viên rộng, có nhiều cỏ cây, có bóng mát, mùi hương và tiếng chim. Để thiên nhiên, bậc thầy kỳ diệu, dạy cho những học sinh, những tâm hồn bé bỏng tình yêu cái đẹp, cái thiện…
Học sinh sẽ tự nhận biết trong mỗi cành cây ngọn cỏ, bài học về sự cho đi và nhận được, sự có mặt và khuất lấp, sự mạnh mẽ vươn dậy của những tạo vật mỏng manh.

Học sinh sẽ tự nhận biết thời gian đi qua, bốn mùa đi qua, không chỉ trên những tờ lịch, những con số đếm ngày đếm tháng vô hồn, mà còn trong sự luân chuyển đâm chồi, ra hoa, rụng lá của cây cối..

Yêu cái đẹp cái thiện học sinh sẽ biết hành xử hướng tới cái đẹp cái thiện. Nâng niu một chiếc lá, học sinh sẽ biết nâng niu một số phận, Ngắm nhìn một bông hoa, học sinh sẽ biết trân trọng, ngưỡng mộ một tài năng. Đứng trước một chùm quả, học sinh sẽ phải suy ngẫm về việc cần nghiêm túc, cần nỗ lực trong học tập, trong lao động để có được những thành công thực sự trong đời…

Yêu cây cỏ trong sân trường, học sinh sẽ còn thấy gắn bó hơn với thầy cô, bè bạn, những giờ học, giờ chơi, những hồn nhiên của lứa tuổi mình đang sung sướng được sống.
Và từ lòng yêu cây cỏ, gia đình, mái trường, thầy cô bè bạn, những học sinh, những công dân tương lai của đất nước, sẽ ý thức rõ hơn, nuôi dưỡng sâu xa hơn trong lòng họ tình yêu tổ quốc.
Để khi tổ quốc cần, họ biết nỗ lực bảo vệ hoặc dựng xây. Bởi vì, như nhà văn I li a Ê ren bua đã viết: Lòng yêu tổ quốc bắt đầu từ lòng yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng trước cửa nhà, yêu con đường nhỏ dẫn ra bờ sông, yêu mái nhà tranh, yêu đồng lúa chín…

Đinh Thị Như Thúy

Sóng Lớn

Vào đầu thời Minh Trị Thiên Hoàng có một võ sĩ đánh vật tên là O-nami, tức là Sóng Lớn.

O-nami rất mạnh và giỏi về nghệ thuật đánh vật. Trong những trận đấu riêng, O-nami thắng cả thầy của mình, nhưng khi ra trước đám đông O-nami lại quá rụt rè đến nỗi chính học trò của anh cũng vật anh được.

O-name nghĩ là mình nên tìm một thiền sư giúp đở. Hakuju, một thiền sư lang thang, đang dừng chân tại một chùa gần đó, nên O-nami đến gặp và kể về khó khăn lớn của mình.

“Sóng Lớn là tên của anh,” thiền sư tư vấn, “vậy thì ở lại chùa tối nay. Tưởng tượng anh là những ngọn sóng lớn đó. Anh không còn là võ sĩ đánh vật hay sợ nữa. Anh là những đợt sóng vĩ đại quét sạch tất cả những gì đứng trước mặt, nuốt sạch tất cả những gì sóng đi qua. Tưởng tượng thế và anh sẽ là võ sĩ đánh vật siêu đẳng nhất nước.”

Vị thầy lui về. O-nami ngồi thiền cố gắng tưởng tượng mình là sóng. Anh nghĩ đến rất nhiều chuyện. Rồi dần dần cảm giác là sóng tăng thêm. Càng về đêm những lọn sóng càng lớn hơn. Sóng cuốn trôi những cánh hoa trong các lọ hoa. Ngay cả tượng Phật trên bàn thờ cũng bị ngập nước. Trước khi trời hừng đông, cả ngôi chùa chẳng còn là gì nữa ngoại trừ sóng lên sóng xuống của đại dương.

Sáng ra vị thầy thấy O-nami vẫn còn thiền định, với nét cười thoáng hiện trên mặt. Thiền sư vỗ vai chàng võ sĩ. “Bây giờ chẳng còn điều gì có thể làm phiền anh,” thầy nói. “Anh là những đợt sóng đó. Anh sẽ quét sạch mọi thứ trước mặt anh.”

Ngày đó O-nami thi đấu và thắng. Từ đấy, không còn ai ở Nhật có thể thắng O-nami.

Bình:

• Tất cả các võ sư đều biết rằng, khi đấu, nếu tài và sức chỉ hơn nhau một 8 một 10, thì quyết tâm và bình tĩnh quyết định thắng bại đến 70%, 20% là may rủi, và 10% là tài và sức.

Đa số mọi phấn đấu của ta về mọi vấn đề trên đời cũng đều như thế.

• O-nami ra trước đám đông bị “cái lo” về đám đông làm tư tưởng không tập trung được—Không biết họ có cười mình mập quá không? Hay là họ chê mình đấu dở?

• Thiền sư chỉ O-nami cách tập trung tư tưởng vào MỘT điều duy nhất—hình ảnh các đợt sóng. Đây là bước căn bản đầu tiên của thiền định–tập trung vào MỘT điều duy nhất: hơi thở, hay bước đi, hay các hành động rửa bát, hoặc quét nhà, v.v… Tư tưởng tập trung vào một điều sẽ không chạy tán loạn.

• Dùng hình ảnh Sóng Lớn ở đây để tập trung tư tưởng còn có thêm hai điều lợi. Thứ nhất, đây là tên của O-nami, rất quen thuộc với anh, dễ tập trung tư tưởng. Thư hai, đây là hình ảnh mạnh mẽ chiến thắng. Tốt cho võ sĩ xông trận. Vị thiền sư này đúng là thầy rất giỏi về thiền định, nên cho bài học một công hai ba chuyện.

• Ngồi thiền thường là như thế: Ban đầu cứ “nghĩ đến rất nhiều chuyện”, rồi tư tưởng mới tập trung vào hình ảnh mình đang “quán” từ từ, càng lâu càng mạnh và càng rõ.

• Ảnh hưởng đổi đen thành trắng trong chỉ một đêm như ở đây, thì hơi hiếm. Thông thường ta cần nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm… tùy theo vấn đề, mức độ, và cơ duyên.

• Việc O-nami “quán” mình thành sóng đánh trôi hoa trên bàn thờ và nhận chìm luôn cả tượng Phật là một căn bản triết l‎ý rất quan trọng của Phật học: Phật ở trong ta, không có Phật ở ngoài. Câu của ngài Lâm Tế “phùng Phật sát Phật” (gặp Phật giết Phật) có nghĩa là thế: Không có Phật ngoài ta. (Nếu có vị Phật sống đi ngoài đường thì điều đó cũng chẳng quan trọng và ăn nhập gì tới mình cả).

Phật sống còn không có ngoài ta, huống chi là tượng Phật. Tượng để thờ tự chỉ là tượng gỗ giúp ta tập trung tư tưởng thôi, chẳng nghĩa lý gì cả. Thiền tổ Đơn Hà bảo một vị sư chẻ tượng Phật làm củi sưởi ấm, là để đánh đổ cái “chấp” vào tượng của sư.

Đừng hướng ý ra tượng ảnh hay Phật ở ngoài. Phật là tâm ta. Hướng vào tâm ta để tâm thanh tịnh thành Phật.

• Giác ngộ như là một cơn sóng thần dánh dạt tất cả vướng mắc trong tâm–hoa trên bàn thờ, tượng Phật, chùa chiền, đền đài lăng tẩm, tất cả thế giới, tất cả vũ trụ…

Không một mảy may vướng mắc sót lại. Tâm rỗng lặng hoàn toàn.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Great Waves

In the early days of the Meiji era there lived a well-known wrestler called O-nami, Great Waves.

O-nami was immensly strong and knew the art of wresting. In his private bouts he defeated even his teacher, but in public was so bashful that his own pupils threw him.

O-nami felt he should go to a Zen master for help. Hakuju, a wandering teacher, was stopping in a little temple nearby, so O-nami went to see him and told him of his great trouble.

“Great Waves is your name,” the teacher advised, “so stay in this temple tonight. Imagine that you are those billows. You are no longer a wrestler who is afraid. You are those huge waves sweeping everything before them, swallowing all in their path. Do this and you will be the greatest wrestler in the land.”

The teacher retired. O-nami sat in meditation trying to imagine himself as waves. He thought of many different things. Then gradually he turned more and more to the feeling of waves. As the night advanced the waves became larger and larger. They swept away the flowers in their vases. Even the Buddha in the shrine was inundated. Before dawn the temple was nothing but the ebb and flow of an immense sea.

In the morning the teacher found O-nami meditating, a faint smile on his face. He patted the wrestler’s shoulder. “Now nothing can disturb you,” he said. “You are those waves. lYou will sweep everything before you.”

The same day O-nami entered the wrestling contests and won. After that, no one in Japan was able to defeat him.

#8

Lời nguyện Giáng Sinh

Chào các bạn,

Còn một tuần nữa là Giáng Sinh, nhưng mùa Giáng Sinh đã bắt đầu từ hôm Lễ Tạ Ơn ngày 26 tháng 11.

Để không khí mùa tình yêu thấm đượm Vườn Chuối, hôm nay chúng ta hãy cũng chia sẻ hai lời nguyện Giáng Sinh, một của thi sĩ lớn của thế giới người Scotland, Robert Louis Stevenson, và bài kia là của Martin Luther, vị linh mục ly khai, khởi xướng luồng tư tưởng mới trong Thiên chúa giáo ở thế kỷ 16, lập nên nhánh Thiên chúa giáo mới, gọi là Tin Lành ngày nay. Nhánh Tin Lành trực tiếp đến từ Martin Luther là Lutheran. Mình đã dịch hai bài này sang tiếng Việt.

Chúc các bạn và gia đình một mùa Giáng Sinh an hòa.

Mến,

Hoành

.

Lời Nguyện Giáng Sinh của Robert  Louis Stevenson

Hỡi chúa từ nhân, giúp chúng con nhớ ngày sinh của Chúa Giêsu
để chúng con có thể cùng hát ca với các thiên thần,
cùng mừng vui với những mục đồng,
và cùng thờ phụng với các hiền triết.
Hãy đóng cánh cửa thù hận
và mở cánh cửa tình yêu khắp thế giới.
Hãy cho nhân ái đến với mỗi món quà và thiện tâm đến với mỗi lời chúc tụng.
Hãy cứu chúng con khỏi sự dữ bằng hồng ân Chúa Kitô mang đến,
và dạy chúng con biết sướng vui với quả tim tinh khiết.
Xin buổi sáng Giáng Sinh sẽ làm chúng con mừng vui được là con của Chúa,
và đêm Giáng Sinh đưa chúng con vào giường với tâm ý tạ ơn,
thứ tha, và được tha thứ,
vì danh chúa Giêsu.
Amen

(Trần Đình Hoành dịch)

A Christmas Prayer by Robert Louis Stevenson

Loving God, Help us remember the birth of Jesus,
that we may share in the song of the angels,
the gladness of the shepherds,
and worship of the wise men.
Close the door of hate
and open the door of love all over the world.
Let kindness come with every gift and good desires with every greeting.
Deliver us from evil by the blessing which Christ brings,
and teach us to be merry with clear hearts.
May the Christmas morning make us happy to be thy children,
and Christmas evening bring us to our beds with grateful thoughts,
forgiving and forgiven, for Jesus’ sake. Amen.

Robert Louis Stevenson

Lời Nguyện Giáng Sinh của Martin Luther

Ô Giêsu dấu yêu, con thánh,
Hãy làm giường ngài sạch và êm
Trong tim con để tim trở thành
Phòng tĩnh lặng cho ngài ngày đêm

Tim con nhảy với từng niềm vui
Môi con không còn yên được nữa
Con phải hát với lời vui sướng
Bài hay nhất từ thuở nghìn xưa

Vinh danh Chúa trên các tầng trời
Giao hài nhi cho người trần trế
Thiên thần ca thánh hạnh muôn nơi
Năm mới vui cho toàn thế giới

(Trần Đình Hoành dịch)

Christmas Dinner prayer by Martin Luther

Ah, dearest Jesus, holy Child,
Make thee a bed, soft, undefiled,
Within my heart, that it may be
A quiet chamber kept for Thee.

My heart for very joy doth leap,
My lips no more can silence keep,
I too must sing, with joyful tongue,
That sweetest ancient song,

Glory to God in highest heaven,
Who unto man His Son hath given
While angels sing with pious mirth.
A glad new year to all the earth!

Nghệ sĩ mù vẽ tranh – John Bramblitt

Khoảng 17 học sinh lớp 3 của trường tiểu học Lee ngồi bịt mắt xung quanh bàn trong lớp học vẽ ngày thứ 5. Trước mặt các là những tờ giấy trắng với 4 cốc sơn – đỏ, vàng, xanh da trời, và trắng. Mỗi mầu có tính chất riêng nên học sinh có thể cảm nhận được sự khác biệt khi chúng vẽ.

Trước khi bị bịt mắt, các học sinh chọn một tờ giấy trắng hoặc một bức tranh đã có vài đường phác họa. Chúng bắt đầu cười rúc rích khi bắt tay vào vẽ:

Tớ thấy cái này kì cục quá”

“Cái này như cát ý”

“Tớ đang dùng màu gì thế này?”

“Cái này cứng quá”

“Dừng lại”, cô giáo của lớp, Ann Mehr nói. Nhưng cô không mắng. Cô chỉ muốn chúng sử dụng các giác quan của mình. “Các em có nghe thấy tiếng vòi nước chảy không?”, cô hỏi, “Các màu khác nhau thì cảm nhận thế nào?”.

Các học sinh của cô Mehr đang học cách cảm nhận màu sắc mà không cần nhìn, giống như nghệ sĩ John Bramblitt làm mỗi ngày. Sau khi bị mù vì chứng epilepsy, Bramblitt, 37 tuổi, đã chính thức mù vĩnh viễn từ năm 2001. Kể từ đó, nghệ sĩ từ Denton, Texas này đã phát triển một thị lực khác. Các bức tranh của anh đã giúp anh có được sự chú ý trên cả nước, và anh đến thăm Columbia tuần này để phát biểu trong hội thảo và nói chuyện với các nghệ sĩ khuyết tật.

“Vẽ tranh đang giúp tôi nhìn”, Bramblitt nói sau khi làm việc với các học sinh của cô Mehr. “Thế giới này có nhiều màu sắc [hơn thế], và khi thời gian trôi đi, chúng càng sáng lên dần dần”.

Trong buổi hội thảo với các lớp của cô Mehr, Bramblit giải thích cho các sinh viên vì sao anh bị mù và điều đó đã thay đổi cuộc đời anh và nghệ thuật như thế nào.

“Tất cả các bạn dùng mắt để nhìn”, anh nói với lũ trẻ, “Tôi cũng làm như vậy, nhưng tôi làm với đôi bàn tay”.
Để vẽ được một tranh, Bramblitt bắt đầu phác thảo bằng việc dùng loại sơn cứng dành cho vải vẽ. Khi sơn này khô đi, anh có thể cảm nhận được các đường hoạc của bức tranh với các ngón tay. Anh nói rằng vì các loại sơn dầu mầu khác nhau sẽ có các kết cấu khác nhau và tính dính khác nhau. Anh có thể xác định được các màu sơn chỉ bằng cách sờ lên chúng. Trong buổi họp báo ngày thứ 4 với các giáo viên, Bramblitt nói màu anh thích dùng nhất khi vẽ là màu xanh da trời sáng, là hỗn hợp của màu trắng và xanh đậm.

“Nó như kem vậy”, anh nói, “cảm giác mềm như da người, mượt và thật thú vị”

Vào ngày thứ 5, sau khi nghe về các phương pháp, học sinh bị bịt mắt lại và yêu cầu dùng các giác quan của mình để vẽ tranh. Mỗi màu tranh có một chất phụ gia, như là cát hay là bột, vì để học sinh có thể phân biệt được.

Praise Tyler, một học sinh lớp 3 thiết kế một hệ thống khác để phân chia các màu của mình thành 4 điểm của chiếc la bàn.

“Màu đỏ là ở phía bắc, nên em biết nó ở đâu”, Praise nói, “và màu xanh bên cạnh nó”

Sau khi Praise đã vẽ xong tranh của mình, em nói “Em rất vui vì anh ấy đã dạy chúng em cái này. Em muốn vẽ một bức nữa”.

Bramblitt là một trong số những người đã làm thay đổi lịch sử nước Mỹ và các học sinh đã được biết đến những người làm thay đổi lịch sử là người khuyết tật.

“Điều đó cho thấy rằng tất cả chúng ta đều có thể tạo nên sự khác biệt, dù là khuyết tật như thế nào”, cô Mehr nói sau lớp học ngày thứ 5. “Chắc chắn là có anh John ở đây là một kinh nghiệm thực tế cho các em học sinh thây rằng mỗi người đều có thể tạo nên một sự khác biệt”.

Sau đây mời các bạn xem một clip ngắn về anh John Bramblitt xem anh đã dùng tay để cảm nhận và vẽ như thế nào nhé.

Chúc các bạn một ngày thật sáng,

Hoàng Khánh Hòa, dịch từ Bramblitt.net

Thông báo

Vào ngày cuối cùng của đời mình, thiền sư Tanzan viết 60 bưu thiếp, nhờ một người trợ lý gởi đi. Rồi thiền sư qua đời.

Các tờ bưu thiếp viết:

Tôi đang rời xa thế giới này.
Đây là thông báo cuối cùng của tôi.

    Tanzan
    27 tháng 7 năm 1892

Bình:

• Theo truyền thống Phật gia, con người có thể chủ động về sự chết của mình. Chọn ngày giờ đi và cách đi. Hai cách thường dùng nhất là thiền định nhịn ăn, và tự thiêu… và theo truyền thuyết có thể có những cách ít người biết được.

Chủ động về cái chết của chính mình được xem như là một sự kiện lớn đánh dấu tự do của con người. Ta không chủ động được sanh, nhưng ít ra ta cũng chủ động tử.

Trong các truyền thống khác, như Thiên chúa giáo chẳng hạn, con người không có quyền tự kết liễu đời mình—sinh và tử là quyền của thượng đế.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

Announcement

Tanzan wrote sixty postal cards on the last day of his life, and asked an attendant to mail them. Then he passed away.

The cards read:

I am departing from this world.
This is my last announcement.

    Tanzan
    July 27, 1892

Phúc cho người nghèo khó trong tâm linh…

Chào các bạn,

Người thấy mình nghèo khó trong tâm linh (poor in spirit) là người thấy mình thiếu thốn và yếu đuối về tinh thần, thấy mình không đứng vững trước khó khăn thử thách cám dỗ, thấy mình không hoàn thiện. Đây là một thái độ khác với thái độ của những người tự xem là mình đạo đức (self righteous), tự đầy đủ (self sufficient), và không cần ai giúp đở.

Nghèo khó trong tâm linh là khiêm tốn và nhìn nhận yếu kém của mình. Câu mở đầu của Bài Giảng Trên Đồi nổi tiếng của Chúa Giêsu là “Phúc cho người nghèo khó trong tâm linh, vì Nước Thiên Đàng là của họ.”

Nhiều người thường nghĩ Niết Bàn hay Thiên Đàng là một nơi đâu đó rất sung sướng, ta đi thang máy đến :-). Nhưng đương nhiên là chúng ta đều có thể thấy được Niết Bàn hay Thiên Đàng ở trong tâm ta—tâm an lạc thường hằng.

Muốn có được Thiên Đàng, muốn có tâm an lạc, ta phải “nghèo khó trong tâm linh”, tức là nhìn nhận cái tôi yếu đuối, dễ trượt chân, dễ ngã, dễ sai của mình… Khi chúng ta đủ khiêm tốn để nhận thấy điều đó thì “Nước Thiên Đàng là của ta”—đã đến Thiên Đàng chưa thì chưa biết, nhưng chắc chắn là đã sở hữu được Thiên Đàng. Và đương nhiên là khi ta đã thấy được ta nghèo khó trong tâm linh, ta sẽ hướng lòng đến Thượng đế xin sức mạnh tâm linh từ Thượng đế, nguồn lực vô tận.

Điều này rất giống với câu mở đầu Bát Nhã Tâm Kinh của Phật gia: Khi Bồ tát Quán-tự-tại thấy được “ngũ uẩn”, tức là “tôi”, là Không, ngài liền vượt mọi khổ nạn. Khi “cái tôi”, “cái ngã”, tiêu tan, con sóng nhỏ “tôi” trở về với đại dương Sự Thật, và sức mạnh của con sóng nhảy nhót phù du giờ đây là sức mạnh của cả đại dương tĩnh lặng.

Tất cả mọi truyền thống tâm linh trên thế giới đều đặt tất cả tập trung vào việc giảm cái tôi, xóa bỏ cái tôi, và xem đó là điều kiện cực kỳ chính yếu để có được hạnh phúc an lạc trong tâm.

Đằng khác, cả một đời ta, ta đã được giáo dục và đã cố gắng từng phút từng giờ để tăng cái tôi của mình lên: học cố được hạng nhất, thi cố vào trường nổi tiếng, cố giật giải này giải kia thường xuyên, giải càng lớn càng tốt, có báo chí nhắc tên càng nhiều càng tốt, càng nổi tiếng càng làm cho bố mẹ nở mày nở mặt, họ hàng thơm lây, bằng cấp càng cao càng tốt, nhà càng to xe càng xịn càng tốt, sống là phải có danh gì vói núi sông…

Chúng ta lớn lên với những khái niệm đó cho nên chúng ta quen cạnh tranh, tranh giành, ganh tị, đố kỵ, ghen ghét…

Đúng là con người không sinh ra như thế–nhân chi sơ tính bản thiện– nhưng chúng ta được giáo dục cả đời để trở thành như thế…

Hèn chi mà Chúa Giêsu nói: Muốn vào nước Thiên Đàng thì phải như trẻ em. Tức là, phải “xóa bỏ” tất cả những gì mình đã học được mấy mươi năm trong khi trở thành người lớn, để trở lại quả tim giản đơn và tinh tuyền lúc mới sinh ra. Và bước đầu tiên của tiến trình “trở lại tâm thơ ấu” đó là phải nhận ra rằng mình “nghèo khó trong tâm linh.”

Đây cũng là tiến trình đi ngược về nguyên thủy mà nhà Phật gọi là “vô chấp”, xả bỏ tất cả các ‎thứ và các ý niệm ta đã giành giật và ôm chặt cả đời, để trở về bản tính tinh tuyền nguyên thủy.

Thật là thú vị! Các vị thầy lớn của thế giới về những vấn đề sâu thẳm của quả tim con người, ở những thời đại khác nhau, tại những vùng khác nhau trên thế giới, đều đồng ‎ý về điều kiện căn bản nhất để mang lại an lạc cho quả tim con người: ‎ Khiêm tốn. Dẹp bỏ cái tôi.

Và cũng rất thú vị là mọi nền giáo dục của thế giới đều đi ngược lại các vị thầy lớn và dạy chúng ta xây dựng cái tôi vĩ đại!

Có lẽ là chỉ sau khi đã tốn cả đời xây dựng cái tôi cho lớn, chúng ta mới thực sự trải nghiệm rằng cái tôi không mang lại an lạc, và cái tôi càng lớn ta càng đau khổ. Lúc hiểu được như vậy, ta mới hiểu được tại sao phải xóa bỏ cái tôi. Cũng như tất cả mọi loại nghệ thuật ở đời—vẽ, nhạc, viết, võ…–lúc mới học thầy dạy đủ mọi qui luật phải tuân theo từ tí, đến lúc bắt đầu trở thành sư phụ mới được thầy dạy thêm: Bỏ hết tất cả qui luật đã học đi, cứ tự nhiên mà viết, mà vẽ, mà hát…

Muốn vào Nước Thiên Đàng thì phải như trẻ em.

Phúc cho người nghèo khó trong tâm linh, vì Nước Thiên Đàng là của họ.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Hãy là người phụ nữ như thế

Chào các bạn,

Hôm nay mình xin giới thiệu với các bạn một clip ngắn gọi là “Be That Woman” nhấn mạnh vai trò quan trọng của người phụ nữ trong xã hội. Clip này được xây dựng dựa trên hai “tiền đề” được biết đến rộng rãi:

Nếu bạn đầu tư vào một người phụ nữ hay một cô gái, khoản đầu tư đó đem lại lợi ích cho tất cả.
~If you invest in a woman or girl, the investment benefits all.

Nếu bạn đầu tư vào một cô gái, cô ấy sẽ làm những điều còn lại.
~If you invest in a girl, she will do the rest.

Clip này thuộc chương trình vận động của tổ chức Washington Area Women’s Foundation nhằm tăng cường trao quyền và giúp đỡ cho hơn 300,000 phụ nữ ở khu vực thủ đô Washington, Mỹ.

Các hoạt động chính của tổ chức này bao gồm:

– mở rộng hoạt động từ thiện do phụ nữ đảm trách
– tăng cường các hoạt động từ thiện giúp thay đổi cộng đồng
– cung cấp các khoản trợ cấp, các nguồn hỗ trợ hoạt động và kĩ thuật cho cộng đồng trong vùng, nhất là các phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập hoặc thất nghiệp
– đại diện cho tiếng nói của phụ nữ trong vùng

Ở Mỹ các tổ chức như thế này hoạt động rất mạnh, và các chương trình vận động của họ cũng bài bản. Ngoài liên tục cập nhật thông tin trên website, mỗi dịp vận động họ có thể in tờ rơi, các bumper sticker (miếng dán) để mọi người có thể dán lên xe ô tô hay bất cứ thứ gì mà mọi người đều nhìn thấy, các tranh ảnh, áp phích to vv…Các video clip là một cách để vận động qua mạng rất tốt.

Chúc các bạn một ngày vì phụ nữ 🙂

Hoàng Khánh Hòa

Lời nguyện cho trẻ em

Chúa ơi,

Hãy giúp đỡ trẻ em
của thế giới này.

Chúng bị tổn thương và đang tổn thương

Và bị đè nát bên dưới sức nặng

của sự điên rồ của chúng con.

Hãy ban phước cho các em,

và đánh thức chúng con

trước khi quá muộn.

AMEN

~Marianne Williamson

Nguyễn Minh Hiển dịch

.

Dear God,

Please help the children

of this world.

They are hurt and hurting

And are crushed beneath the weight

of our insanity.

Please bless the children,

and awaken us

before it is too late.

AMEN

Không có từ tâm

Một người phụ nữ ở Trung Quốc đã cấp dưỡng một vị sư hơn 20 năm. Bà đã làm một chòi nhỏ cho sư và lo việc ăn uống khi sư thiền định. Cuối cùng bà thắc mắc là không biết vị sư đã tiến bộ được gì trong suốt bao nhiêu năm.

Để tìm câu trả lời, bà nhờ một cô gái đầy ham muốn giúp một tay. “Vào ôm ông,” bà bảo cô gái, “rồi hỏi đột ngột: ‘Làm gì bây giờ?’ ”

Cô gái vào gặp sư và, chẳng nề hà gì, đến vuốt ve sư, hỏi sư phải làm thế nào về việc đó.

“Một cây mọc trên tảng đá trong mùa đông,” vị sư trả lời đầy thi vị. “Chẳng nơi đâu có hơi ấm.”

Cô gái trở về và báo cáo lại điều sư nói.

“Nghĩ đến việc tôi nuôi ông này cả 20 năm!” bà than một cách giận dữ. “Ông ta chẳng tỏ vẻ gì quan tâm đến nhu cầu của cô, chẳng hề muốn giải thích tình trạng của cô. Ông ta không cần phải đáp lại ham muốn, nhưng ít ra ông ta cũng phải tỏ lộ được một tí từ tâm.”

Bà liền đi ngay đến chòi của vị sư và đốt nó.

Bình:

* Đoạn nhà sư nói thế này:

Cô gái vào gặp sư và, chẳng nề hà gì, đến vuốt ve sư, hỏi sư phải làm thế nào về việc đó.

“Một cây mọc trên tảng đá trong mùa đông,” vị sư trả lời đầy thi vị. “Chẳng nơi đâu có hơi ấm.”

Ý nhà sư nói, Tôi như là một cây mọc trên đá trong mùa đông, rất lạnh lùng, chẳng có hơi ấm nào nơi tôi, chẳng có xúc cảm nào nơi tôi, cô đừng mất công vô ích.

Đây là thái độ mà ta gọi là “con tim chai đá” chẳng còn một tí cảm xúc nào hết. Và đây là lầm lỗi rất nhiều người có về Thiền, kể cả một số thiền sư. Tức là họ tập “thiền” để chỉ làm cho con tim không còn bị xúc động bởi tất cả mọi điều trên đời.

Nhưng nếu thế thì “tâm từ bi” của Bồ tát làm sao mà có được?

Bồ tát có tâm từ bi, cảm xúc được từng nỗi đau rất nhỏ của con người. Vì vậy mà Bồ tát luôn luôn hộ trì, độ người qua khổ nạn.

Tâm Thiền là tâm cực kỳ nhậy cảm, nhậy cảm với những nỗi đau nỗi khổ dù là rất nhỏ của sinh linh.

Ở đây ta có một cô gái muốn một nhà sư (dù là bên ngoài). Trong bài có nói đây là một cô gái “đầy ham muốn”. Đó là một cái khổ. Thích một nhà sư là một điều rất khổ cho một cô gái. Nhà sư không thích cô gái theo kiểu nam nữ, nhưng ít ra phải cảm xúc được cái khổ của cô, để mà có một tí từ tâm. Biểu lộ từ tâm đó với cô ta bằng cách nào thì tùy theo trường hợp, nhưng có lẽ không phải là cách kiêu kỳ, chẳng nói một chữ về cô ta, mà chỉ tự ví mình là cây mọc trên tảng đá giữa mùa đông. Một lối trả lời rất nhắm vào “cái tôi” thay vì lo lắng cho người kia.

Ở đây ta thấy sự liên hệ giữa tâm chai đá và cái tôi (ngã mạn). Người có tâm chai đá chỉ quan tâm đến họ và chẳng quan tâm đến ai khác.

Bồ tát không quan tâm đến mình, mà quan tâm đến người khác. Đó là Thiền thật sự.

* Người ta thường nhầm lẫn tâm tĩnh lặng của Thiền và tâm chai đá. Tâm tĩnh lặng là mặt nước hồ thu tĩnh lặng, không phải là một tảng đá chết lặng.

Một viên sỏi rất nhỏ cũng làm mặt hồ gợn sóng. Tâm tĩnh lặng rất nhậy cảm với mọi cảm xúc ở đời, nhậy cảm hơn tâm trung bình rất nhiều. Nhưng Tâm tĩnh lặng có thể tự kiểm soát mình rất tốt, cho nên dùng các xúc cảm đó để làm điều thiện, làm thăng hoa cuộc đời.

Mặt khác, chạy ồ ạt theo xúc cảm buồn vui giận ghét của mình không phải là nhậy cảm, mà là không chỉ huy được cảm xúc và là nô lệ cho cảm xúc.

* Bà lão nổi giận vì tốn công nuôi ông sư này 20 năm mà ông ta chẳng hiểu gì về Thiền, về tĩnh lặng, và từ tâm cả. Sự nổi giận của bà lão và con số 20 năm là để nhấn mạnh điều là có rất nhiều vị sư bị lạc về điểm này cả đời họ.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

No Loving – Kindness

There was an old woman in China who had supported a monk for over twenty years. She had built a little hut for him and fed him while he was meditating. Finally she wondered just what progress he had made in all this time.

To find out, she obtained the help of a girl rich in desire. “Go and embrace him,” she told her, “and then ask him suddenly: ‘What now?'”

The girl called upon the monk and without much ado caressed him, asking him what he was going to do about it.

“An old tree grows on a cold rock in winter,” replied the monk somewhat poetically. “Nowhere is there any warmth.”

The girl returned and related what he had said.

“To think I fed that fellow for twenty years!” exclaimed the old woman in anger. “He showed no consideration for your need, no disposition to explain your condition. He need not have responded to passion, but at least he could have evidenced some compassion.”

She at once went to the hut of the monk and burned it down.

Lệ thuộc hỗ tương

Chào các bạn,

Dù chúng ta có bao giờ nghĩ đến hay nói đến cụm từ “lệ thuộc hỗ tương” (interdependence) thì chúng ta vẫn đang sống trong một thế giới lệ thuộc hỗ tương, tức là mọi người, mọi quốc gia lệ thuộc lẫn nhau.

Trên phương diện kinh tế chính trị quốc tế, chúng ta đã quen với từ “toàn cầu hóa”. Người ở Mỹ, dùng chén bát từ Trung Quốc, máy chụp ảnh của Nhật, computers chỉ với Intel chip may ra là của Mỹ còn tất cả các cơ phận khác đều sản xuất từ Á Châu… Cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu vừa qua cho thấy khủng hoảng bắt đầu từ Mỹ đã lập tức lan ra khắp thế giới. Nói chung là vận mệnh các quốc gia ngày nay lệ thuộc vào nhau rất nhiều. Mô hình một hai quốc gia lớn đi chinh phục và thôn tính các nước nhỏ khắp nơi của ngày xưa, ngày nay không còn đứng vững nữa.

Bên cạnh thương mại và kinh tế xuyên quốc gia, AIDS, cúm gia cầm, cúm lợn, và có lẽ là tất cả mọi loại bệnh hay lây khác, cũng là vấn đề xuyên quốc gia. Khủng bố cũng là vấn đề xuyên quốc gia. Nguy cơ chiến tranh nguyên tử là vấn đề xuyên quốc gia. Sự tăng địa nhiệt và thay đổi khí hậu là vấn đề xuyên quốc gia.

Ngày nay, chẳng có vấn đề gì của một quốc gia mà lại không ảnh hưởng đến các quốc iga khác không ít thì nhiều. Vì vậy, “lệ thuộc hỗ tương” trở thành khái niệm quản lý căn bản trong chính trị cũng như kinh tế.

Và, trong đời sống của mỗi cá nhân.

Cách đây không lâu lắm, trong thập niên 60, 70 và 80, người ta chỉ nói đến “độc lập” và “tôi”– “Tôi, của tôi, và cho tôi” là trung tâm của vũ trụ. Ngày nay, sau 3 thập niên “tôi”, người ta khám phá ra rằng đó là cách sống ích kỷ, không thực tế, và không hiệu lực. Thế hệ “tôi” hippy của thập niên 60, ngày nay đã lớn tuổi và học được rất nhanh là họ không thể sống một mình mà phải lệ thuộc vào con cháu, viện dưỡng lão, hay ai đó. Và thế hệ “tôi” thay đổi tư tưởng thành thế hệ “lệ thuộc hỗ tương.”

Nhưng đây không phải là điều gì mới lạ. Người đông phương, cho đến ngày nay vẫn sống lệ thuộc hỗ tương giữa các thành viên trong gia đình, và văn hóa “tôi” chưa bao giờ thực sự mạnh ở đông phương. Trong vòng mấy ngàn năm nay, lệ thuộc hỗ tương là một phần đương nhiên của văn hóa Phật giáo, trong đó tất cả mọi loài mọi thứ mọi điều trong vũ trụ là Một, liên hệ cực kỳ chặt chẻ với nhau—một tiếng gảy móng tay có thể rung động đến vô lượng thế giới.

Điều này, trên phương diện luận ‎lý, chẳng có gì là khó hiểu. Trong một hồ nước vĩ đại, một con cá chết đầu này hồ có thể ảnh hưởng đến mọi con cá khác trong hồ, cho đến tận đầu kia của hồ, nếu con cá vừa chết đã chết vì một bệnh dịch nào đó. Trong Thái dương hệ, nếu một hành tinh nào đó, Mars chẳng hạn, nổ tung thì đương nhiên là mọi hành tinh khác đều bị hỗn loạn đường bay, có khi văng luôn ra khỏi Thái dương hệ không biết chừng. Một thiên hà nào đó gần Ngân Hà nổ tung, chắc là Ngân Hà và trái đất sẽ bị hỗn loạn cực kỳ, nổ tung theo không biết chừng…

“Lệ thuộc hỗ tương” là lẽ tất nhiên của vũ trụ và đời sống. Nhưng trong đời sống của chúng ta, chúng ta có hiểu rõ lý lẽ này, và có dùng nó như là nguyên lý sống hay không?

• Lệ thuộc hỗ tương có nghĩa là cho người khác lệ thuộc ta, cộng tác với người khác, giúp đở người khác, lo lắng và săn sóc người khác, quan tâm đến an nguy và thành công của người khác, đưa vai cho người mệt mỏi tựa vào mình…

• Nhưng quan trọng hơn nữa, lệ thuộc hỗ tương là nhận sự cộng tác, sự giúp đở, của người khác. Gõ cửa người khác nhờ giúp sức khi cần. Khiêm tốn nhờ người khác giúp đở. Hỏi sự giúp đở của người khác là một hành động khiêm tốn. Người nhiều kiêu hãnh và tự ái vặt sẽ nói, “Tôi giúp người khác thì được, nhưng tôi không muốn nhận sự giúp đở của người khác.” Sự thật thì, đối với đa số chúng ta, giúp đở người khác dễ hơn nhờ người khác giúp đở mình, vì… cái tôi luôn luôn đứng đó cản đường.

• Lệ thuộc hỗ tương còn có nghĩa là teamwork, làm việc nhóm. Lệ thuộc hỗ tương là biết hỗ trợ người khác trong team và lệ thuộc vào người khác trong team. Trong các kỹ năng làm việc, thì teamwork có lẽ là kỹ năng yếu nhất của người Việt. Rất nhiều chuyên gia Việt khi làm việc chỉ thích cắm đầu cắm cổ làm một mình, không thích bàn luận thường xuyên với người khác, sợ người ta cho là mình dốt cần vay mượn ý của họ. Khi làm việc, họ không muốn cho thủ lĩnh hay các bạn trong team biết mình đang làm gì, sợ người khác xía vào ‎ý của mình. Các vị đó, không biết rằng người giỏi teamwork thường cầu mong người khác “xía” thêm ý‎ kiến vào việc của mình. Muốn được thêm ý‎ kiến thì khó, chứ khư khư bịt tai không muốn nghe ai là chuyện rất dễ.

Người ta thường nói làm việc nhóm là một kỹ năng. Đúng thế. Nhưng trước khi là một kỹ năng, nó phải là một thái độ–thái độ khiêm tốn, luôn luôn muốn chia sẻ suy nghĩ và kế hoạch của mình với mọi người, luôn luôn muốn được có thêm ‎ý kiến của mọi người để làm giàu cho tư duy của mình, luôn luôn muốn biết các người khác trong nhóm đang làm gì, và muốn cả nhóm biết mình đang làm gì… Đó là thái độ của một cầu thủ trên sân bóng, chỉ thấy đội, đội và đội–không còn thấy cái tôi biệt lập của mình nữa, mà chỉ thấy mình cùng đồng đội hoạt động cực kỳ ăn ý cho chiến thắng.

Chúc các bạn môt ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com