Có một điều là rất nhiều nhà lãnh đạo, nhà phân tích chính trị và chính trị gia trên thế giới vẫn chậm lụt phía sau là thế giới hiện nay rất nhỏ, chỉ là một “làng” toàn cầu (the global village). Nhiều quý vị người lớn vẫn tư duy chậm lụt về điều này vì họ chậm lụt nói chung đối với đời sống điện tử. Mình nghĩ rằng các chuyên gia IT và các em vị thành niên tối ngày ôm smart phone hiểu được global village hơn là nhiều người ở thế hệ lớn hơn. Continue reading Trái tim bạn và làng toàn cầu→
The story of Peter disowning Jesus is the story of the student disowning the teacher. This is also our story.
In Last Supper of Jesus with his disciples, Jesus predicted Peter would deny knowing Jesus three times. But Peter had sought to overrule and declared that, even if the other disciples deserted Jesus, he would suffer death rather than disown his Lord. Continue reading Peter disowning Jesus→
LTS: Rừng bị tàn sát mênh mông. Cán bộ tha hóa đi tù vì bảo kê cho lâm tặc. Nhiều nghìn héc-ta (ha) rừng tự nhiên biến mất trong xót xa. Tất cả, dường như vẫn là chưa đủ với lòng tham và sự nhẫn tâm của không ít kẻ.
Gần đây, lại rộ lên phong trào “bứng” cây cổ thụ về trưng diện cho nhà cửa, công trình, đặc biệt là các biệt thự, resort, khách sạn để… thể hiện đẳng cấp.
Những “rừng” cây khổng lồ, có khi đường kính đến một, hai, ba mét, được cắt rễ, đánh bầu, cưa ngọn, cẩu đi, ghép mầm hoa…
Các “lão mộc tinh” được tập kết trong các vựa buôn cây khắp từ Bắc chí Nam, đặc biệt là ở các khu vực trọng điểm như dọc đường Láng Hòa Lạc (huyện Hoài Đức), xã Yên Bài (Ba Vì – Hà Nội), miền núi các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Bình Định, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Bình Dương và TP HCM…
Dr Đặng Minh Hiệu before and after having his head shaved to facilitate his work in COVID-19 prevention and control. — Photo tienphong.vn
Thousands of people of different generations have volunteered to join the country’s efforts in the fight against COVID-19, and their acts of kindness have contributed to helping many overcome the most difficult times in their lives.
They include not only medical workers and soldiers but also normal people willing to work for the good of others.
Cô gái của tôi là là bài hát do hai thành viên của nhóm Miracles (Smokey Robinson và Ronald White) sáng tác nhưng được nhóm Temptations trình diễn thành công.
Khi nhóm Temptations đang chia sẻ một chương trình với nhóm Miracles ở nhà hát Apollo, Harlem (một khu vực ở Manhattan, New York, Mỹ), khi Robinson (nhóm Miracles) đang sửa soạn cho bài hát mới, nhóm Temptations nghe được và xin Robinson cho phép họ ghi âm bài hát này. Robinson đã nhượng bộ và chọn Davidor Ruffin (nhóm Temptations) hát chính. Bài hát trở thành bài số một đầu tiên của Temptations tại Mỹ và ngày nay là bài hát chữ ký của họ. Continue reading Cô gái của tôi→
Cuộc chiến thiện ác đã thường được nhắc đến trong đủ mọi loại kinh sách và thực sự đã diễn ra trong lịch sử loài người với rất nhiều cuộc chiến máu me tràn ngập, từ những cuộc chiến có tính cách tôn giáo đến những cuộc chiến có tính xâm lăng hoặc tự vệ. Con người thường luôn chia ra phe ta và phe địch, là phe ta luôn thiện, phe địch luôn ác. Đương nhiên ai cũng có thể thấy được đó là một tình trạng si mê điên rồ, vì nếu ai cũng thấy chính mình là thiện thì mọi cuộc chiến đều là cuộc chiến của những người thấy mình là thiện đánh nhau. Thế thì ai ác? Continue reading Thiện v. Ác→
PNO – Bao năm, những người phụ nữ bên phá Tam Giang vẫn “lặn lội thân cò” theo mùa nước nổi. Việc đong cái ăn, cái mặc khiến họ không còn tâm trí để nghĩ xa hơn, nói gì tới khái niệm trừu tượng như “biến đổi khí hậu”. Rồi một ngày, những cây bần chua xuất hiện trong đời họ…
Phụ nữ thôn Vĩnh Trị, xã Hải Dương, TP. Huế chăm chút từng mầm xanh, gầy dựng rừng ngập mặn trên phá Tam Giang – Ảnh: Thuận Hóa
Caroline, không là một bài hát do nhóm nhạc Mỹ Beach Boys trình diễn và được Brian Wilson – một thành viên của nhóm – sáng tác cùng với Tony Asher năm 1966.
Lời bài hát là hậu quả lớn của việc nghe nhầm. Khi Wilson nói với Asher về cô nàng anh thích ở trường trung học, nàng có tên Carol và Asher trả lời: “Ôi, Carol, tôi biết.” Nhưng Wilson đã nghe như là: “Caroline, không” và phác thảo nhanh phần còn lại của bài hát trong khi bị [Asher?] ném đá. Continue reading Caroline, không→
Thế giới có nhiều nhiễu loạn vì người ta, nhất là lãnh đạo của các quốc gia, mất nền tảng đạo đức và thường dẫn quốc gia của họ hành động thiếu đạo đức, thiếu thành thật, thiếu trung tín, và nhiều khi côn đồ, chỉ khá hơn các tổ chức mafia được một chút. Các nước lớn thường khi chẳng đáng phục, chẳng đáng tin, và do đó, thượng bất chính hạ tắc loạn, các nước nhỏ cũng rủ nhau côn đồ. Continue reading Đạo đức của lãnh đạo→
Chắc ít người biết rằng, từ tháng 7/1945, Việt Nam đã có một sân bay đích thực, do ta tự lực thiết kế, xây dựng và điều hành để đảm bảo nhu cầu của tình hình lúc đó.
Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết của ông Lê Giản – nguyên Giám đốc Công an Vụ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:
Ông Lê Giản (trái) cùng ông Phạm Hùng, Giám đốc Sở Công an Nam Bộ đến thăm Bác Hồ tại Văn phòng Chủ tịch phủ – Thủ tướng phủ ở Tân Trào. Ảnh tư liệu
Đó chính là sân bay Lũng Cò, thuộc chiến khu Việt Bắc. Gọi là sân bay Lũng Cò, vì nó nằm trên một thung lũng thuộc xóm Lũng Cò, xã Minh Thanh, tỉnh Tuyên Quang.
Giữ liên lạc Việt – Mỹ qua biên giới
Ai quan tâm nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam đều biết rằng, cuối năm 1944, nhân dân quê hương đồng chí Hồng Kỳ, cách thị xã Cao Bằng chừng 4-5km đã cứu được một viên trung úy phi công Mỹ, khi anh ta nhảy dù xuống địa phương này.
Nhân dân xã nhanh chóng đưa viên phi công vào ẩn nấp trong khu rừng sát núi heo hút. Viên trung úy xin sớm được đưa về căn cứ của quân đội Mỹ ở bên kia biên giới Việt – Trung. Sau khi được trao trả lành lặn cho phía Mỹ tại Côn Minh (Trung Quốc) và nghe anh ta báo cáo lại tinh thần nhiệt tình, đón tiếp chu đáo của Việt Minh, viên Tư lệnh quân đội Mỹ tại khu vực ngỏ ý muốn được gặp người đứng đầu Quân đội Việt Nam để tạ ơn, đáp nghĩa.
Nghe báo cáo tình hình, Bác Hồ đã nhận lời và hai bên hẹn một cuộc gặp hữu nghị ở một tiệm ăn tại Tĩnh Tây, ngày 27/4/1945.
Trong cuộc gặp này, hai bên đã đi đến một mật ước: “Phía Việt Nam sẽ tăng cường lực lượng du kích, phát triển căn cứ ở khắp các vùng trong lòng địch. Phía Mỹ lãnh trách nhiệm đưa các phái đoàn quân sự sang giúp huấn luyện, đồng thời giúp trang bị vũ khí, điện đài và các thứ quân trang, quân dụng khác”.
Để tiến hành các hoạt động giao lưu liên lạc cùng với việc vận tải các trang thiết bị quân sự, hai bên đã xác định cần thiết xây dựng một sân bay để giữ liên lạc Việt – Mỹ qua biên giới. Sau khi Bác Hồ và Chính phủ về căn cứ Tân Trào, đã có một số đợt nhảy dù của các tốp quân Mỹ xuống khu vực này. Với tầm nhìn xa, Bác đã chỉ thị cho anh Đàm Quang Trung, Đại đội trưởng Giải phóng quân, chủ trì xây dựng một sân bay.
Nhân dân địa phương san gạt, đầm đất xây dựng sân bay Lũng Cò. Ảnh tư liệu
Nhận nhiệm vụ mới mẻ, anh Trung rất lo lắng. Tuy phía Mỹ có cử một viên thiếu tá làm cố vấn giúp đỡ về kỹ thuật xây dựng sân bay, nhưng do ngôn ngữ bất đồng, nên anh thấy công việc khó khăn. Anh đề nghị Bác cử thêm người giúp đỡ.
Bác hoàn toàn đồng ý, nhưng nói: “Thế chú đã có dự kiến nhờ ai chưa”? Anh Trung không do dự trả lời ngay: “Thưa Bác, cháu nghĩ rằng, việc này chỉ có anh Lê (tức là tôi, Lê Giản) có thể đáp ứng được yêu cầu. Anh Lê Giản đã nhiều lần đáp máy bay dân sự và quân sự, qua lại nhiều trường bay lớn nhỏ khác nhau. Hơn nữa anh thông thạo cả tiếng Pháp, tiếng Anh và rất am hiểu địa hình vùng chiến khu”.
Lưỡng lự một lát, anh Trung báo cáo tiếp với Bác: “Có điều cháu biết bây giờ anh Lê Giản đang rất bận rộn, vậy xin Bác xem xét và quyết định”. Nghe anh báo cáo xong, Bác gật đầu và nói: “Được, để Bác viết lá thơ cho chú cầm đi gặp chú Lê bàn định công việc cụ thể”.
Anh vui mừng cầm theo lá thư tay của Bác đến gặp tôi và trình bày nhiệm vụ mới được Bác giao. Tôi rất phấn khởi.
Chuyến bay lịch sử
Chúng tôi siết chặt tay nhau, biểu thị quyết tâm thực hiện nhiệm vụ Bác giao, khẩn trương tìm địa điểm để xây dựng sân bay. Đứng trên ngọn đồi gần nơi sau này Nha Công an đóng trụ sở, tôi và anh Trung nhìn bao quát cả cánh đồng, thung lũng chạy xa đến chân núi Hồng nằm giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang.
Bằng kinh nghiệm của mình, tôi để ý ngay đến thung lũng Lũng Cò. Đây là một vạt đất khá rộng có chiều dài, nơi xưa kia đồng bào vẫn canh tác nhưng từ ngày có chiến tranh, nó bị bỏ hoang.
Tôi và anh Trung trao đổi với nhau xong quyết định mời viên thiếu tá cố vấn Mỹ đến xem địa điểm Lũng Cò. Khi ba người chúng tôi đến đứng giữa cánh đồng bỏ hoang, viên thiếu tá thốt lên: “Chúng ta sẽ xây dựng ở đây một sân bay dã chiến lý tưởng”.
Di tích sân bay Lũng Cò thuộc xã Minh Thanh, Sơn Dương, Tuyên Quang. Ảnh: Báo Ninh Thuận
Ngay ngày hôm sau, anh Trung huy động hàng trăm bộ đội và dân công, thanh niên nam nữ trong vùng đến thung lũng Lũng Cò phát quang, sau đó dùng các công cụ thô sơ san bằng, nện đập theo hình một đường băng đất nện. Chỉ khoảng 3-4 ngày (vào khoảng cuối tháng 7/1945), công việc làm sân bay dã chiến ở thung lũng Lũng Cò đã xong, với đường cất hạ cánh dài hơn 400m, rộng 20m.
Chúng tôi thông báo cho phía Mỹ biết và quyết định làm lễ khánh thành sân bay đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng một cuộc mít tinh đón chuyến bay đầu tiên. Lúc 11 giờ trưa, chiếc máy bay L-5 đầu tiên, chở theo hai sĩ quan tăng cường cho phái đoàn liên hữu, cùng một số thuốc men, thực phẩm và thư từ đã hạ cánh an toàn xuống sân bay Lũng Cò, mở ra một giai đoạn lịch sử mới.
Một sân bay dã chiến ra đời góp phần mở cửa thông thương với đồng minh, góp phần bổ sung trang thiết bị, tăng cường sức mạnh cho quân đội đánh thắng phát xít. Sau chuyến bay đầu tiên, còn một số chuyến bay của quân Mỹ và đồng minh qua lại, tất cả đều cất hạ cánh an toàn, cho đến khi phát xít Nhật phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Hoạt động hàng không quốc tế
Khi Việt Minh làm chủ tình hình ở hầu khắp các tỉnh phía Bắc, phái đoàn liên hữu của quân đội Mỹ lên chuyến bay cuối cùng rút qua bên kia biên giới. Tiễn đưa viên trung úy (tôi nhớ mang máng tên anh ta là Kent hoặc Fenn), người đến trên chuyến bay đầu tiên và rút về cuối cùng, tôi đã bắt chặt tay, nói lời cảm ơn đóng góp của phái đoàn liên hữu trong thời gian ở Việt Nam.
Viên trung úy Mỹ đã phát biểu đáp lại, trong đó vẫn nhớ mãi câu gây ấn tượng sâu sắc, mà sau này khi Mỹ tham gia vào chiến tranh Việt Nam, tôi vẫn cứ suy nghĩ mãi. Ông ta nói: “Vâng, chiến tranh nay đối với chúng tôi đã kết thúc, nhưng đối với các ông là bắt đầu một cuộc chiến tranh mới, sẽ vô cùng gian khổ, ác liệt, nhưng tôi tin tưởng và chúc các ông lại giành được thắng lợi”.
Sân bay Lũng Cò là sân bay đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do chính Bác Hồ chỉ đạo xây dựng. Đến năm 1949, Bác lại chỉ đạo xây dựng sân bay Soi Đúng ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang.
Nếu sân bay Lũng Cò mở ra thời kỳ mới cho hoạt động hàng không quốc tế và để lại dấu ấn về những mối quan hệ ngoại giao, quân sự ban đầu với Mỹ, thì sân bay Soi Đúng mở ra giai đoạn đầu cho sự ra đời của Quân chủng Không quân Việt Nam anh hùng, mà đối thủ lớn nhất lại chính là Không quân và Hải quân Mỹ.
Trong ráng chiều hoàng hôn, tôi đứng nhìn về dãy núi Hồng xa xa, cảm nhận sâu sắc tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ, bồi hồi xúc động nhớ về những bạn chiến đấu cũ, các anh chị em bộ đội, dân công đã tham gia xây dựng sân bay. Tôi vẫn như thấy trước mắt không khí náo nức của những tháng ngày kháng chiến, khi bộ đội và nhân dân đã xây dựng nên sân bay, đón những chuyến bay đầu tiên cất và hạ cánh.
Ông Lê Giản (1913-2003) là Giám đốc Nha Công an Bắc Bộ, Giám đốc Việt Nam Công an vụ từ 1946-1952, sau chuyển sang là Phó chánh án Tòa án nhân dân Tối cao đến khi về hưu. Bài do ông viết tay năm 1995.
Penny Lane là bài hát do nhóm Beatles trình diễn; John Lennon và Paul McCartney đồng sáng tác; phát hành vào tháng 2 năm 1967.
Sau khi Lennon sáng tác bài “Strawberry fields forever”, McCartney viết hồi ký chớp nhoáng của mình. Penny Lane là bến xe buýt ở Liverpool (nước Anh), nơi Lennon và McCartney thường gặp nhau. McCartney nói: “John đến giúp tôi câu ba, như thường lệ. Chúng tôi viết về những kỷ niệm đã mờ dần từ 8 đến 10 năm trước.” Continue reading Penny Lane→
Hôm nay ngày Valentine, mình gửi đến các bạn đoạn Thánh kinh mình ưa thích nhất về Tình Yêu.
Nếu tôi nói được mọi ngôn ngữ của loài người và của các thiên thần, nhưng không có tình yêu, tôi chỉ là cái cồng vang dội hay cái chiêng ồn ào.
Nếu tôi có tài tiên tri và có thể quán thông mọi huyền nhiệm và mọi tri thức, và nếu tôi có đức tin có thể chuyển dời núi non, nhưng không có tình yêu, tôi chẳng là gì cả.
Nếu tôi tặng hết tài sản cho người nghèo và xả thân trên dàn hỏa, nhưng không có tình yêu, tôi chẳng được gì cả.
Tình yêu là kiên nhẫn, tình yêu là dịu dàng.
Tình yêu không ghen ti, không khoe khoang, không kiêu hãnh.
Tình yêu không khiếm nhã, không vị kỷ, không nhạy giận, không chấp trước.
Tình yêu không vui sướng trong tội lỗi, nhưng hân hoan với sự thật.
Tình yêu luôn luôn bảo vệ, luôn luôn tin tưởng, luôn luôn hy vọng, luôn luôn kiên trì.
Tình yêu không bao giờ thất bại.
(1 Corinthians 13: 1-8)
1 If I speak in the tongues[a] of men or of angels, but do not have love, I am only a resounding gong or a clanging cymbal. 2 If I have the gift of prophecy and can fathom all mysteries and all knowledge, and if I have a faith that can move mountains, but do not have love, I am nothing. 3 If I give all I possess to the poor and give over my body to hardship that I may boast,[b] but do not have love, I gain nothing.
4 Love is patient, love is kind. It does not envy, it does not boast, it is not proud. 5 It does not dishonor others, it is not self-seeking, it is not easily angered, it keeps no record of wrongs. 6 Love does not delight in evil but rejoices with the truth. 7 It always protects, always trusts, always hopes, always perseveres.
Mình và anh Hoành vừa làm file PPS mới “Love – Tình yêu”, nội dung chính là đoạn văn 1 Conrinthians 3 nổi tiếng của Saint Paul, mà anh Hoành đã dịch trước đây.
Đây là đoạn văn nổi tiếng số một về tình yêu trong thế giới Âu Mỹ, và thường được đọc trong các lễ cưới hay các dịp tương tự.