Trảng cỏ biếc xanh

Anh là ngựa chứng
Nhưng em chẳng hề cũng chẳng dại gì
Ước mình là người biết cầm cương

Sẽ không còn là anh
Trong trái tim em ngỡ không còn xao xuyến
Nếu một ngày
Một ngày trong chuỗi ngày anh chìm nổi
Lối nhỏ quanh co
Anh dừng gót ngang tàng

Sẽ không còn là anh
Trong trái tim em ngỡ không còn biết nhung nhớ giận hờn
Nếu một ngày
Một ngày trong chuỗi ngày anh mưa giăng mờ mịt
Thảm nhung êm
Anh bỏ nẻo sa mù

Chỉ ước là trảng cỏ biếc xanh
Giấu mình thung sâu mây sương lãng đãng
Ngựa anh dừng sau đường dài mỏi mệt
Thả vó chùng
Yên ngắm hoàng hôn

Quê Hương trường ca – Đoạn 6

Hành trình tìm hơi thơ – hành trình từ Đất
Hành trình đi tìm quê hương – khởi hành từ nỗi nhớ quê hương
Bắt đầu từ bàn chân trần – trắng, từ con số không
Từ con số âm, có lẽ.
Ta không thể đi vào tương lai bằng giấc mê Quá khứ
Đi vào ngày mai bằng niềm tiếc Ngày qua
Không thể bay cao khi hồn còn trì nặng sâu mọt căm thù
Không thể đi xa khi chân còn kéo lê sợi tơ kiêu hãnh hão
Hãy để Tháp Cánh Tiên, Tháp Chùa với nhà trùng tu thi gan giông bão
Để yên Tara, Garuda trong viện bảo tàng
Po Klaung, Xah Bin – xin thắp ngọn nến, nén nhang
Coi chừng hai buồng phổi ta thiếu ôxi bởi khói!
Thế giới rậm rịt bao la cho ta ngàn cơ hội
Cơ hội của ta, cơ hội cho cháu con.
Để nuôi ta, ta rút tinh chất từ cha ông
Thì phải cất cho đời sau dòng nhựa*
Giữa đêm tối bão giông, hãy cúi rạp như ngọn cỏ
Ngọn cỏ ngóc đầu trong nắng mai.
Cây nở hoa từ u tối bùn lầy
Người thì lớn khôn từ trần ai bể khổ.
Hành trình đi tìm hơi thơ – hành trình tìm hơi thở
Trong bụi bặm trang sách, sa mù câu kinh
Dưới sần chai dấu chân, trên lãng đãng con đường
Người xưa bỏ lại trên cát.
Hơi thở mênh mang trong lời ru, câu hát
Tối mẹ ầu ơ hay chiều em nghêu ngao
Cánh tay anh gân guốc trên tầng cao
Hình lưỡi búa vẽ vòng cầu vào nắng trưa vọt ra hơi thở
Trên vầng trán cha đẫm sương quá khứ
Hơi thở ẩn tàng dưới nếp nhăn
Hơi thở dạt dào trong mắt sinh viên
Tìm hương Đất giữa khô khan bài học
Qua trang sách, mở phơi đường dân tộc
Con đường nhọc nhằn dẫn lối con đường xanh.
Hãy yêu hãy yêu như ta chưa từng
Đứa con đi hoang bỏ xa làng mạc
Mang bụi đất quê hương về miền xứ khác.
Và hãy yêu hơn con người chân chất
Sống một đời ôm mang đất – phù du
Những con người hiến thân cho hơi thở phong nhiêu

Inrasara

Ngôi trường của mẹ

Hồi ấy, làng Vân Hòa của tôi có trường công liên hương tại ấp Phước Hậu, nhưng làng quá rộng, từ nhà tôi ở ấp Bình Trị, hay ấp Bình Điền lân cận đến Phước Hậu đi bộ mất nửa buổi, vì vậy đa số trẻ con hai ấp này không đi học được. Nhỏ tuổi thì không đủ sức đi, tìm nhà quen gởi trọ cũng bất tiện. Lớn lên một chút thì còn lo giúp đỡ công việc gia đình, chăn trâu, dọn vườn, bẻ thơm… Để giải quyết việc này, cha tôi xin phép mở một “gia đình học hiệu” và cất gian trường bên cạnh nhà. Tuy nói là gia đình học hiệu nhưng thực tế cha tôi tìm thầy mời về dạy chương trình lớp Năm và lớp Tư cho cả trẻ con hai ấp Bình Trị, Bình Điền. Tôi còn nhớ thầy Vưu người Tuy Hòa và thầy Liên người tận ngoài Quảng Bình. Mẹ tôi có một gánh hàng xén, mỗi tháng chín phiên bán ở Chợ Đồn. Mọi chi phí cất trường, đóng bàn ghế, bảng đen, mua sổ sách bút mực cho thầy, việc ăn ở của thầy tại nhà tôi đều do mẹ tôi lo liệu, trích từ lợi tức trong gánh hàng xén ấy. Giữa tháng mẹ tôi “kiểng” thầy số tiền lương.

Học sinh chẳng những được học miễn phí, không phải đóng góp một khoản nhỏ nào, còn được tổ chức sinh hoạt như trường công, có bầy đàn, ca hát, tập các trò chơi, tìm dấu đi đường… Mấy môn này thì trẻ con thôn quê dễ rành lắm. Thay vì công bố vị thứ hàng tháng mẹ tôi xin thầy công bố vị thứ hàng tuần vào mỗi chiều thứ bảy. Trò nào học giỏi được thưởng. Phần thưởng là giấy manh, thước gạch, bút chì, ngòi viết và mực viên… cũng do mẹ tôi cung cấp. Hồi ấy chưa có tập vở, học trò dùng giấy manh đóng vở, tự gạch dòng bút chì để chép bài, làm bài. Ngòi viết có nhiều loại, chúng tôi gọi theo hình dạng là ngòi viết lá tre, ngòi viết rông, ngòi viết bầu và ngòi viết ễn. Mực viên dùng hai màu xanh và tím, một loại giống như viên thuốc aspirine, một loại viên hơi tròn. Mấy trò thường xuyên được thưởng thì giấy bút mực dư học cả năm, khỏi phải mua. Học ở đây xong, đứa nào cha mẹ cho học tiếp thì ra Phước Hậu vào lớp Ba, đứa nào không có điều kiện phải ở nhà thì cũng ít nhiều đã biết đọc biết viết.

Hai anh em tôi nhỏ nhất, cùng học một lớp. Thầy cho ra chơi là chạy vào nhà tìm kẹo bánh. Tôi rất thích loại kẹo bạc hà đựng trong ve thủy tinh hình giống như trái bầu, mỗi lần đi Dinh mẹ tôi mua về cho một vài ve. Cùng lớp, có mấy trò con trai ở Bình Điền lớn tuổi, đứng gần bằng thầy, dân làm ruộng đen thui và chắc nịch. Mấy trò con gái dân Xóm Chợ thì trắng trẻo ẻo lả… Chúng tôi hơn họ ở chỗ có một bộ “giáo khoa thư” và nhiều lúc được mẹ lật sách ra chỉ cho những hình vẽ, giảng giải. Thành ra trước khi biết chữ anh em tôi đã thuộc lòng, tranh nhau đọc câu: ”Sách này do Nha Học chánh Đông Pháp giao cho các ông Trần trọng Kim, Nguyễn văn Ngọc, Đặng đình Phúc và Đỗ Thận soạn. Nhà nước giữ bản quyền. Cấm không ai được in lại”, đã có những tờ tranh vẽ hình bà Trưng bà Triệu cỡi voi, ông Đinh Bộ Lĩnh bẻ bông lau làm cờ đánh giặc…

Học 24 chữ cái rồi vần xuôi, vần ngược, ráp vần, tập đọc… Vần xuôi nghe như cầu kinh, vần ngược nghe như thần chú. Khi biết đọc sách chỗ nào không hiểu tôi đem hỏi mẹ, được mẹ giảng giải rõ ràng. Bây giờ đã quên hết, chỉ còn nhớ hai chuyện. Chuyện thứ nhất, trong sách có hình vẽ một ông cỡi ngựa và nhiều người đang cuốc đất gánh đất hay làm gì đó, ghi là “Chánh tổng coi đê”. Con đường trước nhà tôi thỉnh thoảng có đồng bào dân tộc thiểu số cỡi voi đi qua. Voi, gọi là “ông bồ” tai to vòi dài… lạ lắm, cách ăn mặc của “thằng nài”, cái ống điếu, tiếng nói lơ lớ…cũng lạ lắm, vui lắm. Lúc ấy thường gọi chung đồng bào các dân tộc thiểu số là “người Đê”. Mỗi lần như vậy lũ trẻ chúng tôi gọi nhau đi “coi Đê”. Tôi lấy làm lạ, tại sao ông Chánh tổng cũng đi “coi Đê” như lũ nhóc chúng tôi. Mẹ tôi mới giảng cho biết về những con đê bên sông ngoài Bắc, trong hình là ông Chánh tổng đang trông coi dân chúng đắp sửa đê. Chuyện thứ hai, khi đọc bài “Trầu Cau” có câu “…người vợ chết hóa ra dây trầu không leo ở cây cau…”. Rõ ràng trong hình vẽ dây trầu quấn vào cây cau sao lại nói dây trầu không leo ở cây cau? Mẹ tôi giảng lại cho biết, xứ mình gọi là dây trầu thì ngoài Bắc gọi là dây trầu không.

Trong một năm thầy Liên dạy chúng tôi học hết chương trình lớp Đồng ấu và Dự bị để ra trường công liên hương học lớp Sơ đẳng (lớp Ba). Đầu năm 1945, chuẩn bị thi bằng Sơ học yếu lược, mỗi trò được cấp một giấy căn cước, dưới có chữ ký quan Tuần vũ tỉnh Phú Yên Trần văn Lý. Chữ ký dài, đầy đủ và rõ ràng, gần chữ v (văn) có một chữ v khác bằng bút chì màu đỏ. Tôi nói với mẹ: Quan Tuần vũ ký sai phải sửa lại chữ v. Mẹ tôi giảng cho biết đó là chỗ một thầy thông thầy phán đã xem trước, thấy đúng, làm dấu để quan Tuần vũ ký chứ không phải sai và sửa.

Tôi nhớ mãi chuyện này vì đây là lần cuối cùng chuyện trò cùng mẹ. Học lớp Ba tôi phải ở trọ, chủ nhật sau về thì mẹ tôi bệnh, rồi bệnh nặng và qua đời. Đau thương trùm lên gia đình tôi. Tiếp theo là những biến cố dồn dập của đất nước… Gia đình tôi rời khỏi làng Vân Hòa và xa cách mộ phần mẹ.

Bây giờ, mỗi khi hồi ức về mẹ, tâm tưởng tôi vẫn là tâm tưởng đứa trẻ lên bảy lên tám… Tôi tự hỏi: Bao nhiêu bạn bè thời thơ ấu ấy, nay ai còn ai mất, ai lưu lạc phương trời, ai đang ở làng quê, ai đã thành ông bà nội ngoại, kẻ giàu sang, người nghèo khó… Giữa bao nhiêu bận rộn của cuộc sống, có lúc nào họ nhớ lại những ngày học tại “nghĩa thục” của mẹ tôi không? Có lúc nào họ nhớ lại hình ảnh mẹ tôi không? Tôi nghĩ rằng họ không phải là kẻ bạc!

Trần Huiền Ân

Tín điều của sinh viên

Ngày hôm nay, ngày mới này, tôi là một sinh viên thành công. Qua một đêm tâm trí và cơ thể tôi đã sản sinh ra hàng ngàn tế bào mới để cho tôi những lợi thế lớn nhất có thể. Tôi được sinh lại, được tiếp thêm sinh khí và tràn đầy năng lượng.

Tôi hiếm có và giá trị, duy nhất trong toàn thể vũ trụ. Tôi là phép lạ đang xảy ra của tự nhiên. Tôi có tiềm năng không giới hạn. Tôi tin vào khả năng, thái độ và mục tiêu của tôi. Tôi xứng đáng trở nên vĩ đại vì tôi là người quan trọng nhất trong thế giới của tôi.

Ngày hôm nay tôi đẩy tôi tới những giới hạn mới. Tôi sử dụng những kĩ năng và kiến thức mỗi ngày. Tôi bắt đâu một ngày với thành công và kết thúc với thành công. Tôi đang vươn đến mục tiêu mỗi ngày và tôi háo hức kiếm tìm mục tiêu.

Tôi hành động tích cực và vui thích, hoàn toàn chấp nhận chính mình cũng như những người khác. Tôi sống hết mình bằng cách trải nghiệm vô hạn cuộc sống này. Tôi ôm lấy cuộc sống. Tôi đến với mỗi lớp học, mỗi cuốn sách, và mỗi bài tập với say mê, hạnh phúc và niềm vui. Tôi khát khao kiến thức. Tôi mong được đọc và tin vào tín điều này mỗi một ngày.

Tôi là một sinh viên tích cực và thành công. Tôi biết mỗi bước đi tôi phải đi để tiếp tục được như thế. Tôi rất rõ ràng về các mục tiêu của mình và nhìn thấy tôi đang vươn tới chúng. Giờ đây tôi nhận ra tiềm năng vô hạn của tôi, vì thế, gánh nặng của tôi nhẹ đi. Tôi cười và cười thật to. Tôi đã trở thành người sinh viên vĩ đại nhất thế giới.

Hoàng Khánh Hòa dịch
.

A Student’s Creed

Today, this new day, I am a successful student. Overnight my mind and body have produced thousands of new cells to give me the greatest advantages possible. I am born anew, revitalized, and full of energy.

I am rare and valuable; unique in all the universe. I am nature’s greatest miracle in action. I have unlimited potential. I believe in my abilities, attitudes, and goals. I am worthy of greatness because I am the most important person in my world.

Today I push myself to new limits. I use my skills and knowledge every day. I begin the day with a success and end it with a success. My goals are being reached every day and I seek them eagerly.

I act positively and happily, fully accepting myself and others. I live to the fullest by experiencing life without limits. I embrace life. I approach each class, each book, and each assignment with enthusiasm, happiness and joy. I thirst for knowledge. I look forward to reading and believing this creed each and every day.

I am a positive and successful student. I know each step I must take to continue to be that way. I am clear on my goals and see myself reaching them. I now realize my infinite potential, thus, my burden lightens. I smile and laugh. I have become the greatest student in the world.

Thiền trong đời của gã ăn mày

Tosui là một Thiền sư nổi tiếng vào thời của ngài. Tosui đã trụ trì vài chùa và dạy ở nhiều tỉnh.

Chùa cuối cùng Tosui viếng thăm thu hút nhiều môn sinh đến nỗi Tosui nói với họ là ngài sẽ bỏ việc giảng dạy vĩnh viễn. Tosui khuyên họ ra về và đi đâu tùy ý. Sau đó chẳng còn ai biết tông tích ngài ở đâu.

Ba năm sau một đệ tử của Tosui khám phá ra ngài đang sống với vài người hành khất dưới một gầm cầu ở Tokyo. Người đệ tử lập tức nài nĩ Tosui dạy mình.

“Nếu cậu có thể làm như tôi làm, dù chỉ đôi ba ngày, thì tôi có thể dạy,” Tosui trả lời.

Vậy người đệ tử mặc áo quần như hành khất và theo Tosui cả ngày. Đến đêm một người trong đám ăn mày chết. Tosui và người đệ tử khiêng xác nửa đêm và chôn xác trên sườn núi. Rồi họ trở về lại chỗ ở dưới gầm cầu.

Tosui ngủ ngon lành, nhưng người đệ tử không ngủ được. Đến sáng Tosui nói: “Chúng ta không phải đi xin đồ ăn hôm nay. Ông bạn vừa chết của mình đã để lại ít thức ăn đằng kia.” Nhưng người đệ tử chẳng ăn nổi miếng nào.

“Tôi đã nói là cậu không làm như tôi được,” Tosui kết luận. “Đi đi và đừng làm phiền tôi nữa.”
.

Bình:

• Tosui Unkei, thiền sư dòng Tào Động (Soto), là thiền sư lập dị nhất trong lịch sử Thiền Nhật Bản. Ngày nay nhiều người so sánh Tosui với thánh Francis of Assisi (Thiên chúa giáo), hay gọi Tosui “Chàng hippy đầu tiên”, và sách về cuộc đời của Tosui được gọi là “Hippy nhập môn.”

100 năm sau khi Tosui qua đời, thiền sư học giả Menzan Zuiho (1683-1769), thu nhặt tài liệu và các truyện truyền khẩu, viết lại quyển sách về cuộc đời của Tosui. Quyển này ngày nay đã được dịch sang tiếng Anh dưới tên “Letting go: The Story of Zen Master Tosui.” Có thể đọc quyển này trên Google Books.

• Tosui xem ra không thích học trò nghe mà không thực hành. Thường thì nghìn người nghe may ra được một người thực hành nghiêm chỉnh. Bao nhiêu người trong chúng ta đã nghe, đọc, và xem phim ảnh sách vở về tập thể dục. Bao nhiêu người đang tập hàng ngày? Hay là kinh sách Phật? Hay là Thánh Kinh?

Đa số người có ảo tưởng là cứ xem hay đọc điều gì thì mình sẽ có điều đó trong mình. Cứ xem phim Superman và Batman cả đời xem ta có thể thành Superman hay Batman không?

• Có lẽ, đối với Tosui, mang an lạc của Thiền đến cho vài người ăn mày, dưới đáy xã hội, có ý nghĩa hơn là giảng cho cả nghìn người mà chẳng mấy ai thực hành.

• Thực ra Tosui đã dạy cho người đệ tử kèo nài xin theo học rồi. Anh này chỉ học không nổi mà khôi. Thiền là sống thoải mái trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bất kỳ nơi đâu. Kể cả sống đời ăn mày. Sống “ở đây lúc này.”

Anh đệ tử này chỉ thích “nghe” giảng, nhưng thầy chỉ muốn học trò “sống”.

• Thiền là sống không vướng mắc. Vậy thôi.

Mê nghe lời thầy giảng là một vướng mắc lớn. Cả “lời giảng” lẫn “nghe giảng” đều không phải là “sống.”

Thầy muốn thử xem nếu mình phải sống như ăn mày, mình có thể sống với tâm không vướng mắc không?

Sống không QUEN, thì đương nhiên rồi. Ví dụ là khó ngủ vì lạ nơi.

Nhưng không MUỐN ăn đồ ăn của bạn mình vừa chết lại là chuyện khác. Đây là vướng mắc lớn về ý chí.

Hai vướng mắc này rất lớn: Việc nên làm (i.e., ăn) thì không làm. Việc không cần (lời gỉảng) thì lại cầu.

Rất khó để “thấy đường”.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Zen in a Beggar’s Life

Tosui was a well-known Zen teacher of his time. He had lived in several temples and taught in various provinces.

The last temple he visited accumulated so many adherents that Tosui told them he was going to quit the lecture business entirely. He advised them to disperse and go wherever they desired. After that no one could find any trace of him.

Three years later one of his disciples discovered him living with some beggars under a bridge in Kyoto. He at once implored Tosui to teach him.

“If you can do as I do for even a couple days, I might,” Tosui replied.

So the former disciple dressed as a beggar and spent the day with Tosui. The following day one of the beggars died. Tosui and his pupil carried the body off at midnight and buried it on a mountainside. After that they returned to their shelter under the bridge.

Tosui slept soundly the remainder of the night, but the disciple could not sleep. When morning came Tosui said: “We do not have to beg food today. Our dead friend has left some over there.” But the disciple was unable to eat a single bite of it.

“I have said you could not do as I,” concluded Tosui. “Get out of here and do not bother me again.”

# 43

Kiến thức giả

Chào các bạn,

Hàng ngày chúng ta nghe báo chí nói nhiều về hàng giả: hàng hiệu giả, rau quả giả , thực phẩm giả… Nhưng ít thấy ai nói về kiến thức giả, dù rằng kiến thức giả là một hiện tượng lớn.

Trong pham vi bài này, chúng ta chỉ dùng các từ “kiến thức” và “giả” theo cách mọi người hay dùng hàng ngày, chẳng có gì đặc biệt cả. Cho nên, các bạn không nên nghĩ về hai từ này như là hai từ triết lý, vì triết lý đến tận cùng như triết l‎ý Phật gia thì mọi kiến thức đều là giả. Hết chuyện nói. 🙂

Không biết chuyện mà cứ nói như là mình biết, đó là giả. (Và chữ “biết” trong câu này cũng là chữ tương đối ta dùng hàng ngày, không phải là chữ “biết” triết lý).

Hãy lướt qua các kiến thức giả ta thường thấy hàng ngày, theo mức độ lớn nhỏ ta thấy, lớn trước nhỏ sau:

1. Lảm nhảm các từ chính trị dù rằng mình biết là nó chẳng nghĩa l‎ý gì trong thực tế, hoặc mình chẳng hiểu nó là gì.

Điều này thì ta thấy trên báo chí, diễn văn, và bài vờ có mùi chính trị trên Internet hàng ngày. Trong các nơi chứa kiến thức giả, thì chính trị là nơi có nhiều nhất. Vẹt nói rất nhiều.

2. Kế đến là các từ tôn giáo, nhất là các từ tôn giáo trong các bài viết chính trị.

Người viết thường là chẳng hiểu tí gì về các từ dùng, hoặc là cố tình dùng nó phản lại ‎nghĩa nguyên thuỷ của nó.

3. Mở miệng ra là “Tử nói”, “Phật nói”, “Decartes nói,” “Pascal nói”… mà không biết rằng câu nói đó chẳng ăn nhập gì đến câu chuyện đang nói.

4. Nói chuyện theo công thức.

Nguyên một bài diễn văn hai tiếng đồng hồ, có thể chỉ là một con số zero to tướng, vì chỉ toàn là khẩu hiệu (chính trị) cộng lại, như là một công thức toán cộng, chẳng có nghĩa lý gì cả, người nghe chẳng nắm được điều gì cả ngoại trừ những khẩu hiệu và công thức rỗng tuếch nghe đã vài nghìn lần, như là: dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh, phát triển dân chủ cơ sở, nhân quyền nhân bản, tư bản xã hội, tự do kinh tế, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tự do ngôn luận, dân chủ tự do, công bình bác ái… kiểu AQ đọc diễn văn. Như là dùng computer chọn các khẩu hiệu và công thức bẳng cách may rủi và ghép lại theo cách may rủi, sau đó lên cầm micro đọc. Lâu lâu có dịp tra tấn thiên hạ.

(Nói thì dễ rồi, nghe được năm này qua năm kia mới là siêu! Mà người nói có biết là họ nói vẹt không, hay là họ thực sự hiểu được họ nói gì, mà không ai khác thấy gì cả?).

5. Mới học được đâu đó vài ba chữ mới, xổ ngay ra một chùm, trong khi chính người nói cũng chưa thật sự hiểu được nó là gì, vì mới đọc được loáng thoáng đâu đó.

6. Thích xổ cổ ngữ và ngoại ngữ dù mình chưa hiểu đến nơi.

Trong văn hóa thế giới, đôi khi mình phải kèm theo ngoại ngữ để người đọc hiểu đúng ý mình, vì nói về một câu chuyện ở Đức chẳng hạn, thì một số từ tiếng Việt không đủ chính xác để diễn tả, phải kèm theo tiếng Đức. Đó là chuyện đương nhiên. Ở đây, ta chỉ muốn nói đến các vị thích xổ La Tinh, Hán ngữ, ngoại ngữ cho dù rằng mình chẳng hiểu được sâu xa chữ mình nói.

7. Biết chỉ được một tí, mà nói là biết nhiều.

Vi dụ: “Tôi chắc chắn chuyện này nó phải thế này”, thay vì: “Theo kinh nghiệm của tôi trong hai năm nay, thì chuyện này thường là thế này. Có ngoại lệ không thì tôi chưa được gặp.”

Hay là: “Kiến thức của thầy về việc này chỉ tới đó. Mai này em có thể học cao hơn và nghiên cứu cao hơn. Rồi lúc đó em cho thầy biết kết quả nghiên cứu của em.”

8. Cứ lôi các câu trong sách ra nói, nhất là sách cổ, mà chẳng hiểu gì hoặc chẳng giải thích rõ thêm được gì.

Đây là do lối học từ chương, học thuộc lòng như vẹt mà ra. Nếu không giải thích được cho người nghe, thì đó là vì mình dốt chứ không phải người nghe dốt. Làm ơn tôn trọng sự thông minh của người nghe, và thành thật với cái dốt của mình.

9. Nói mà không ai hiểu được mới giỏi.

Thường là người viết/nói cũng chẳng biết mình viết/nói gì. Nhưng như thế mới là thông thái!

Qui luật viết/nói ngày nay: Tôi viết cho bạn, hoặc nói với bạn, mà bạn không hiểu, thì đó là do tôi viết tồi nói tồi, chứ không phải vì bạn đọc tồi nghe tồi.

Kiểu kiến thức ngày xưa của các ông đồ nho nói chữ Hán dân quê không hiểu tí gì và phục sát đất, thời bán khai đó đã qua rồi. Ngày nay, anh nấu ăn mà tôi ăn không ngon là anh nấu tồi, chứ không phải tôi ăn tồi. Anh nói tôi không hiểu , đó là vì anh không biết nói, chứ không phải tôi không biết nghe.

Các bạn có thể thêm vào vài ví dụ nữa về vấn đề kiến thức giả.

Điều quan trọng ở đây là chúng ta cần thành thật.

Thành thật là khởi nguồn của trí tuệ.

Thành thật với chính mình để biết kiến thức của mình đến đâu, mình biết đến đâu, và đâu chưa biết.

Rồi thành thật với mọi người, biết đến đâu nói biết đến đó, điều gì chưa chắc thì nói là chưa chắc, điều gì chưa biết thì nói là chưa biết.

Chỉ một chữ “thành thật” thôi, có gì phức tạp đâu. Sao mà khó quá vậy? Sao mà nhiều vấn đề quá vậy?

Nếu chúng ta tiếp tục để kiến thức giả phát triển quá nhiều trên đất nước, kiến thức thật sẽ tiếp tục bị ngộp thở mà chết, như là cây tốt bị chết ngợp giữa đám cỏ hoang.

Các vị giáo chức bị buộc phải dạy các em những điều mình không tin hay chưa tin, vì mình chưa nắm vững vấn đề hoặc mình tin là nó sai, các vị có thể làm một bước trưởng thành tâm linh rất lớn cho đời mình, bằng cách nói với thủ trưởng: “Anh làm ơn cho tôi dạy môn khác, tôi thật là không thể tự dối lòng, huống hồ là dối các em.”

Làm được như vậy là Phật tâm đó! Đó là từ bi bác ái với học trò của mình, và tích cực đóng góp vào việc phát triển tương lai của tổ quốc.

Truyền bá kiến thức mình không tin, là truyền bá kiến thức giả. Đừng làm vậy, nhất là đối với các học trò nhỏ. Giáo dục giả là tội rất lớn với tổ quốc, và với Chúa Phật, vì đó là tích cực hủy hoại đầu óc tuổi trẻ.

Trí tuệ lệ thuộc vào thành thật. Và đôi khi, can đảm.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Thứ tư, 24 tháng 2 năm 2010

Bài hôm nay

ESPAÑA CAÑI (Vũ điệu Gipsy Tây Ban Nha) và vũ điệu Paso Doble, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Trần Đình Hoành.

Yêu thương lẫn nhau, Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Thị Thu Hiền.

Tình yêu của cha mẹ , Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Đi xa , Danh Ngôn, song ngữ, chị Thanh Hằng.

Hai góc địa cầu chung ước mơ , Thơ, chị Hoa Trang.

Trên bãi dương quê nghèo , Thơ, anh Bùi Minh Vũ.

Inrasara, chàng Kazik của Mỹ Sơn văn học, Chứng Nhân, Văn Hóa, anh Trần Can.

Người họa sĩ giàu có trên phố Chapel , Chuyện Phố, Văn Hóa, chị Hoàng Khánh Hòa.

Kết hợp giữa chính sách dân tộc và bảo vệ môi trường, thiên nhiên, Trà Đàm, Văn Hóa, chị Linh Nga Niê Kdăm.

Câu trả lời của người chết , Thiền, Trà Đàm, Văn Hóa, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

ESPAÑA CAÑI (Vũ điệu Gipsy Tây Ban Nha) và vũ điệu Paso Doble

Chào các bạn,

Trong các bản nhac để khiêu vũ vũ điệu đấu bò sinh động Paso Doble, thì España Cañí là bản nhạc số 1 trên thế giới.

España Cañí có nghĩa là “Spanish Gypsy” hay Gipsy Tây Ban Nha. Gipsy là những nhóm người du sinh, gốc Romania và nói tiếng Romany, sống lang thang khắp Âu Châu, sống bằng cách làm thuê theo mùa và buôn bán lặt vặt. Họ thường dùng nhạc và vũ Flamenco hoặc múa bụng, để kêu gọi khách hàng đến quầy hàng của mình, như Sơn Đông mãi võ bán thuốc dạo.

España Cañí, còn có tên là Spanish Gypsi Dance, nguyên thủy là nhạc Flamenco cho guitar Flamenco, do Pascual Marquina Narro (1873-1948) viết vào khoảng năm 1925. Tuy nhiên vì nó quá phổ thông, ngày nay ta thường nghe bản này với dàn đại hòa tấu, hoặc với ban nhạc trong các dạ vũ.

Đây cũng là bản nhạc thường được chọn trong các cuộc biểu diễn hoặc thi đấu vũ điệu Paso Doble.

Hôm nay chúng ta sẽ nghe bản nhạc này, cùng thưởng thức một số màn trình diễn vũ điệu Paso Doble:

1. Dàn Nhạc của soạn giả, nhạc trưởng kiêm nghệ sĩ vĩ cầm Andre Rieu, với dàn vũ minh họa.

2. Dàn hòa tấu vĩ đại chỉ toàn guitar.

3. Thi đấu Paso Doble tại giải IDSF Grand Slam Final 2005.

4. Riccardo Cocchi – Yulia Zagoruychenko biểu diễn Paso Doble, Disney 2016

Chúc các bạn một ngày Paso !

Hoành
.

1. Andre Rieu – Espana Cani (DRESDEN 2008) DIGITAL TV


.

2. ESPAÑA CAÑI – Guitar Ensemble

.

3. Giải IDSF Grand Slam Final 2005 – Vũ Điệu Paso Doble

.

4. Riccardo Cocchi – Yulia Zagoruychenko | Disney 2016 | Showdance Paso Doble

Hai góc địa cầu chung ước mơ

Xuân viễn xứ có hoa băng tuyết
Nhớ cố hương Mai, Cúc vàng tươi
Trùng dương vạn ước lần tao ngộ
Hòa khúc thi ca ấm nụ cười

Quê hương nắng mới tràn về đây
Cho sắc muôn hoa rực rỡ ngày
Mơ buổi tao phùng vần xuân kết
Thơ-nhạc giao thoa ngát trời mây

Mộng ước.  Cùng nhau mộng ước thôi
Trải lòng vừa vặn nối thêm lời
Cho xuân hai góc đời riêng biệt
Vẫn chung ý thắm nhé bạn ơi!…

hoatrang, 23.Feb010

Trên bãi dương quê nghèo

Tôi ước có lần về Đức Lợi
Nằm ngủ trên cát Bãi Ngang
Nhìn biển, nhìn sóng, nhìn ghe trên bờ
Nhìn những ngư dân mờ dần trong bóng tối
Bây giờ những con cá bơi xa bờ
Quẳng câu chỉ là trò chơi con nít
Nhưng tôi muốn thấy
Đêm nằm hong gió biển mặn mòi
Đặt tay lên cát li ti trắng
Nơi những bàn chân trẻ xa xưa
Kéo co, đá banh, ngủ quên bỏ học bài khuya
Tôi ước có lần về Đức Lợi
Dù cha không còn nữa, mẹ đã đi xa
Đó là ước mơ chân nhất
Ôi đôi mắt hiền của mẹ
Hiển hiện chợ xưa tay nách rỗ gạo một mình
Cứ như đâu đây
Mà vô thường
Băng qua vàng vọt những hàng dương
Dẫu chẳng còn một khỏanh cát trắng
Căn nhà nhỏ có còn thùng sách cũ
Mẹ bán trong mùa bão táp
Ngày rời quê trong nỗi buồn
Tôi biết
Mẹ tha thứ cho con lọt ra trên cát
Rồi biền bịêt
Nhưng tôi hiểu bài học đớn đau khi thiếu quê
Không có nơi nào hơn em ơi
Tôi xin một lần
Không thể đến nhà hàng say với người ta
để chẳng còn biết đường về Đức Lợi
Tôi xoa đôi tay tìm hơi ấm
Và mong sao những chiếc thuyền không nằm trên Bãi Ngang
Những con sóng không nhỡn nhơ ở bờ dương
Chẳng ấm ớ để trách ai
Từng đêm, đêm, tôi hỏi tôi
Những mẹ, những chị và em có còn đi quơ dương liễu
Có còn đi gánh cá ở Cửa Lỡ
Chở mắm qua đò hát hò không ngủ
Đi xem phim trắng đen mà cười vui như đám cưới
Tôi hỏi tôi
Tuổi trẻ nay còn đâu mà đắp cát xây thành chắn sóng
Mà lau tiếng thở dài của mẹ
Vá lại những vết nức dưới bàn chân cha
Có thể tôi tự trồng tôi như một cây dương liễu
Trên bãi dương quê nghèo
Và không mơ về những điều em không muốn
Cũng chẳng để làm gì
Biết đâu đó là cơ hội để được yên vui.

Bùi minh vũ. 1-2010

Inrasara, chàng Kazik của Mỹ Sơn văn học

Đó chỉ là một cách nói ví von, nhưng rất đúng. Nếu ngày trước không có Kiến Trúc Sư Kasimierz Kwiatkowsky (người Balan -thường gọi thân mật là Kazik), không nằm gai nếm mật chịu muôn ngàn gian khổ thiếu thốn thì chúng ta có thể đã không có một Mỹ Sơn thánh địa hôm nay , chúng ta hãy nghe lại một nhận định của Kazik, khi lần đầu bắt gặp Mỹ Sơn :

    “Người Chăm cổ đã biết thổi hồn vào đất đá; biết dựa vào thiên nhiên để làm nên một Mỹ Sơn tráng lệ , thâm nghiêm và hùng vĩ. Đây là một bảo tàng kiến trúc điêu khắc nghệ thuật vô giá của nhân loại mà chúng ta còn lâu mới hiểu hết.”


Công lao của Kazik bỏ ra cho Mỹ Sơn không nhỏ, ông đã từng thoát chết khi đi cùng đội rà phá bom mìn còn sót lại , đã từng ăn ngủ cùng Mỹ Sơn trong hoàn cảnh thiếu thốn đến cơ cực trong những năm 1980 khi đất nước còn chật vật muôn vạn khó khăn, ông đã từ bỏ những công việc có lương cao và cuộc sống đầy đủ ở quê nhà chỉ để sống cùng và với Mỹ Sơn, tình yêu nghệ thuật kiến trúc cổ của ông làm chúng ta trân trọng và không khỏi cảm động.

Chỉ tiếc một điều khi công lao của ông được đền đáp là lúc ông không còn bên cạnh chúng ta nữa, ông mất năm 1997 thì năm 1999 Mỹ Sơn chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Tượng của ông sẽ được dựng tại Hội An, và sẽ có một con đường mang tên ông ở đô thị cổ này, đó cũng là một cách chúng ta nhớ ơn những gì ông đã làm cho đât nước Việt thân yêu của chúng ta.

Năm 1993, có một bài thơ mang tên Kazik của một thi sĩ lạ hoắc: Inrasara, một nhà thơ Chăm.

    KAZIK

    Như vỗ cánh bay ngược Thời Gian
    bằng đôi tay đại bàng
    Kazik
    bắt mạch đống vụn tàn
    song thoại hồn thiên cổ …

    vỡ lớp bụi ngày tháng và năm
    cho lộ thiên Quá Khứ
    đánh thức Hội An, dựng dậy Mỹ Sơn
    sống lại một trời lẫm liệt…

Đây là một bài thơ rất hay, của một thi sĩ đại diện cho cả cộng đồng Chăm nhỏ bé nói lên lời tạ ơn với Kiến trúc sư Kazik, để rồi sau đó, cũng chính anh trở thành một Kazik trong văn học Chăm, ( và cả văn học Việt ): Inrasara

Năm 1997, giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam được trao cho tập thơ Tháp Nắng của một thi sĩ Chăm : Inrasara.

Nhiều người cho đó là một hiện tượng lạ , nhưng đến 2005 một lần nữa, Inrasara khẳng định tài năng thực sự của mình bằng một cú đúp ngoạn mục: giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam lần thư 2 và giải thưởng Văn Học Đông Nam Á với tập thơ : Lễ Tẩy Trần Tháng Tư

Vinh hạnh cho Inrasara, cho cộng đồng Chăm và cho cả dân tộc Việt.

Đọc thơ Inrasara, luôn cho ta nhiều cảm xúc khác nhau, tựa như xem một bức tranh vẽ lên toàn cảnh xã hội Chăm, buồn và đẹp, u uẩn và kiêu hãnh, và làm cho người xem luôn cảm thấy day dứt.

    Thấm đẫm sương mù quá khứ
    chàng làm thơ
    những vần thơ
    chảy máu…
    những vần thơ
    lấp lánh
    như giọt nước mắt

    giọt nước mắt
    không rơi được
    chảy ngược
    lên trời
    thành những cánh sao …

    ( thơ Trần Can tặng Inrasara )

Không chỉ làm thơ, Inrasara còn dành rất nhiều tâm huyết và sức lực để nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật và cóp nhặt văn học Chăm, sắp xếp lại cho có hệ thống. Một công việc rất vất vả mà anh ròng rã gánh vác suốt thời tuổi trẻ, đơn thuần chỉ vì tình yêu đối với quê hương và dân tộc Chăm của mình, thật đáng trân trọng.

Từ Inrasara, mọi người đã có một cái nhìn Khác về Chăm.
Đó là điều lớn nhất mà Inrasara đã làm được.
Và nhiều người ( trong đó có tôi, đã phải tự mình đi tìm câu trả lời câu hỏi mà Inrasara đặt ra trong những bài thơ nhức nhối )

Qua những bể dâu lịch sử, người Chăm đã trở thành một bộ phận trong cộng đồng Việt Nam, tôi tin rằng từ sự khai mở quá khứ của Inrasara, những trường ca Chăm tuyệt đẹp: Ariya Xah Pakei, Cam Bini, Bini- Cam, Ppo Parơng, Glơng Anak… sẽ được phổ biến rộng rãi, và sẽ được đưa vào văn học sử Việt Nam.

Khu vườn Văn học sử thêm những bông hoa đầy hương sắc, tại sao không?

Tôi rất thích câu nói : Không có dân tộc nào mất đi, cho dù những biến thiên lịch sử có thể làm mất tên đất nước họ trên bản đồ thế giới, nhưng dân tộc ấy vẫn mãi trường tồn cùng với các dân tộc khác, cho đến ngày cuối cùng của loài người trên mặt đất này. ..

Inrasara, một người con Chăm đẹp đẽ, rất truyền thống và thấm đẫm tinh thần hiện đại, quá khứ và tương lai luôn nối liền trong anh, như một dòng chảy xuyên suốt, không bao giờ ngưng nghỉ …

Xin cảm ơn Kazik, xin cảm ơn Inrasara, những người khai mở cho quá khứ linh hiển lộ thiên …

Trần Can

* Kiếntrúc sư Kasimierz Kwiatkowsky ( tức Kazik ) sinh 1944 tại Lublin, Balan . Mất 1997 tại Huế, Việt Nam

Tư duy tích cực mỗi ngày