The A*STAR Pre-Graduate Scholarship (PGS) provides a headstart for bright young undergraduates keen to pursue their PhD studies and embark on a research career. Awardees from National University of Singapore (NUS) and Nanyang Technological University (NTU) can look forward to research attachments at A*STAR’s Research Institutes with state-of-the-art facilities and be part of A*STAR’s community of diverse and renowned scientists and researchers.
The Korean Government Scholarship Program is designed to provide higher education in Korea for international students in order to promote international exchange in education and mutual friendship between the participating countries.
*
Master’s : 3 yrs. (01.09.2010 ~ 31.08.2013) – 1 yr. of Korean language + 2 yrs. of Master’s
*
Doctoral : 4 yrs. (01.09.2010 ~ 31.08.2014) – 1 yr. of Korean language + 3 yrs of Doctoral
*
Integrated Master’s & Doctoral : 5 yrs. (01.09.2010 ~ 31.08.2015) – 1 yr. of Korean language + 4 yrs. of Integrated Master’s & Doctoral
Một Hiệp Sĩ Đạo thượng thừa tên Nobunaga quyết định tấn công quân địch dù quân số của ông chỉ bằng một phần mười số quân bên địch. Ông biết rằng ông sẽ thắng, nhưng quân của ông thì rất nghi ngại.
Trên đường đi ông ghé vào một đền thờ Thần đạo và nói với lính của của ông: “Sau khi ta viếng đền ta sẽ thẩy đồng bạc cắc. Nếu là đầu, chúng ta sẽ thắng; nếu là đuôi, chúng ta thua. Định mệnh nắm chúng ta trong tay ngài.”
Nobunaga vào đền thờ và cầu nguyện thầm lặng. Rồi ông bước ra và thẩy đồng bạc. Đầu hiện ra. Lính của ông hăng chiến đấu đến mức họ thắng trận chiến thật dễ dàng.
“Không ai có thể thay đổi bàn tay định mệnh,” người hầu cận của Nobunaga nói với ông sau cuộc chiến.
“Đúng vậy, không ai có thể,” Nobunhaga nói, cho anh hầu cận thấy đồng bạc cắc với cả hai mặt đều là “đầu”.
.
Bình:
• Tất cả các hình thức lễ bài thần thánh chung qui cũng chỉ là các hiện tượng tâm lý cho con người. Định mệnh của ta nằm trong ý chí của ta, dù ta biết điều đó hay không.
Kinh Pháp Cú mở đầu: “Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo.”
(Trần Đình Hoành bình)
.
In the Hands of Destiny
A great Japanese warrior named Nobunaga decided to attack the enemy although he had only one-tenth the number of men the opposition commanded. He knew that he would win, but his soldiers were in doubt.
On the way he stopped at a Shinto shrine and told his men: “After I visit the shrine I will toss a coin. If heads comes, we will win; if tails, we will lose. Destiny holds us in her hand.”
Nobunaga entered the shrine and offered a silent prayer. He came forth and tossed a coin. Heads appeared. His soldiers were so eager to fight that they won their battle easily.
“No one can change the hand of destiny,” his attendant told him after the battle.
“Indeed not,” said Nobunaga, showing a coin which had been doubled, with heads facing either way.
MS/PhD scholarships at SEARCA-Invitation to Apply for SY 2011-2012
The Southeast Asian Regional Center for Graduate Study and Research in
Agriculture (SEARCA) invites applications for its graduate scholarship (MS and
PhD) in agriculture and related fields (including biological sciences, social
sciences, economics and statistics, forestry and fisheries, environmental sciences,
agro-industrial technology and engineering, biochemistry, and development
management) for School Year 2011-2012. The scholarship is open to nationals of
Brunei Darussalam, Cambodia, Indonesia, Lao PDR, Malaysia, Myanmar, the
Philippines, Singapore, Thailand, Timor-Leste, and Vietnam who are regular
employees of academic or research institutions or government agencies and not
older than 35 years old.
Ngày Quốc tế Phụ Nữ (mồng 8 tháng 3) là một dịp được ghi dấu bởi những hiệp hội phụ nữ trên toàn thế giới. Ngày này cũng được Liên Hiệp Quốc kỷ niệm và được xem như ngày lễ quốc gia ở nhiều nước. Khi phụ nữ trên tất cả các châu lục, bị chia cắt bởi những khác biệt về biên giới quốc gia, chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, kinh tế và chính trị, cùng nhau kỷ niệm Ngày của mình, họ có thể nhìn lại truyền thống tiêu biểu cho ít nhất chin thập kỷ đấu tranh vì sự bình đẳng, công bằng, hòa bình và phát triển.
Ngày Quốc tế Phụ nữ là câu chuyện về những người phụ nữ bình thường đã tạo nên những dấu ấn lịch sử; nó bắt nguồn từ cuộc đấu tranh hàng thế kỷ của phụ nữ để tham gia vào xã hội một cách bình đẳng như nam giới. Vào thời Hy Lạp cổ đại, Lysistrata đã khởi đầu một cuộc biểu tình của nữ giới yêu cầu chấm dứt chiến tranh; suốt Cách Mạng Pháp, những người phụ nữ Paris đã diễu hành ở Versailles, kêu gọi cho “Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái”, và đòi quyền được bỏ phiếu của phụ nữ.
Ý tưởng về Ngày Quốc tế Phụ nữ đầu tiên nảy sinh vào thời điểm chuyển đổi thế kỷ, khi thế giới công nghiệp đang trong giai đoạn bành trướng và hỗn loạn của bùng nổ dân số và các ý thức hệ cấp tiến. Sau đây là tóm tắt theo cột mốc thời gian những sự kiện quan trọng nhất: Đòi Quyền Phụ Nữ trước Nhà Trắng 1909
Cùng với tuyên bố của Đảng Xã Hội Mỹ, ngày Phụ nữ Quốc gia đầu tiên được kỷ niệm trên toàn Liên Bang Hoa Kỳ là ngày 28 tháng hai. Phụ nữ tiếp tục kỷ niệm nó đến ngày chủ nhật cuối cùng của tháng hai năm 1913.
1910
Quốc tế Xã hội họp tại Copenhagen, thiết lập một Ngày Phụ Nữ mang tính quốc tế để vinh danh phong trào đòi những quyền phụ nữ và hỗ trợ quyền bầu cử phổ thông cho phụ nữ. Đề nghị được chào đón với sự nhất trí tán thành tại hội nghị của hơn 100 phụ nữ đến từ 17 nước, gồm cả ba người phụ nữ đầu tiên được bầu vào quốc hội Phần Lan. Chưa có ngày cố định được chọn để kỷ niệm.
1911
Như kết quả của quyết định tại Copenhagen năm trước, Ngày Quốc tế Phụ nữ lần đầu tiên được ghi nhận (19 tháng ba) tại Áo, Đan Mạch, Đức và Thụy Sĩ, nơi hơn một triệu phụ nữ và nam giới tham dự đại hội. Bên cạnh quyền bầu cử và đảm nhiệm những công việc văn phòng chính phủ, họ đã yêu cầu quyền làm việc, học nghề và chấm dứt phân biệt trong công việc.
Chưa đầy một tuần sau đó, vào ngày 25 tháng ba, thảm họa tại Triangle Fire, New York đã lấy đi sinh mạng của hơn 140 nữ công nhân, phần lớn là những người nhập cư gốc Ý và Do Thái. Sự kiện này có một ảnh hưởng quan trọng đến luật lao động của Hoa Kỳ, và những điều kiện làm việc dẫn đến thảm họa đã được viện dẫn trong suốt những lễ kỷ niệm sau đó của Ngày Quốc tế Phụ Nữ.
1913-1914
Như một phần của phong trào hòa bình đã tích tụ từ buổi đêm của cuộc Chiến tranh Thế giới I, những người phụ nữ Nga kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ đầu tiên vào ngày chủ nhật cuối cùng của tháng hai năm 1913. Ở những nơi khác trên châu Âu, vào đúng ngày 8 tháng ba hoặc những ngày gần đó của năm sau đó, phụ nữ đã tập hợp để chống chiến tranh và để bày tỏ tinh thần đoàn kết giữa các chị em. Đòi Quyền Phụ Nữ ở Pakistan 1917
Với hai triệu người lính Nga tử trận, những người phụ nữ Nga một lần nữa đã chọn ngày chủ nhật cuối cùng của tháng hai để biểu tình vì “bánh mì và hòa bình”. Những nhà lãnh đạo chính trị phản đối thời điểm của cuộc biểu tình, nhưng những người phụ nữ vẫn tiến hành dù thế nào. Phần còn lại là lịch sử: Bốn ngày sau đó, Sa hoàng bị buộc thoái ngôi và chính phủ lâm thời đã trao cho phụ nữ quyền bầu cử. Ngày chủ nhật lịch sử đó là ngày 23 tháng hai theo lịch Julian được sử dụng ở Nga thời đó, nhưng là ngày 8 tháng ba theo lịch Gregorian ở những nơi khác.
Ngay từ những năm đầu, ngày Quốc tế Phụ nữ đã được xem như một chiều hướng mới trên toàn cầu cho phụ nữ ở các nước phát triển và đang phát triển. Sự lớn mạnh của phong trào phụ nữ quốc tế, được hỗ trợ bởi bốn hội nghị phụ nữ toàn cầu của Liên Hiệp Quốc, đã làm cho việc kỷ niệm trở thành một điểm tập hợp của những nỗ lực liên kết đòi quyền phụ nữ và sự tham gia vào quá trình chính trị và kinh tế. Càng ngày, ngày Quốc tế Phụ nữ là một thời điểm để nhìn lại những bước tiến đã qua, kêu gọi những thay đổi và kỷ niệm những hành động dũng cảm và quyết đoán của những người phụ nữ bình thường, những người đóng một vai trò đặc biệt trong lịch sử của quyền phụ nữ.
Vai trò của Liên Hiệp Quốc
Những mục tiêu được Liên Hiệp Quốc thúc đẩy đã tạo ra những ủng hộ mạnh mẽ và lan rộng hơn cho chiến dịch xúc tiến và bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ. Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, được ký tại San Francisco năm 1945, là hiệp định đầu tiên công bố bình đẳng giới như một nhân quyền cơ bản. Từ đó, tổ chức đã giúp tạo nên một di sản lịch sử về những chiến lược ưng thuận quốc tế, những tiêu chuẩn, chương trình và mục tiêu để nâng cao vai trò người phụ nữ trên toàn thế giới.
Trong nhiều năm, hoạt đông của Liên Hiệp Quốc vì sự tiến bộ của phụ nữ đã có bốn định hướng rõ ràng: thúc đẩy về những phương sách luật pháp, huy động ý kiến công chúng và hoạt động quốc tế; đào tạo và nghiên cứu, bao gồm biên soạn những thống kê về xóa bỏ phân biệt chủng tộc về giới và hướng đến hỗ trợ những nhóm bất lợi (khó khăn). Ngày nay, một nguyên tắc tổ chức trọng tâm của công việc ở Liên Hiệp Quốc là không có giải pháp dài hạn nào cho những vấn nạn gay cấn nhất của xã hội về mặt xã hội, kinh tế, chính trị có thể tìm thấy được nếu không có sự tham gia đầy đủ, và sự trao quyền đầy đủ của thế giới phụ nữ.
Có một người kia bị bệnh quên trầm trọng. Chiều đến, anh ta quên hết mọi việc anh làm trong ngày. Sáng hôm sau thì anh không còn nhớ điều gì anh đã làm tối hôm trước. Đang đi ngoài đường, anh không nhớ là mình đang đi. Ngồi ở nhà, anh không biết mình đang ở đâu. Những người thân trong gia đình rất buồn rầu và thất vọng vì đã thử nhiều phương pháp chữa trị nhưng không đạt kết quả. Sau cùng thì một thầy thuốc đến và tuyên bố rằng: “Tôi có cách chăm sóc người nầy. Hãy để một mình tôi với anh ta”. Và không biết thầy thuốc đã chữa trị bằng cách nào, nhưng người đó được chữa lành. Anh ta nhớ lại tất cả.
Được chữa lành, nhưng anh ta lại giận dữ mà rằng: “Trước kia, khi tôi không nhớ gì cả thì tinh thần tôi thoải mái và thanh thản. Bây giờ thì nặng nề quá, nào là những kỷ niệm đè nặng, nào là những năm tháng thành công và thất bại, những thiệt thòi cũng như thua kém, những vui sướng cũng như đau buồn, tôi đã nhớ hết. Rồi khi nhớ về quá khứ, tôi lại lo lắng cho tương lai. Tôi muốn có những giây phút không còn nhớ gì hết”.
Người mắc bệnh quên trên đây tức giận vì anh ta có lại trí nhớ, vì anh bị tước đi cái khả năng chạy trốn thực tại, chạy trốn những người chung quanh, chạy trốn anh em qua việc ẩn núp trong cái bệnh quên của mình.
Một chút Quan Tâm sẽ dẫn chúng ta đi rất xa. Chúng ta có thể học sống thực tế đơn giản qua việc quan sát những gì xảy ra chung quanh chúng ta – không loại trừ cũng không thêm bớt, không xét đóan. Không dán nhãn, không cần đánh giá tốt hay xấu. Đơn giản thấy cái nó LÀ.
Sự Quan Tâm làm cho cuộc sống trở nên thú vị và dễ chịu hơn. Vì chúng ta sẽ thấy thế giới không phải chỉ là một bóng đêm, nhưng có cái gì đó luôn luôn đổi mới. Nếu chúng ta có chút Quan Tâm đến những gì chung quanh, nơi đây và bây giờ, chúng ta sẽ nhận ra nơi mỗi con người, mỗi khoảnh khắc, ẩn náu những điều kỳ diệu mới.
Nhưng phần nhiều trong cuộc sống, chúng ta cảm thấy sự việc không như vậy. Khi chúng ta gặp người nầy người nọ, chúng ta “Thấy” họ sẽ thế nào và họ sẽ nói gì! Chúng ta ở trong một tình huống nào đó, chúng ta “Biết” là điều gì sẽ xảy ra. Có nghĩa là: rốt cuộc chúng ta sống dựa vào một quá khứ nghèo nàn, vì chúng ta không có được những đức tính thiết yếu của “bất ngờ và canh tân”. Và điều đó chỉ đem đến cho chúng ta sự nhàm chán. Như những người khách du lịch chỉ đi đến những nơi mà họ thấy trong quảng cáo, họ sẽ không khám phá ra được điều gì thực sự mới. Họ chỉ thấy được cái gì mà họ chờ đợi được thấy.
Sống Quan Tâm là điều kiện cần thiết để giao tiếp tốt đối với người khác. Quan Tâm là một ơn Chúa ban, và đó là một ơn rất quí. Và Quan Tâm có thể nói đó là một cử chỉ anh hùng. Bạn hãy nghĩ có giây phút nào đó khi bạn nói mà người ta không lắng nghe bạn như bạn mong đợi. Bạn hãy tưởng tượng khi bạn nói mà người đối diện ngoái nhìn chỗ khác một cách lơ đễnh hoặc đọc báo… Trong sự không Quan Tâm đó, có cái gì như phá hoại và khinh miệt làm cho bạn mất đi hào hứng và sự tin tưởng nơi bạn, làm cho bạn cảm thấy bạn không tồn tại và làm cho mặc cảm tự ti thầm kín trào dâng.
Sự Quan Tâm chính là một Nhân Đức. Đó là một cách tiếp đón kẻ khác, một cử chỉ mang lại cho họ sự sống. Quan Tâm đến kẻ khác là đặt những âu lo của mình, những cách nhìn của mình, những ước vọng của mình, những điều mình thích.. vào trong hai dấu ngoặc.
Quan Tâm có nghĩa là tỉnh thức. Nghĩa là ý thức được sự gì xảy ra chung quanh.Ví dụ thấy người mà chúng ta đang nói chuyện dường như đặc biệt xanh xao, hay anh ta mặc chiếc áo mới, hay anh ta vừa mới đi cắt tóc, hoặc anh ta ngủ không ngon giấc đêm qua hoặc ngược lại, ngày hôm nay thấy anh ta có gì rất vui… Nhờ vào những nhận định đó mà chúng ta có thể có cùng một “tần số” với người đối thoại và biết được điều mà chúng ta có thể làm cho họ.
Quan Tâm là một dạng Tử Tế và thiếu Quan Tâm là một cái gì hết sức thô lỗ, một sự bạo lực thầm kín. Bernard Shaw nói: “Tội lớn nhất đối với người đồng loại không phải là thù ghét họ mà là không quan tâm đến họ, đó là cốt lõi của tính vô nhân đạo”.
Người Châu phi có kể câu chuyện như sau: “Một ông Vua kia có một người vợ luôn luôn buồn rầu và đau yếu. Một ngày kia, ngài khám phá ra một người đánh cá nghèo nàn sống cạnh lâu đài, có một cô vợ mạnh khỏe và sống rất vui vẻ. Ông Vua hỏi người đánh cá rằng: “Bạn làn sao mà vợ anh sống vui vẻ quá như vậy?” Anh đánh cá trả lời: “Thưa rất đơn giản thôi, tôi nuôi vợ tôi bằng cái lưỡi”. Ông Vua mừng rỡ, nghĩ mình đã tìm ra được giải đáp tốt. Ngài đặt mua ở các cửa hàng thịt của triều đình, lưỡi cho vợ ông và bắt vợ ông theo một chế độ ăn lưỡi rất nghiêm nhặt. Nhưng ngài thất vọng vì càng ngày vợ ông càng trở nên tệ hại hơn.
Vua rất tức giận và quay lại gặp người đánh cá mà rằng: “ Chúng ta đổi vợ cho nhau”. Người đánh cá buộc lòng phải vâng theo. Người vợ của Vua từ ngày về sống với ông đánh cá, trở nên mạnh khỏe và sống rất vui vẻ, còn cô vợ của người đánh cá, từ khi về sống với nhà vua càng ngày càng trở nên âu sầu ủ dột. Một ngày kia, ông Vua gặp lại vợ cũ của mình ngoài chợ, suýt nữa thì ông không nhận ra. Ông nói: “về với ta”. Cô ta trả lời: “Hết rồi”. Cô ta thêm: “Hàng ngày khi đi làm về, chồng mới của tôi ngồi cạnh tôi, kể cho tôi nghe đủ thứ chuyện, anh lắng nghe tôi, anh hát, anh làm cho tôi cười. Tôi cảm thấy như được sống lại. Đó chính là “cái lưỡi”, là con người nói với tôi, quan tâm đến tôi. Và tôi mong tới giờ anh đi làm trở về”. Lúc đó nhà vua mới hiểu ra. Ngài cảm thấy một sự đắng cay cho những cơ hội đã qua và cũng có một ước muốn thâm sâu thay đổi.
Quan Tâm là một phương thế phổ biến sự tử tế. Không có sự Quan Tâm, đừng nói đến Tử Tế. Cũng không có Tình Yêu và không có Giao tế giữa con người với nhau. Chúng ta hãy nhớ những giây phút vui vẻ mà chúng ta có đối với bạn bè, chắc chắn là không phải là những giờ phút chúng ta lơ đễnh. Ngược lại chúng ta rất Quan Tâm và rất sẵn sàng. Quan Tâm tức là chúng ta cho anh em mình quan trọng, là người “thân cận” của chúng ta, chúng ta có thể thực sự hiệp thông với họ và hai bên hiểu được nhau.
Nếu chúng ta quan sát đời sống con người, ta có thể nhận ra ngay điều kiện cần thiết cho sáng tạo là “đối chọi” hay “đối phó.” Con người ở trong vùng bị lụt hàng năm chẳng hạn, sẽ phát minh ra nhiều cách để đối phó với lũ lụt, từ đê điều, đến hệ thống kinh rạch thoát nước, đến hệ thống thuyền bè di tản. Người ở vùng sa mạc, thì đương nhiên là sẽ biết cách tìm nước từ trong gốc cây kẻ đá, nơi mà không ai khác có thể biết, hoặc là cách nào chỉ uống một ngụm nước nhỏ mà đi cả chục cây số.
Đối phó với thử thách tạo ra phát minh mới, qui luật này ai cũng biết. Vì vậy, trong quản lý người ta tạo ra các tình huống đối chọi để tìm phát minh hàng ngày. Ví dụ, brainstorming, động não, dùng hầu như hàng ngày để tìm sáng kiến, là hình thức một nhóm người thảo luận vô giới hạn về tư tưởng. Hoặc cạnh tranh thi đua giữa các nhóm sẽ thúc đẩy các nhóm phát minh ra phương cách để chiến thắng. Hoặc devil’s advocate (biện hộ cho chúa quỷ) khi các nhóm viên chia thành hai phe tranh luận nhau để tìm ý mới.
Không có đối chọi, đối phó, thì rất khó để ý tưởng sáng tạo ra đời.
Bởi vì vậy, các nền kinh tế chính trị mạnh nhất thế giới ngày nay đều là các quốc gia rất trân trọng tranh luận trên mọi lãnh vực. Và chính nhờ sự trân trọng tranh luận này mà khối Âu Mỹ trở thành nền văn minh mạnh nhất thế giới ngày nay, vượt qua hẳn những nền văn minh lớn thời cổ đại nhưng không mở rộng thảo luận—như Trung quốc, Ấn Độ, Ai Cập.
Đây cũng là vấn đề đã kéo dài cả bao thế kỷ, và ngày nay vẫn còn tiếp diễn với dân Việt. Chúng ta chú trọng đến gọi dạ bảo vâng, cho nên óc sáng tạo của người Việt nói chung thì rất là khiêm tốn. Và các hệ thống quyền lực chính trị của Việt Nam, từ thời quân chủ cho đến ngày nay, cũng là nạn nhân của truyền thống đó—thích quản lý bằng gọi dạ bảo vâng hơn là tạo điều kiện để nhân dân tranh luận.
Và vì không quen tranh luận, nên mỗi khi tranh luận ta có khuynh hướng đánh nhau hơn là tranh luận.
Và “đánh nhau” lại là lý do để các hệ thống quyền lực hạn chế hay cấm tranh luận.
Nói chung là ta nằm trong vòng lẩn quẩn ngàn năm, không bước ra được, chung qui cũng chỉ vì văn hóa chống tranh luận, gọi dạ bảo vâng.
Đây là việc các nước tiền tiến trên thế giới đều đang làm để khuyến khích tranh luận:
1. Thầy cô khuyến khích các em phát biểu kiến riêng từ hồi mới vào vườn trẻ.
2. Năng lực đóng góp của một em vào thảo luận nhóm luôn luôn là điểm quan tâm số một của các giáo chức, cũng như của cha mẹ. Nếu các em có vấn đề ở trường là bố mẹ được thông báo ngay.
3. Bố mẹ dạy các em nói ra điều mình muốn từ lúc 2, 3 tuổi, chứ không tập các em chỉ vâng dạ điều bố mẹ muốn cho các em (Dĩ nhiên, là bên cạnh đó các em cũng được dạy vâng lời trong một số việc).
4. Trong học đường các em được dạy phân tích và thảo luận mọi vấn đề và tìm kết luận riêng cho mình thay vì chỉ nuốt các phân tích và kết luận có sẵn của thầy cô.
Và hệ thống xã hội thì:
1. Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền hiến định cao cả nhất. Từ đó đưa đến tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình (trật tự) để phát biểu ý kiến với chính phủ…
2. Nhà nước áp dụng luật để bảo đảm sân chơi tự do cho nhân dân được tự do ngôn luận.
3. Nhà nước không rớ vào và xía vào tranh luận của nhân dân. Nhà nước chỉ hành xử luật khi có người phạm luật.
4. Các đại học có quy chế đại học tự trị và tự do nghiên cứu cũng như phát hành ấn phẩm.
Nói chung, toàn hệ thống xã hội, từ gia đình đến trường học đến guồng máy công quyền được tổ chức để khuyến khích và nâng cao khả năng mỗi cá nhân nói lên ý tưởng của mình, và tìm ý tưởng mới qua tranh luận thảo luận tự do.
Xã hội của ta thì ngược lại. Từ gia đình đến học đường đến guồng máy công quyền đặt trọng tâm vào gọi dạ bảo vâng.
Nếu chúng ta không tìm cách thoát ra khỏi vòng kim cô của cách sống thiếu sáng tạo này thì chúng ta sẽ tiếp tục nghèo đói vài ngàn năm nữa. Đây không phải là chuyện nhỏ.
Có ai quan tâm không vậy?
Mà ngay cả khi không quan tâm đến tổ quốc, thì có ai lo cho cái đầu của chính mình và của con cháu trong nhà mình không vậy?