Category Archives: Văn Hóa

Tiết học cuối cùng

Tôi bắt đầu tới trường rất muộn vào sáng hôm đó và lo sợ sẽ bị trách mắng, đặc biệt là bởi vì Thầy Hamel đã nói rằng thầy sẽ hỏi chúng tôi về phần động tính từ, mà tôi lại không biết một chữ gì về chúng. Trong một khoảnh khắc tôi nghĩ ngay đến việc trốn học và dành cả ngày để lang thang đây đó. Khí trời thực ấm áp, thực sáng sủa. Tiếng chim hót vang lên từ phía cánh rừng; và ở cánh đồng trống phía sau xưởng cưa, bọn lính Phổ đang tập trận. Tất cả những điều này đều hấp dẫn hơn rất nhiều so với những nguyên tắc của động tính từ, nhưng tôi đủ sức để chống cự lại, và hấp tấp chạy đến trường.

Khi tôi băng qua tòa thị chính, có một đám đông đứng trước tấm bảng thông báo. Trong hai năm nay tất cả những tin xấu đề đến từ tấm bảng đó – Tin chiến bại, tin tuyển binh, tin về những mệnh lệnh của sĩ quan chỉ huy – và tôi tự nhủ, chân vẫn không dừng :

“Điều gì đang xảy ra đây ?”

Sau đó, khi tôi đang chạy qua nhanh hết sức có thể, bác thợ rèn Wachter, người đang đứng ở đó, cùng với anh chàng thực tập, đang đọc tấm bảng, gọi với theo tôi:

“Đừng chạy nhanh thế chứ, cậu bé; cháu còn cả khối thời gian để đến trường cơ mà!”

Tôi nghĩ là ông ấy đang giễu cợt tôi, và tôi thở hổn hển khi đến được cái vườn nhỏ của thầy Hamel.

Thường lệ thì, khi lớp học bắt đầu, luôn có những âm thanh ầm ĩ có thể nghe ngay cả khi đang ở ngoài đường, tiếng mở đóng học bàn , tiếng ôn bài như một bản hợp xướng, rất ồn ào, với những cánh tay bịt chặt tai lại để học bài tốt hơn, và tiếng đập bàn của cái thước quá khổ của thầy nữa. Nhưng bây giờ không khí im ắng hoàn toàn! Tôi hy vọng mình có thể tiến vào lớp mà không bị ai nhìn thấy. Tuy nhiên, dĩ nhiên là ngày hôm dó tất cả mọi thứ đều im lặng như sáng Chủ Nhật. Qua cửa sổ tôi thấy những bạn học của tôi, tất cả đều đã ngồi vào chỗ, và Thầy Hamel đang đi lên đi xuống với cây thước sắt kinh khủng trên tay. Tôi phải mở cánh cửa và đi vào trước mắt mọi người. Bạn có thể tưởng tượng là tôi thẹn và sợ đến thế nào

Nhưng không có gì xảy ra cả. Thầy Hamel nhìn tôi và nói rất tử tế:

“Ngồi vào chỗ, nanh lên em Franz. Lớp học đã bắt đầu mà không có em đấy.”

Tôi nhảy qua cái ghế dài và ngồi xuống cái bàn học của tôi. Cho đến lúc đó, khi tôi đã bớt lo sợ, tôi thấy thầy của mình đang mặc cái áo khoác đẹp màu xanh, cái áo sơ mi kiểu, và một cái mũ lụa nhỏ màu đen, tất cả đều được thêm thắt, bộ đồ mà thầy chưa bao giờ mặt ngoại trừ những ngày kiểm tra và những ngày trao giải. Bên cạnh đó, cả lớp có vẻ như rất lạ và trang nghiêm. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả là ở dãy bàn cuối, cái dãy bàn luôn trống, những người dân làng đang ngồi lặng im như chúng tôi; cụ Hauser, với cái mũ tam giác của ông ấy, thị trưởng cũ, trưởng phòng bưu điện cũ, và nhiều người khác ngồi bên cạnh. Mọi người đều có vẻ buồn bã; và cụ Hauser mang theo một quyển sách mở lòng cũ, nhăn ở góc, và ông ấy để mở nó trên đầu gối với cặp kính của cụ nằm trên trang sách.

Khi tôi đang tự hỏi về tất cả những điều đó, Thầy Hamel ngồi lên ghế, và, với cùng một giọng trang nghiêm và tử tế mà thầy đã dùng với tôi, thầy nói:

“Các học trò của tôi, đây là tiết học cuối cùng tôi sẽ dạy các em. Lệnh đến từ Berlin là chỉ được dạy tiếng Đức ở những trường ở Alsace và Lorraine. Thầy mới sẽ đến vào hôm sau. Đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng. Tôi muốn các em thực chú ý.”

Thực là một tin sét đánh đối với tôi!

Ôi, khốn khổ thay; đó là những gì họ treo lên ở tòa thị chính!

Tiết học tiếng Pháp cuối cùng của tôi! Tại sao, tôi chỉ mới biết viết! Tôi sẽ không được học thêm gì nữa! Giờ tôi phải ngừng lại sao! Ôi, tôi thực sự luyến tiếc rằng tôi đã không học bài, chỉ vì ham tìm trứng chim, hay ham đi trượt trên ngọn đồi Saar! Những quyển sách của tôi, chỉ mới một khoảnh khắc trước thôi, chúng như là những mối phiền toái, thực nặng nề khi mang chúng; thế mà bây giờ, quyển sách ngữ pháp của tôi, quyển sách sử thánh của tôi, chúng như là những người bạn cũ mà tôi không thể nào vứt bỏ. Và cả thầy Hamel nữa; cái suy nghĩ là thầy sẽ đi xa và tôi sẽ không bao giờ gặp lại thầy nữa làm tôi quên hết mọi điều về cây thước của thầy cũng như thầy là một người cáu kỉnh như thế nào.

Khốn khổ thay! Để tôn trọng ngày tiết học cuối cùng này, thầy đã mặc bộ đồ mà thầy chỉ mặc vào những ngày chủ nhật đẹp trời, và bây giờ tôi đã hiểu tại sao tất cả những người già trong làng lại ngồi tại dãy ghế cuối phòng học. Đó là bởi vì họ cũng luyến tiếc rằng học đã không đến lớp nhiều hơn. Đây là cách mà họ cảm ơn người thầy của chúng tôi vì bốn mươi năm tận tụy phục vụ; cũng là cách mà họ biểu lộ niềm tôn trọng đối với đất nước mà không còn là của họ nữa .

Khi tôi đang nghĩ về những điều này, tôi nghe tên tôi được gọi. Tới phiên tôi trả bài. Làm sao tôi có thể nói được cái nguyên tắc kinh khủng về động tính từ này từ đâu đến cuối được chứ? Tôi bối rối nói được chữ đầu tiên rồi đứng đó, giữ chặt cạnh bàn, tim đập mạnh, và không dám nhìn lên. Tôi nghe thầy Hamel nói với tôi:

“Thầy sẽ không la em đâu, Franz à; Em chắc hẳn cảm thấy đủ tệ rồi. Hãy nhìn lại xem! Mỗi ngày chúng ta đều tự nhủ rằng : “Ah, tôi có cả khối thời gian. Tôi sẽ học vào ngày mai.” Và bây giờ các bạn nhận ra rằng chúng ta đã tới đâu. Ah, đó là một vấn đề lớn lao đối với Alsace; Cô ấy hoãn việc học đến ngày mai. Bây giờ những người bạn ngoài kia có quyền nói với bạn: “Sao lại như thế; bạn giả đò là người Pháp phải không? Vì bạn chẳng thể nói hay viết được chính ngôn ngữ của bạn” Nhưng em không phải là kẻ tệ nhất đâu, Franz khốn khổ à. Tất cả chúng ta đều có nhiều việc để tự trách mắng mình.

“Bố mẹ các trò không đủ ló lắng để bắt các em học. Họ thích các em làm việd trên những cánh đồng hay tại các nhà máy hơn, để có thêm một ít tiền. Và tôi? Tôi cũng đáng trách. Tôi thường cho các em tưới cây thay tôi thay vì để các em học. Và khi tôi muốn đi câu cá, tôi cũng cho các em nghỉ học

Sau đó, từ điều này đến điều khác, Thầy Hamel tiếp tục nói về tiếng Pháp, rằng nó là ngôn ngữ đẹp nhất trên thế giới – là thứ rõ ràng nhất, lo-gic nhất; rằng chúng ta phải bảo vệ nó giữa chúng ta và không bao giờ được phép quên nó, vì khi một dân tộc bị bắt làm nô lệ, chừng nào họ còn giữ được ngôn ngữ của chính mình thì họ còn giữ được chiếc chìa khóa để thoát khỏi kiếp nô lệ. Sau đó thầy mở quyển sách ngữ pháp ra và đọc bài học cho chúng tôi. Tôi thực sự ngạc nhiên vì tại sao tôi hiểu bài rất nhanh. Tất cả những điều thầy giảng thực dễ hiểu, thực sự rất dễ hiểu! Tôi cũng nghĩ rằng, có lẽ đó là vì tôi chưa bao giờ lắng nghe cẩn thận hết mức, cũng như thầy chưa bao giờ giải thích mọi thứ kiên nhẫn như thế này. Nó như thể là người đàn ông khốn khổ này muốn truyền cho chúng tôi tất cả những gì ông biết trước khi ra đi, và cố thực hiện hết sức mình.

Sau phần ngữ pháp, chúng tôi học viết. Vào ngày đó, thầy Hamel có những bản in mới cho chúng tôi, được viết bởi một hoa tay đẹp: France, Alsace, France, Alsace. Chúng như là những lá cờ nhỏ tung bay ở khắp mọi nơi trong căn phòng học, được gắn trên thanh kéo trên cùng của cái bàn học. Bạn nên thấy mọi người tập trung làm việc thế nào, và lớp học đã trở nên im lặng ra sao! Âm thang duy nhất là tiếng ngòi bút chạy trên giấy. Có một vài con bọ cánh cứng bay vào; nhưng chẳng ai quan tâm đến chúng, thậm chí là những cậu nhỏ nhất đang chăm chú viết những chữ ngoằn ngoèo như móc câu, như thể chúng cũng là tiếng Pháp. Trên mái nhà những chú chim bồ câu đang chậm rãi kêu gù gù, và tôi nhủ thầm:

“ Liệu bọn chúng có bắt tất cả phải hát bằng tiếng Đức, kể cả đó là những con bồ câu?”

Bất cứ khi nào tôi ngước lên khỏi bài viết của tôi, tôi thấy thầy Hamel đang ngồi bất động trên ghế và liếc nhìn từ vật này sang người khác, như thể thầy muốn in sâu hình ảnh căn phòng với mọi đồ vật vào trong tâm trí mình. Ồ! 40 năm thầy đã luôn ở đúng một nơi, với khu vườn nhỏ ở ngoài và với cái lớp học đang ở trước mặt thầy, vẫn như vậy. Chỉ có những cái bàn học và những dãy ghế là mòn đi theo năm tháng; những cây óc chó ngoài vườn đã cao hơn, và cây hoa bia mà thầy tự trồng đã quấn quanh cửa sổ, vươn lên tận mái nhà. Thầy chắc hẳn phải rất đau lòng khi phải bỏ tất cả lại; khi nghe tiếng em thầy đóng gói đồ đạc ở nhà trên! Vì họ phải rời nơi này vào ngày mai


Nhưng thầy đủ dũng cảm để dạy hết tiết học. Sau phần viết, chúng tôi học về lịch sử, và sau đó các em nhỏ đánh vần từng chữ ba, be, bi ,bo ,bu. Ở cuối phòng học, cụ Hauser đã đeo kính vào, cầm cuốn sách vở lòng cũ bằng cả hai tay, cụ cũng bắt đầu đánh vần với các em.Và bạn cũng có thể thấy rằng, cụ đang khóc; Giọng cụ run run vì xúc cảm, thực ngộ là khi nghe cụ đọc, tất cả chúng tôi đều muốn vừa khóc vừa cười. Ah, tôi nhớ rất rõ về buổi học cuối cùng ấy!

Đột nhiên chuông đồng hồ nhà thờ điểm 12h. Sau đó là hồi chuông cầu kinh Đức Bà. Cùng một lúc tiếng toán quân Phổ vừa quay về từ bãi tập vang lên bên dưới của sổ nơi chúng tôi học. Thầy Hamel đứng bật dậy khỏi ghế, mặt thầy tái nhợt đi. Tôi chư từng thấy thầy cao đến như vậy

“Các bạn của tôi” Thầy nói “Tôi-Tôi-“ nhưng có điều gì đó làm thầy nghẹn lại. Thầy không thể tiếp tục.

Sau đó thầy quay lại tấm bảng đen, cầm một viên phấn, và, bằng hết sức mình, thầy viết to hết cỡ dòng chữ:

“Nước Pháp muôn năm!”

Sau đó thầy dừng lại rồi dựa đầu vào tường, và, không nói lời nói, thầy ra hiệu cho chúng tôi:

“Lớp học kết thúc – các em có thể về. “

    Người dịch: Nguyễn Đình Nguyên, lớp 9, trường THCS Phan Chu Trinh
    Buôn Ma Thuột.

.

The Last Lesson

I started for school very late that morning and was in great dread of a scolding, especially because M. Hamel had said that he would question us on participles, and I did not know the first word about them. For a moment I thought of running away and spending the day out of doors. It was so warm, so bright! The birds were chirping at the edge of the woods; and in the open field back of the sawmill the Prussian soldiers were drilling. It was all much more tempting than the rule for participles, but I had the strength to resist, and hurried off to school.

When I passed the town hall there was a crowd in front of the bulletin-board. For the last two years all our bad news had come from there—the lost battles, the draft, the orders of the commanding officer—and I thought to myself, without stopping:

“What can be the matter now?”

Then, as I hurried by as fast as I could go, the blacksmith, Wachter, who was there, with his apprentice, reading the bulletin, called after me:

“Don’t go so fast, bub; you’ll get to your school in plenty of time!”

I thought he was making fun of me, and reached M. Hamel’s little garden all out of breath.

Usually, when school began, there was a great bustle, which could be heard out in the street, the opening and closing of desks, lessons repeated in unison, very loud, with our hands over our ears to understand better, and the teacher’s great ruler rapping on the table. But now it was all so still! I had counted on the commotion to get to my desk without being seen; but, of course, that day everything had to be as quiet as Sunday morning. Through the window I saw my classmates, already in their places, and M. Hamel walking up and down with his terrible iron ruler under his arm. I had to open the door and go in before everybody. You can imagine how I blushed and how frightened I was.

But nothing happened. M. Hamel saw me and said very kindly:

“Go to your place quickly, little Franz. We were beginning without you.”

I jumped over the bench and sat down at my desk. Not till then, when I had got a little over my fright, did I see that our teacher had on his beautiful green coat, his frilled shirt, and the little black silk cap, all embroidered, that he never wore except on inspection and prize days. Besides, the whole school seemed so strange and solemn. But the thing that surprised me most was to see, on the back benches that were always empty, the village people sitting quietly like ourselves; old Hauser, with his three-cornered hat, the former mayor, the former postmaster, and several others besides. Everybody looked sad; and Hauser had brought an old primer, thumbed at the edges, and he held it open on his knees with his great spectacles lying across the pages.

While I was wondering about it all, M. Hamel mounted his chair, and, in the same grave and gentle tone which he had used to me, said:

“My children, this is the last lesson I shall give you. The order has come from Berlin to teach only German in the schools of Alsace and Lorraine. The new master comes to-morrow. This is your last French lesson. I want you to be very attentive.”

What a thunderclap these words were to me!

Oh, the wretches; that was what they had put up at the town-hall!

My last French lesson! Why, I hardly knew how to write! I should never learn any more! I must stop there, then! Oh, how sorry I was for not learning my lessons, for seeking birds’ eggs, or going sliding on the Saar! My books, that had seemed such a nuisance a while ago, so heavy to carry, my grammar, and my history of the saints, were old friends now that I couldn’t give up. And M. Hamel, too; the idea that he was going away, that I should never see him again, made me forget all about his ruler and how cranky he was.

Poor man! It was in honor of this last lesson that he had put on his fine Sunday clothes, and now I understood why the old men of the village were sitting there in the back of the room. It was because they were sorry, too, that they had not gone to school more. It was their way of thanking our master for his forty years of faithful service and of showing their respect for the country that was theirs no more.

While I was thinking of all this, I heard my name called. It was my turn to recite. What would I not have given to be able to say that dreadful rule for the participle all through, very loud and clear, and without one mistake? But I got mixed up on the first words and stood there, holding on to my desk, my heart beating, and not daring to look up. I heard M. Hamel say to me:

“I won’t scold you, little Franz; you must feel bad enough. See how it is! Every day we have said to ourselves: ‘Bah! I’ve plenty of time. I’ll learn it to-morrow.’ And now you see where we’ve come out. Ah, that’s the great trouble with Alsace; she puts off learning till to-morrow. Now those fellows out there will have the right to say to you: ‘How is it; you pretend to be Frenchmen, and yet you can neither speak nor write your own language?’ But you are not the worst, poor little Franz. We’ve all a great deal to reproach ourselves with.

“Your parents were not anxious enough to have you learn. They preferred to put you to work on a farm or at the mills, so as to have a little more money. And I? I’ve been to blame also. Have I not often sent you to water my flowers instead of learning your lessons? And when I wanted to go fishing, did I not just give you a holiday?”

Then, from one thing to another, M. Hamel went on to talk of the French language, saying that it was the most beautiful language in the world—the clearest, the most logical; that we must guard it among us and never forget it, because when a people are enslaved, as long as they hold fast to their language it is as if they had the key to their prison. Then he opened a grammar and read us our lesson. I was amazed to see how well I understood it. All he said seemed so easy, so easy! I think, too, that I had never listened so carefully, and that he had never explained everything with so much patience. It seemed almost as if the poor man wanted to give us all he knew before going away, and to put it all into our heads at one stroke.

After the grammar, we had a lesson in writing. That day M. Hamel had new copies for us, written in a beautiful round hand: France, Alsace, France, Alsace. They looked like little flags floating everywhere in the school-room, hung from the rod at the top of our desks. You ought to have seen how every one set to work, and how quiet it was! The only sound was the scratching of the pens over the paper. Once some beetles flew in; but nobody paid any attention to them, not even the littlest ones, who worked right on tracing their fish-hooks, as if that was French, too. On the roof the pigeons cooed very low, and I thought to myself:
“Will they make them sing in German, even the pigeons?”

Whenever I looked up from my writing I saw M. Hamel sitting motionless in his chair and gazing first at one thing, then at another, as if he wanted to fix in his mind just how everything looked in that little school-room. Fancy! For forty years he had been there in the same place, with his garden outside the window and his class in front of him, just like that. Only the desks and benches had been worn smooth; the walnut-trees in the garden were taller, and the hopvine that he had planted himself twined about the windows to the roof. How it must have broken his heart to leave it all, poor man; to hear his sister moving about in the room above, packing their trunks! For they must leave the country next day.

But he had the courage to hear every lesson to the very last. After the writing, we had a lesson in history, and then the babies chanted their ba, be bi, bo, bu. Down there at the back of the room old Hauser had put on his spectacles and, holding his primer in both hands, spelled the letters with them. You could see that he, too, was crying; his voice trembled with emotion, and it was so funny to hear him that we all wanted to
laugh and cry. Ah, how well I remember it, that last lesson!

All at once the church-clock struck twelve. Then the Angelus. At the same moment the trumpets of the Prussians, returning from drill, sounded under our windows. M. Hamel stood up, very pale, in his chair. I never saw him look so tall.

“My friends,” said he, “I—I—” But something choked him. He could not go on.

Then he turned to the blackboard, took a piece of chalk, and, bearing on with all his might, he wrote as large as he could:

“Vive La France!”

Then he stopped and leaned his head against the wall, and, without a word, he made a gesture to us with his hand:

“School is dismissed—you may go.”

Trái tim nhà giáo

Như các bạn tôi chọn ngành sư phạm
Vì tôi yêu những đôi mắt ngây thơ
Long lanh sáng tròn xoe tinh nghịch
Nét xinh tươi ngoan ngoãn vô tư

    ***

Như các bạn tôi một lòng tâm huyết
Đưa các em vững bước đi lên
Bằng khối óc, bằng trái tim nhà giáo
Bằng tấm lòng yêu trẻ đến vô cùng

    ***

Trang giáo án tôi làm người họa sĩ
Vẽ con đường các cháu đến tương lai
Của đất nước hòa bình độc lập
Mang trái tim nhân hậu an bình

    ***

Có người bảo làm nghề nhà giáo
Như lái đò đưa khách sang sông
Bến trống vắng người lái đò hiu quạnh
Sang sông rồi khách sẽ đi xa

    ***

Ta không ngại vì trong nền văn hóa
Chúng ta là những chiến sĩ tiên phong
Dù hy sinh thầm lặng
Hay gặp muôn vạn những khó khăn

    ***

Ta không ngại vì ta là nhà giáo
Niềm tự hào nhà giáo Việt Nam

Minh Tâm

Đóa Hồng Của Cô

“Cô ơi,
Cô đã dùng tim mình để thắp sáng trái tim em,
dùng tình yêu để dạy em biết cách yêu thương,
có cô em cảm thấy thế giới này thật ấm áp….”

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, em xin gửi đến tất cả các thầy các cô, đặc biệt là chị Huệ, anh Ái, mama của em, và mama của Khánh Hòa nữa nhỉ, lời chúc tốt đẹp nhất. Kính chúc thầy cô cùng gia đình sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong lĩnh vực giảng dạy nghiên cứu.

Trong ngày đặc biệt này em xin phép cả nhà cho em được thử sức mình trong lĩnh vực thơ văn , em nghĩ là nó không được hay và đúng luật nhưng chủ yếu là để mọi người cùng vui thôi ạ. Bài thơ có tựa đề “Đóa hồng của cô”, sau đây em xin được mời cả nhà cùng thưởng thức:
.

Đóa hồng của cô

Bạn dâng lên một đóa hoa,
Tôi dâng lên một đóa hoa,
Chúng ta cùng tết thành một bó hoa lớn,
Để dâng tặng người cô thân yêu.
Cô là người gieo hạt giống,
Mồ hôi của cô là nguồn nước cho những mầm non.
Mắt của cô sáng như những vì sao
Giọng hát của cô như dòng suối nhỏ,
Đem lại niềm vui cho tất cả mọi người.
Dù cho chúng ta có đi xa đến đâu
Sẽ mãi ghi nhớ tình thương của cô,
Dù cho chúng ta có đi xa đến đâu
Vẫn mãi ghi nhớ lời dạy của cô.
Dù cho chúng ta có đi xa đến đâu,
Vẫn mãi ghi nhớ mình là một đóa hồng của cô.
…..

Trong ngày đặc biệt này em mong được nhìn thấy nụ cười của mẹ, chị Huệ, anh Ái rất nhiều.

Kiều Tố Uyên

Giới thiệu Hanoigrapevine: “Tôi biết điều đó từ Grapevine”

Chào các bạn,

Dạo này mình chuẩn bị phần  tin sáng cho ĐCN và điều đó khiến mình để ý đến những điều gì đang xảy ra quanh trị trấn chúng ta hơn. Và một điều thú vị mình phát hiện ra là trang web Hanoigrapevine.com.

Mình thật ngạc nhiên.  Hà Nội Grapevine là gì vậy? Cái tên gì nghe ngộ ghê. Dưới đây là giới thiệu của Hà Nội Grapevine về mình.  🙂

“Tôi biết điều đó từ Grapevine” :-)

1. Giới thiệu Hanoigrapevine

Grapevine là một dự án của nghệ sỹ người Canada, Brian Ring. Ông đến Hà Nội lần đầu vào tháng 1/1996 và từ đó đến nay, dành một phần lớn cuộc sống của ông cho Hà Nội.

Nhưng thật ra thì dự án Grapevine không liên quan gì đến nho và càng không liên quan đến

rượu vang, vậy thì…

Tại sao lại gọi là Grapevine?

Tên gọi của dự án bắt nguồn từ một câu nói xa xưa trong ngôn ngữ tiếng Anh – “Tôi biết điều đó từ Grapevine” – có nghĩa là thông tin được nhận từ một nguồn không chính thức, thường là qua liên hệ cá nhân. Tin được truyền từ người này đến người khác, giống như rượu vang là kết quả của sự kết hợp các chùm nho. Khi tôi bắt đầu làm blog này, cái tên Grapevine có vẻ rất phù hợp vì thông tin tôi đưa lên web là những điều mà tôi nghe thấy hoặc biết thông qua nhiều nguồn khác nhau về các sự kiện diễn ra ở Hà Nội

Câu nói cũng được thể hiện qua giai điệu khá quen thuộc với nhiều người của một bài hát R&B phổ biến từ những năm cuối của thập niên 60. “Tôi biết điều đó từ Grapevine” được rất nhiều nghệ sỹ thu âm, nhưng có lẽ nổi tiếng nhất phải kể đến Marvin GayeCreedence Clearwater Revival.

Bạn có thể đọc được một lời giải thích khác về câu nói/giai điệu này hay về nguồn gốc của bài hát và về những người đã từng hát nó.

Trong khi đọc, hãy lắng nghe Marvin Gaye hay Creedence thể hiện bài hát:


Marvin Gaye I Heard It Through The Grapevine (1968)

.

Heard It Through The Grapevine- Creedence Clearwater Revival

TB: Grapevine chuyển đến địa chỉ này vào tháng 5/2008. Grapevine bắt đầu từ một trang web miễn phí trên wordpress.com. Trên 260 bài đã đầu tiên vẫn lưu ở trang Grapevine cũ.

I Heard It Through The Grapevine
– Marvin Gaye

Ooh, I bet you’re wondering how I knew
’bout your plans to make me blue
With some other guy you knew before
Between the two of us guys you know I love you more
It took me by surprise I must say
When I found out yesterday
Don’t you know that I

Heard it through the grapevine
Not much longer would you be mine
Oh I heard it through the grapevine
Oh I’m just about to lose my mind
Honey, honey yeah
(Heard it through the grapevine)
(Not much longer would you be my baby, ooh, ooh, ooh)

I know a man ain’t supposed to cry
But these tears I can’t hold inside
Losing you would end my life you see
’cause you mean that much to me
You could have told me yourself
That you love someone else
Instead I

Heard it through the grapevine
Not much longer would you be mine
Oh I heard it through the grapevine
And I’m just about to lose my mind
Honey, honey yeah
(Heard it through the grapevine)
(Not much longer would you be my baby, ooh, ooh, ooh, ooh, ooh)

People say believe half of what you see
Son, and none of what you hear
But I can’t help being confused
If it’s true please tell me dear
Do you plan to let me go
For the other guy you loved before?
Don’t you know I

Heard it through the grapevine
Not much longer would you be mine
Baby I heard it through the grapevine
Ooh I’m just about to lose my mind
Honey, honey yeah
(Heard it through the grapevine)
(Not much longer would you be my baby, yeah, yeah, yeah, yeah)

Honey, honey, I know
That you’re letting’ me go
Said I heard it through the grapevine

Heard it through the grapevine

2. Một số suy nghĩ:

Mình tới thăm trang nhà cũ của Hanoi Grapevine trên WordPress blog và biết được câu chuyện 🙂

Nghệ sĩ Brian muốn tìm thông tin về những hoạt động nghệ thuật đương đại, như triển lãm mỹ thuật, hát opera, những buổi trò chuyện trí tuệ mà không tìm ra qua những kênh tin chính thức. Và những thông tin ông biết được là hầu hết đều qua truyền miệng 🙂

Để giúp cho những hoạt động văn hóa – trí tuệ được biết đến nhiều hơn,  ông Brian đã lập một wordpress blog và post dần dần các thông tin sự kiện hơn một năm ròng cũng như kêu gọi mọi người góp tin, trước khi thành lập trang web chính thức Hanoigrapevine. 🙂

Như vậy, giới trí thức phương Tây và các bạn Việt Nam ở Hà Nội có thông tin về các tụ điểm trí tuệ để đến chơi 🙂

Mình nhìn ra được, các bạn phương Tây đến những thành phố lớn của Việt Nam như Hà Nội và HCMC để làm việc cũng có những nhu cầu văn hóa – trí tuệ của họ, như lập nhóm chơi thể thao, lập nhóm đi xem các sự kiện văn hóa Tây phương, tìm hiểu văn hóa Việt Nam, chơi nhạc và trao đổi kiến thức, cùng học tiếng  Việt. Qua thời gian, những nhóm đó ngày càng lớn lên. 🙂

Với các bạn nước ngoài , thông tin cho cộng đồng cần phải để ở nơi công cộng – bất kể thông tin về sự kiện nhỏ hay lớn. Một nhà thờ mới thành lập chưa có mấy thành viên nhưng không thể thiếu website, một sự kiện gì nhóm họp vui vẻ cho tất cả mọi người đều được để trên Internet, phổ biến rộng rãi bằng các tờ rơi ở siêu thị, trường học để ai quan tâm tới dự, kết với với mời trực tiếp 🙂Ba Vì Bikeride :-)

Họ lập bảng thông tin về các nhóm ở Hà Nội.

Cách làm đó thật hay, thật hiệu quả và đem tới nhiều ích lợi cho cộng đồng.

Tại sao không nhỉ? Mình đến tham gia các hoạt động trí tuệ của của các tổ chức nước ngoài như các đại sứ quán, các triển lãm nghệ thuật của nghệ sĩ trong nước và nước ngoài để học hỏi. Đó có thể là một buổi đi chơi cuối tuần hay cuối một buổi làm việc. Đa phần là miễn phí vì các tổ chức muốn promote văn hóa bản địa hay với chi phí thấp 🙂

Ta sẽ học và biết được thật nhiều thứ 🙂

– Biết về các nguồn học bổng du học nước ngoài, hay các bạn đã có ý định du học, tìm hiểu về cuộc sống ở trời Tây bằng cách nói chuyện với những con người cụ thể. Dạo trước, khi mình tìm hiểu về xin học bổng du học nước ngoài, ngoại trừ du học Mỹ là mình khá biết từ trước, học bổng để đi học những nước khác như Đức, Bỉ, Hà Lan, Pháp mình thường bắt đầu từ đại sứ quán và các trung tâm văn hóa của nước họ.

– Sẽ hiểu biết nhiều về văn hóa – trí tuệ. Nói đến đây mình thấy xấu hổ vì mình ở Hà Nội từ bé, nhưng chỉ trước khi đi nước ngoài mới ghé thăm bảo tàng Mỹ thuật, bảo tàng Dân tộc học, nhà tù Hỏa Lò và một số nơi khác đấy 🙂 Xem xong mình quá ngỡ ngàng 🙂 Đúng là ngu ngơ chẳng biết gì trong khi có bao nhiêu cái hay xung quanh  🙂

– Kết bạn với người trí thức nước ngoài và nói chuyện bằng tiếng Anh. Sẽ mở rộng đầu óc của mình ra với thế giới.  Mình nhớ có một anh bạn, hồi xưa tiếng Anh cũng bình thường nhưng sau đợt đi làm tour guide cho khách nước ngoài mà nói tiếng Anh… siêu như  người Mỹ  🙂

Ta  cũng có thể mở những sự kiện và đăng ký với Hanoigrapevine hay mời một số bạn nước ngoài tới dự . Qua giao lưu mọi người đều học được thật nhiều.

Và, bạn hãy giúp các tổ chức để thông tin nơi public nhé. Anh Hoành cũng đã viết một bài về việc này: “Đề nghị với các bạn bloggers

Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,

Hiển.

Luận về con công


– Con công chết thì gọi là CÔNG TỬ
– Con công màu vàng là CÔNG NGHỆ
– Công ở bên Tây là CÔNG PHÁP
– Con công ở bên Ðức gọi là CÔNG ÐỨC
– Con công ở xứ Phù Tang là CÔNG NHẬT
– Con công ở Ấn Ðộ là CÔNG ẤN
-Con công ngoài Huế gọi là CÔNG TẰNG
– Con công ở Bạc Liêu là CÔNG TỬ BẠC LIÊU
– Công theo cộng sản gọi là CÔNG CỘNG
– Nguyên một bầy công thì gọi là CÔNG ÐOÀN
– Bầy công đi thành hàng một thì gọi là CÔNG VOA
– Chỗ bầy công picnic gọi là CÔNG VIÊN
– Con công bỏ đi xa bầy đó là CÔNG XA
– Con công lành lặn, không bị rớt cọng lông nào, gọi là CÔNG NGUYÊN
– Con công không làm quan, làm tướng, thì gọi là CÔNG DÂN
– Chỗ làm việc của con công gọi là CÔNG SỞ
– Con công làm cảnh sát thì gọi là CÔNG LỰC
– Con công thuộc giới lao động gọi là CÔNG PHU
– Con công nào ho hen ốm yếu gọi là CÔNG LAO
– Loài công thích chơi đồ xịn thì gọi là CÔNG HIỆU
– Loài công hay nghinh nghinh cái mặt gọi là CÔNG NGHÊNH
– Loài công thích đánh lộn gọi là CÔNG KÍCH
– Loài công không biết chối gọi là loài CÔNG NHẬN
– Cái váy của con công gọi là CÔNG KHỐ
– Loài công hay đưa tin thất thiệt gọi là CÔNG ÐỒN
– Con công liến khỉ gọi là CÔNG HẦU
– Con công thi đậu hạng nhất gọi là CÔNG TRẠNG
– Loài công ham được tiếng tăm gọi là CÔNG DANH
– Cái của con công ị ra gọi là CÔNG PHẪN
– Con công đái dầm thường bị chê là CÔNG KHAI
– Con công bị thiến gọi là… CÔNG CÔNG
– Con công mà không ngủ gọi là CÔNG THỨC
– Con công nào không thức thì nó làm gì? CÔNG PHÁ
– Con công vặn đèn gọi là CÔNG ÐIỆN
– Con công làm sếp gọi là CÔNG CHÚA
– Con công nuôi ở chùa gọi là CÔNG CHÙA
– Con công đi lính gọi là CÔNG BINH
– Con công thích lên làm người gọi là CÔNG NHÂN
– Con công chịu khó gọi là CÔNG VIỆC
– Nơi công ở gọi là CÔNG CỐC
– Công treo tòn ten trên nhánh cây là CÔNG QUẢ
– Con công an phân là CÔNG AN
– Con Công dựa vào con khác để đứng gọi là CÔNG NƯƠNG
– Con Công ra đứng giữa đường gọi là CÔNG LỘ
– Con công lạc vào trường học gọi là CÔNG TRƯỜNG
– Con công đầu đàn là THỦ CÔNG
– Con công có chức phận gọi là CÔNG CHỨC
– Con công thông minh gọi là CÔNG MINH
– Con công không bị lai gọi là CÔNG CHÍNH
– Con Công hì hục làm “nhiệm vụ” gọi là CÔNG XUẤT
– Con công gáy gọi là CÔNG TÁC
– Con công biết thưa biết trình gọi là CÔNG TRÌNH
– Con công cha gọi là CÔNG BỐ
– Con công thích lý sự gọi là CÔNG LÝ
– Con công thích viết báo gôi là CÔNG LUẬN
– Con công thích thưa gửi gọi là CÔNG MÔN
– Con công cha gọi là CÔNG BỐ
– Con công thương nhau gọi là CÔNG THƯƠNG
– Công ăn lạp xưởng là CÔNG XƯỞNG
– Công cao niên là CÔNG CỤ
– Công đi ở đợ cho công khác là CÔNG BỘC
– Công làm việc trong Ty là CÔNG TY
– Con công không thích làm Phó hay Phụ Tá gọi là con CÔNG CHÁNH
– Con công thích mơ mộng gọi là CÔNG ƯỚC
– Con công làm việc phòng nhì gọi là CÔNG MẬT
– Con công bị cụt đuôi gọi là CÔNG BẰNG
– Con công chạy lung tung gọi là CỜ LÔNG CÔNG
– Con công đang “dạp mái’ gọi là CÔNG KÊNH
– Con công ích kỷ gọi là CÔNG ÍCH
– Con công thích chỉ tay 5 ngón là CÔNG LỆNH
– Con công đứng đái đường gọi là CÔNG XÚC TU Sỉ
– Con công đứng đái đường cũng gọi là CÔNG KHAI
– Con công thích nhảy múa gọi là VŨ CÔNG
– Con công thích âm nhạc gôi là NHẠC CÔNG
– Con công nhiều nghề gọi là SĨ NÔNG CÔNG THƯƠNG
– Con công đi ngủ là… CON CÔNG NGỦ

Sưu tầm trên Internet

Paco de Lucia – Nhạc sĩ guitar tiền phong nhạc “Flamenco Mới”

Paco de Lucia là một trong những nhạc sĩ guitar mở đường cho nhạc Flamenco Mới của thế giới ngày nay.

Paco de Lucia sinh ngày 21 tháng 12 năm 1947 ở Algericas, miền nam nước Tây Ban Nha, trong một già đình nhạc flamenco—bố là nhạc sĩ flamenco, anh Pepe de Lucia là ca sĩ flamenco và anh Ramón Sánchez là nhạc sĩ flamenco. Tên thật là Francisco Sánchez Gómez, nhưng anh dùng tên trình diễn là Paco de Lucia để vinh danh mẹ là Lucía Gomes.

Mặc dù không đọc được nốt nhạc, năm 11 tuổi (1958) Paco đã trình diễn trên radio của thành phố Algeciras.

Năm sau đó được giải Jerez về flamenco.

Hai năm sau (1961) anh đi tour trình diễ với đoàn vũ José Greco.

Năm 1964 gặp nhạc sĩ guitar Ricardo Modrego và thu ba đĩa: Dos guitarras flamencas, Dos guitarras flamencas en stereo, and Doce canciones de Federico García Lorca para guitarra.

Từ 1968 dến 1977, anh cùng ca sĩ Flamenco Mới Camarón de la Isla thu được 10 đĩa, đều rất thành công.

Năm 1979, Paco cùng John McLaughlin và Larry Coryell lập nhóm “The Guitar Trio”, tour Âu Châu và thu một video trình diễn ở nhà hát Royal Albert Hall ở Luân Đôn, gọi là Meeting of Spirits.

Larry Coryell sau đó được thay thế bởi Al Di Meola, và từ năm 1981 bộ ba đã phát hành 3 đĩa. Cũng năm này, ban nhạc riêng của Paco, có hai ông anh chơi cùng, Paco de Lucía Sextet, phát hành đĩa đầu tiên trong ba một bộ ba đĩa.

1995 Paco thu chung với nhạc sĩ Bryan Adams bản nhạc và video “Have You Ever Really Loved A Woman” trong phim Don Juan DeMarco. Video này thành top hit.

Năm 1991, khi tập Concierto de Aranjuez của Joaquín Rodrigo, vì không đọc được nốt nhạc, anh phải nhờ nhạc sĩ Narciso Yepes đọc giúp. Tuy vậy, Rodrigo nói là chưa có người nào trình tấu Concierto của anh xuất sắc như Paco.

Qua phong cách trình bày cũng như việc mang các âm hưởng quốc tế của nhạc Jazz và nhạc Nam Mỹ vào truyền thống Flamenco để tạo nên âm hưởng và nhịp điệu mới cho luồng Famenco Mới, Paco đã đưa cây đàn Flamenco đến bước đột phá lớn âm nhạc đương đại.

Đại Học Cadiz tặng anh bằng tiến sĩ danh dự ngày 23 tháng 3 năm 2007.

Sau đây mời các bạn nghe vài videos của Paco de Lucia
.

Paco de Lucia – Entre dos aguas (1976) full video

.

Paco de Lucia – Entre dos Aguas

.

PACO DE LUCIA , John McLaughlin , AL DI MEOLA (Mediterranean Sundance)

.

Paco de lucia-solea

.

Paco De Lucia- Tico Tico

.

Jan Akkerman and Paco de Lucia

.

Paco de Lucia – Bulerias

.

Paco de Lucia “la Barrosa”

.

Paco de Lucía Concierto de Aranjuez Part2

Josef Hassid và Giai điệu Do Thái

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng nghe anh Josef Hassid chơi bản Hebrew Melody của Joseph Achron.

581[1]
Josef Hassid
Các bạn biết không? Khi anh Hassid chơi bản này, anh mới 17 tuổi!

Mình biết đến Josef Hassid qua cuốn phim “The art of the violin” kể về những nghệ sĩ violin vĩ đại nhất của thế kỷ 20, như Jascha Heifetz, Fritz Kreisler, Isaac Stern và nhiều nghệ sĩ khác.

Cuối tập một, cuốn phim nói tới những thiên tài violin rực rỡ nhưng Thượng đế đã lấy họ đi khi cuộc đời còn quá tươi trẻ. Một trong số đó là Josef Hassid, và sau đó đoạn thu âm Hebrew Melody do anh chơi được bật lên.

Mình lặng nghe và bị hút vào bản nhạc. Giai điệu Hebrew ngân suốt do anh Hassid chơi nổi bật lên từng nốt và hàm chứa nỗi suy tư  sâu hay nỗi đau đớn huyền bí.

”Giai điệu Hebrew” là bản nổi tiếng trong 9 bản thu vĩ đại Josef Hassid để lại cho âm nhạc thế giới. Anh Hassid  rất điêu luyện với  kỹ thuật rung (vibrato) và temperament của cây violin, khiến nghệ sĩ violin Fritz Kreisler nói: “Một cây violin như Heifetz cứ 100 năm xuất hiện một lần, một Hassid cứ 200 năm”.

Chỉ sau khi biểu diễn Hebrew Melody một năm, khi mới 18 tuổi, Josef bị mắc chứng quỵ thần kinh. Sau đó là quá trình chữa trị, nhập viện và ra viện hàng năm ròng. Anh qua đời vào năm 26 tuổi.

Mình đâu biết mình sẽ được sống bao lâu nhỉ? Thật may mắn, nếu ta có thể để lại được gì đó cho đời như anh Josef Hassid, phải không các bạn?

Chúc các bạn một ngày sắc nét,

Hiển.
.


Josef Hassid,  Achron – Hebrew Melody Op.33  ( 11/29/1940)

Niềm Hạnh Phúc Giản Dị

    “Trong cuộc đời mỗi người, có những lúc ngọn lửa trong tim ta bị lụi tàn nhưng sau đó lại bùng cháy lên, đôi khi chỉ bằng một cuộc tiếp xúc với một người nào đó. Chúng ta nên biết ơn những người đã giúp khơi dậy ngọn lửa tinh thần ấy trong ta.” (Albert Schweitzer)

Và câu chuyện tôi muốn chia sẻ với các bạn hôm nay là về một cuộc tiếp xúc kì diệu như thế!
Bạn không may mắn khi sinh ra đã mang trên mình một căn bệnh rất khó cứu chữa và có lẽ nó sẽ kéo dài dai dẳng suốt cuộc đời bạn? Bạn cảm thấy mỗi ngày trôi qua dường như thật vô nghĩa? Và đôi khi bạn tự hỏi tại sao mình lại không có được cuộc sống hoàn hảo như những người khác, với một cơ thể khoẻ mạnh và tình cảm được yêu thương, có thể làm những điều mình thích mỗi ngày?
lonely
Anh là một người có hoàn cảnh như vậy. Mang trên mình căn bệnh “máu khó đông” suốt hai mươi hai năm trời, nhiều lúc tôi thấy anh thật tuyệt vọng và dường như mất hết niềm tin vào cuộc sống! Những di chứng của căn bệnh quái ác đã khiến đôi chân của anh bị dị tật, và nỗi đau lớn nhất là hầu hết thời gian của mình anh gắn bó với….bệnh viện!

Anh đã từng học rất giỏi, và là một người con rất ngoan. Có lẽ anh sẽ trở thành sinh viên của một trường đại học Kinh tế tiếng tăm nào đó nếu như đến năm 18 tuổi căn bệnh của anh không phát tác nặng nề như thế. Là con trai duy nhất của một gia đình trí thức có ba chị em, anh luôn được hưởng một cuộc sống vật chất đủ đầy, được sống trong sự quan tâm của gia đình và cả mọi người xung quanh, nhưng anh vẫn cảm thấy thiếu vắng một điều gì đó, nhỏ bé thôi những có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với mỗi con người…

Hẳn bạn hiểu đó là cảm giác thiếu vắng những hương vị ngọt ngào của tình yêu đôi lứa đúng không? Đã từng có những rung động mãnh liệt với người khác giới, nhưng chưa một lần anh được đáp lại, có lẽ bởi họ sợ hãi về tương lai mù mịt của anh, về sự sống bấp bênh của anh…

Nhưng anh vẫn có nghị lực sống tràn trề. Anh vẫn chấp nhận đối diện với bệnh tật mỗi ngày và quý trọng từng phút giây mình được tồn tại trên cuộc đời. Và mỗi khi nghe tin anh lại phải nhập viện, tim tôi như ngừng đập vài giây, cầu mong cho anh đủ sức chống chọi với căn bệnh quái ác đó. Tôi tin anh sẽ làm được, và sự thật đến hôm nay, anh vẫn làm được. Anh vẫn đăng kí theo học một khoá học của trường trung cấp và hiện tại, anh đã trở thành nhân viên của một công ty về xây dựng. Dù gia đình luôn ở bên, anh đã có thể tự tạo dựng cuộc sống bằng chính những thứ mình làm ra. Thật đáng khâm phục!

Cuộc đời có lẽ không bất công với bất kì ai, và một niềm hạnh phúc dường như không tưởng đã đến với anh. Cuối cùng anh cũng đã gặp được một nửa đích thực của riêng mình. Khuôn mặt anh rạng rỡ hơn bao giờ hết, vì anh đang mỉm cười cảm ơn cuộc sống tươi đẹp này!

Đó là một cuộc gặp gỡ định mệnh, anh gặp chị trong một lần vào Huế điều trị. Chị xinh đẹp, có công việc khá ổn định và là con gái của một gia đình nền nếp. Nhưng có lẽ không gì tuyệt hơn, là chị đã thấu hiểu và thương cảm khi nhìn thấy những nỗ lực phi thường của anh, để vượt lên chính mình bất chấp số phận nghiệt ngã. Và anh chị đã đến với nhau như thế, không một chút băn khoăn, do dự; không một rào cản vật chất tầm thường nào. Hiếm có người con gái nào có tấm lòng cao cả và thánh thiện đến vậy!

“Thế giới này vẫn còn rất nhiều người tốt. Một số hoàn toàn xa lạ với bạn, một số khác rẩt gần gũi như người trong gia đình. Thật xúc động khi biết rằng trên thế giới vẫn còn rất nhiều người vui vẻ trao tặng một cái chạm tay yêu thương, một vòng tay ấm áp hoặc đôi tai biết kiên nhẫn lắng nghe. Họ giống như những thiên thần nâng ta dậy khi đôi cánh của ta quên đi cách bay”. (Steve Goodier)
yeunhau
Cuộc tiếp xúc của anh chị xuất phát từ sự đồng điệu về tâm hồn và sự rung cảm với nỗi bất hạnh của người khác. Chị sẵn sàng đưa bàn tay nhận cái chạm của tình yêu thương, lắng tai nghe những lời chia sẻ của anh bằng một trái tim nồng ấm và mở rộng vòng tay đón những vỗ về chân thật từ anh. Chính chị đã làm ngọn lửa sắp lụi tàn trong anh lại sáng bừng lên để chỉ hướng cho anh đi đến tương lai tươi đẹp. Và tình yêu được nuôi lớn từ những điều giản dị ấy, những điều giản dị nhưng không hẳn ai cũng đủ dũng cảm để kiếm tìm và chinh phục hạnh phúc đích thực cho mình.

Sau những tháng ngày gần gũi, gắn bó và tìm hiểu những giá trị thực sự trong tâm hồn của nhau, hôm nay là ngày vui của anh chị. Biết bao người đã ngạc nhiên và chúc mừng cho một mầm yêu đẹp đẽ đến ngày nở rộ. Cha mẹ anh đón niềm vui lớn lao trong những giọt nước mắt hạnh phúc. Gia đình anh ai cũng phấn khởi và chúc phúc cho tình yêu của anh chị. Và người hạnh phúc nhất hẳn nhiên là anh, vì anh đã tìm thấy được hạnh phúc của mình một cách giản dị như thế. Anh chị tay trong tay và nhìn thấy một thiên đường rộng mở trong đôi mắt của nhau. Ở thiên đường đó, không có chỗ cho sự ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân, không có chỗ cho những rào cản của số phận khắc nghiệt. Ở đó, luôn tràn ngập sự mầu nhiệm của lòng quan tâm, của sự hi sinh cao cả cho người mình yêu thương. Ở đó, niềm tin vào cuộc sống của mỗi con người sẽ không bao giờ vụt tắt!

Đâu đó trong tâm hồn tôi những ca từ và giai điệu đẹp của ca khúc “Ngày cưới” (Đỗ Bảo) vang lên như một lời chúc phúc cho anh chị:

Ngày cưới để ta nguyện ước chung một tương lai
Ngày ta mong ước riêng dành cho ai ngày ta sẽ về bên nhau mãi mãi
Ngày cưới, để đôi ta hạnh phúc trái tim ta mừng vui
Phút nguyện thề đắm đuối với trăng sao trên trời thấy tình yêu sang trang
Câu chuyện đời sang trang
Ngày cưới để ta ra ngắm xem đời còn thênh thang
Để ta vun đắp mối tình trong sáng
Ta không quên mang tình theo năm tháng.
…”

Và cũng chính lúc này đây, tôi nhận ra hạnh phúc đâu phải chỉ đến từ những điều lớn lao, vĩ đại mà thực xa vời, mà nó còn xuất phát từ những điều giản dị xung quanh mình!

Ca khúc Ngày Cưới của nhạc sĩ Đỗ Bảo


Ca sĩ: Tấn Minh – Ngọc Anh

Thảo Vi

Thủy Tiên, Thế Vinh, Richard Fuller – Một cõi đi về

Chào các bạn,

Thủy Tiên, tiếng ca thiết tha của nhạc Trịnh, với căn bệnh làm mất môi, khuôn mặt dị dạng, và tiếng nói ngọng nghịu, đã phải chui vào lu để tập nói.
thuytienthevinh
Thế Vinh chỉ còn một cánh tay nhưng vừa chơi guitar vừa chơi harmonica.

Richard Fuller người Mỹ hát nhạc Trịnh.

Nhìn bộ ba này trình diễn Một Cõi Đi Về của Trịnh Công Sơn, làm sao ta không đem lòng cảm phục?

Thật là những bậc kỳ tài! Thật là những tấm gương tích cực!

Mời các bạn thưởng thức Một Cõi Đi Về.

Sau video là 3 bài báo, về Thủy Tiên, Thế Vinh, và Richard Fuller.

Chúc các bạn một ngày vui.

Cám ơn anh Phan Quang đã giới thiệu.

Hoành
.

.

Ca sĩ khuyết tật Thủy Tiên: Vượt lên định mệnh
03.03.2008

Sau 8 lần phẫu thuật môi, tiếng nói của Thủy Tiên đã trở nên ngọng líu ngọng lô. Ròng rã gần hai năm trời, cái lu đựng nước đã giúp Tiên luyện cách phát âm và tiếng nói của cô trở lại gần như người bình thường. Mỗi lần buồn chán và tuyệt vọng, thay vì phải khóc nức nở, Thủy Tiên giấu mình vào cái lu và hát…
Tôi gặp Thủy Tiên tại cuộc Liên hoan tôn vinh những thanh niên khuyết tật thành đạt, chủ đề “Hoa cuộc sống”, do Trung ương Đoàn tổ chức. Thủy Tiên xuất hiện tại liên hoan không chỉ với tư cách một điển hình tuổi trẻ khuyết tật vượt lên hoàn cảnh, mà còn là một ca sĩ.

Lâu nay, giọng hát của cô đã khá quen thuộc đối với khán giả ở TP HCM qua các chương trình biểu diễn nghệ thuật từ thiện, tại các phòng trà, hội quán và cả trên sóng phát thanh, truyền hình.

Người ta biết cô là một ca sĩ khuyết tật chuyên hát nhạc Trịnh và hát rất hay, nhưng ít người biết, để có được tiếng hát ấy, để có được niềm đam mê được đứng dưới ánh đèn sân khấu hằng đêm, Thủy Tiên đã trải qua một quãng đời đau đớn và tuyệt vọng đến cùng cực…

Là con gái út trong một gia đình có 7 anh em, lên 3 tuổi, cô bé Tô Thị Thanh Thủy Tiên đã mồ côi cha. Người mẹ của 7 đứa con phải còng lưng tất bật tối ngày với từng mớ rau, con cá tại cái chợ cóc nằm trong một góc phố nghèo ở phường 24, quận Bình Thạnh, TP HCM, mới có thể kiếm đủ vài ba ký gạo mỗi ngày để duy trì cuộc sống.

Lên 7 tuổi, Thủy Tiên đã biết giúp mẹ bán hàng mưu sinh. Dù cuộc sống bộn bề vất vả, khó khăn, song cô bé vẫn rất chăm học và học giỏi. Cánh diều tuổi thơ chưa kịp đón gió thì bi kịch cuộc đời đã đổ ập xuống mái đầu non nớt. Thủy Tiên bị mắc một chứng bệnh hiểm nghèo.

Ban đầu bờ môi cô bé xuất hiện những nốt đỏ tấy, ngứa ngáy rất khó chịu. Mọi người tưởng Thủy Tiên bị bệnh nấm, nhưng càng bôi thuốc thì những vết tấy càng lan rộng. Mẹ Thủy Tiên đưa cô bé đến một thầy lang ở khu Lái Thiêu chữa trị. Những nắm thuốc được bào chế từ thảo dược của thầy lang càng làm cho bệnh tật nặng thêm lên.

Năm lên 8 tuổi, căn bệnh của cô bé chuyển sang lở loét. Vành môi xinh xắn như bị một con chuột quái ác gặm nhấm nham nhở, buốt thấu xương. Thủy Tiên đau mà không khóc được, vì càng khóc lại càng đau. Mỗi lần bị cơn đau hành hạ, cô bé chỉ biết dùng một cái khăn ướt đắp lên miệng rồi quằn quại trên giường, lăn trên nền nhà rên la một cách bất lực trong cổ họng.

Hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chỉ đến khi đau đớn không chịu được nữa, Thủy Tiên mới được đưa đến bệnh viện. Kết quả xét nghiệm đã làm rụng rời hết thảy mọi người trong gia đình. Cô bé bị mắc bệnh xỉ tổ mả, một chứng bệnh rất hiếm gặp trên thế giới.

Những vết lở loét xung quanh miệng cô bé là dấu hiệu cho thấy bệnh đã diễn biến rất nặng, chuyển sang giai đoạn hoại tử. Để cứu mạng sống của cô bé, không còn cách nào khác phải phẫu thuật cắt bỏ những phần môi đã nhiễm bệnh.

Bờ môi xinh xắn của Thủy Tiên mất dần, mỏng dần, nhưng khi vết khâu vừa lên da non thì vết lở loét lại xuất hiện, lại phải gồng mình chống lại những cơn đau đớn cùng cực để các bác sĩ đưa những đường dao kéo. “Bây giờ nghĩ lại, em vẫn còn rùng mình kinh hãi. Thậm chí chỉ vô tình nhìn thấy dao kéo hoặc tiếng kim loại va vào nhau, em cũng đã nổi hết gai ốc” – cô nói.

Bước vào tuổi thiếu nữ, khi vấn đề nhan sắc được ý thức một cách rõ rệt, Thủy Tiên chỉ biết gục đầu vào tấm khăn để giấu đi những giọt nước mắt mỗi khi phải đối diện với chiếc gương soi.

Nhưng bi kịch hơn cả là tiếng nói của cô đã trở nên ngọng líu ngọng lô, do bờ môi đã bị biến mất gần như hoàn toàn sau 8 lần phẫu thuật. Những cố gắng tái tạo lại vành môi của các bác sĩ cũng chỉ giúp gương mặt cô bé bớt phần dị dạng.

Đã có lúc Thủy Tiên nghĩ đến cái chết để giải thoát, nhưng khi nghĩ về mẹ, cô lại không đành lòng. “Những lúc tuyệt vọng em muốn có một căn phòng đủ rộng và kín đáo, chốt chặt cửa lại để la hét cho vơi nỗi đau đớn và tủi thân, nhưng nhà nghèo, lấy đâu ra một không gian như vậy. Vật dụng duy nhất để em có thể thu mình vào trong đó là cái lu đựng nước loại lớn của mẹ. Em đã ngồi vào đó, cốt để cho tiếng khóc của mình không ai nghe thấy…” – Thủy Tiên nhớ lại.

Những lần gục đầu trong cái lu đựng nước, Thủy Tiên nghe rõ mồn một tiếng khóc của mình vọng bên tai. Và một ý nghĩ lóe lên: Mình có thể luyện giọng nói nhờ cái lu này. Tự mình nói và tự mình kiểm nghiệm giọng nói trực tiếp.

Rất khó khăn và nan giải. Thủy Tiên dồn hết mọi khả năng có thể để phát âm từng từ một, từng âm tiết một. Có ngày tập mỏi cả miệng, đến khi ăn cơm không nhai được nữa.

Có lần cái lu ấy được mẹ đổ đầy nước. Thủy Tiên đành xả bớt đi một nửa để gục đầu vào đó luyện phát âm. Khổ cho người mẹ già, lượng nước trong lu bà phải rất vất vả mới kiếm được giữa mùa khô hạn, giọt nước quý như vàng. Bực mình, bà bắt Thủy Tiên nằm sấp xuống quất cho mấy roi vào mông. Khi hiểu rõ sự tình, con gái đang luyện giọng nói bằng cái lu nước, bà ôm chầm lấy con, nước mắt giàn giụa…

Trung bình mỗi ngày hai lần, mỗi lần hơn một giờ đồng hồ, Thủy Tiên luyện cách phát âm của một người không còn bờ môi trong cái lu ấy. Ròng rã gần hai năm trời, Thủy Tiên đã thành công. Tiếng nói của cô trở lại gần như người bình thường.

Mỗi lần buồn chán và tuyệt vọng, thay vì phải khóc nức nở, Thủy Tiên cất tiếng hát. Cô giấu mình vào cái lu và hát. Hát cho quên đi nỗi đau, hát cho nước mắt chảy vào trong. Hát cũng là cách luyện khả năng phát âm.

Nhà có một chiếc đài cũ kỹ, Thủy Tiên sưu tầm các băng nhạc về bật lên nghe và hát theo. Nhạc Trịnh là thứ Thủy Tiên say mê nhất. Nghe nhạc Trịnh, cô như được sẻ chia nỗi đau, sự tiếp sức của tình yêu cuộc sống. Một năm, hai năm, rồi ba năm… Thủy Tiên thuộc và hát thành thạo hầu hết các sáng tác của Trịnh Công Sơn…

Sự mặc cảm về bản thân khiến Thủy Tiên sống thu mình. Rời trang sách tuổi học trò, trong lúc những người bạn cùng trang lứa, đứa thì vào đại học, đứa vào khu công nghiệp làm công nhân, Thủy Tiên chỉ biết “một cõi đi về” của mình từ nhà cho đến cái chợ cóc mà người mẹ đã còng lưng gánh nỗi ưu tư mấy chục năm rồi.

Thế giới tâm hồn của Thủy Tiên chỉ là cái lu đựng nước, đựng trong đó cả tấn bi kịch tuổi thơ và những lời ca như con chim còn nằm trong vỏ trứng…

Lệ Uyên và Thủy Tiên.

Một ngày nọ, sau khi hát với thế giới của mình, Thủy Tiên bắt gặp một người con gái trạc tuổi mình từ đâu tìm đến. Đó là một thiếu nữ xinh đẹp, vóc dáng như người mẫu. Cô gái giới thiệu tên là Lệ Uyên và muốn được làm quen với Thủy Tiên.

Lệ Uyên có người quen ở gần nhà Thủy Tiên. Khi đến chơi nhà người quen, tình cờ Lệ Uyên nghe được câu chuyện về một người con gái tập hát trong lu nước. Một chút tò mò xen lẫn sự thương cảm, mến phục, Lệ Uyên tìm đến.

Uyên đang làm việc tại một công ty ở Khu chế xuất Tân Thuận, là người rất mê nhạc Trịnh và hát khá hay. Lệ Uyên là thành viên của Hội Những người hát nhạc Trịnh. Tối thứ bảy hàng tuần họ lại tụ tập về Hội quán Nhạc Trịnh tại Khu du lịch Bình Quới, hát cho nhau nghe. Thành viên của hội có cả những nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng.

Sau mấy lần đến thăm bạn, Lệ Uyên động viên Thủy Tiên hãy can đảm bước ra khỏi sự mặc cảm, hòa nhập với cuộc sống. Số phận nghiệt ngã với mình, nhưng mình không được nghiệt ngã với chính mình. Lệ Uyên đưa Thủy Tiên đến với Hội quán Nhạc Trịnh và động viên Thủy Tiên lên hát.

Lần đầu tiên đứng dưới ánh đèn sân khấu, Thủy Tiên như muốn không gian tối sầm lại, để mọi người đừng nhìn thấy mình, chỉ nghe mình hát mà thôi. Thủy Tiên hát, nước mắt chảy tràn tình khúc. Hát mà như đang kể chuyện đời mình.

Khi lời ca vừa dứt cũng là lúc cô bật khóc nức nở. Cả Hội quán lặng im. Thủy Tiên trở thành hội viên Hội Những người hát nhạc Trịnh bằng ấn tượng như thế.

Tại hội thi hát nhạc Trịnh tổ chức sau đó ít lâu, Thủy Tiên gây bất ngờ lớn khi vượt qua hàng trăm ca sĩ để giành giải nhất. Cô nổi danh từ đó. Những chương trình ca nhạc từ thiện hoặc chương trình dành cho người khuyết tật, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn,… các đạo diễn thường xuyên mời Thủy Tiên tham gia.

Sự góp mặt của cô trên sân khấu và truyền hình, không chỉ mang tiếng hát phục vụ khán giả, mà quan trọng hơn, đó là một bằng chứng sống động về một con người đã chiến thắng nỗi đau, bệnh tật để vươn lên bằng ý chí, nghị lực và trên hết là bằng sự sẻ chia của một tình bạn cao cả và cảm động.

Mỗi lần Thủy Tiên hát, Lệ Uyên đóng vai trò là người phối bè. Họ biểu diễn rất ăn ý trên sân khấu và thân thiết với nhau trong cuộc sống như ruột thịt. Lệ Uyên trở thành nguồn sức mạnh của Thủy Tiên, động viên, tiếp sức cho bạn.

Để giúp Thủy Tiên có cuộc sống ổn định, Lệ Uyên xin cho bạn vào làm việc tại Khu Chế xuất Tân Thuận với công việc kiểm hàng. Ban ngày làm việc, buổi tối họ đi hát ở Hội quán, phòng trà và tập luyện để tham gia các chương trình biểu diễn khi có lời mời.

Thủy Tiên chỉ hát nhạc Trịnh và biểu diễn rất thành công các ca khúc “Một cõi đi về”, “Đừng tuyệt vọng”, “Xin cho tôi tình yêu”, “Diễm xưa”…

Câu chuyện của Thủy Tiên đầy nước mắt, nhưng ngồi với chúng tôi, Thủy Tiên không khóc. Dường như những đớn đau, bi lụy đều đã đi qua, như bóng đêm hun hút phía sau lưng. Cô nói rằng, nếu không có Lệ Uyên, có thể giờ đây thế giới tâm hồn của cô vẫn chỉ là… cái lu đựng nước.

Còn Lệ Uyên thì không nói gì về mình. Trong ánh mắt và suy nghĩ của cô, Thủy Tiên là một người bạn tốt, đã vượt qua những nỗi đau và mặc cảm, tự ti để khẳng định mình.

Nếu như… Vâng! Nếu như không có căn bệnh quái ác ấy, thì Thủy Tiên đẹp lắm. Ánh mắt ấy, vóc dáng ấy, làn da ấy, gương mặt có cái lúm đồng tiền ấy… đủ để trở thành niềm mơ ước khát khao của biết bao chàng trai…

TP Hồ Chí Minh đầu tháng 1/2008

Phan Tùng Sơn

.

Nghệ sĩ khuyết tật Nguyễn Thế Vinh: 1 tay, chơi 2 nhạc cụ!

Thứ tư, 21 Tháng bảy 2004, 05:27 GMT+7 // <![CDATA[//

 

Nghe si khuyet tat Nguyen The Vinh 1 tay choi 2 nhac cu
Tags: Nguyễn Thế Vinh, Trịnh Công Sơn, Khu du lịch Văn Thánh, sự chú ý, nhạc cụ, nghệ sĩ, một tay, cùng lúc, khuyết tật, thời gian, anh, chơi, học, đàn

 

Nha Khoa Lan Anh
// <![CDATA[//

 

Nghe si khuyet tat Nguyen The Vinh 1 tay choi 2 nhac cu
Nguyễn Thế Vinh đang chơi cùng lúc hai nhạc cụ guitar và harmonica Ảnh: H.S.

Trong đêm nhạc “Cõi tình – Trịnh Công Sơn” vừa rồi tại khu du lịch Văn Thánh, có một nghệ sĩ nghiệp dư nhưng lại tạo sự chú ý đặc biệt, đó là Nguyễn Thế Vinh.

Vóc người nhỏ thó, da ngăm đen và bị cụt mất một tay, thế mà anh lại độc diễn cùng lúc hai nhạc cụ guitar và harmonica với sự hòa điệu hết sức độc đáo, làm khán giả vô cùng ngạc nhiên và thán phục…

Tuổi thơ bất hạnh

Quê của Nguyễn Thế Vinh vốn là một vùng đất nghèo ở Bắc Bình, Bình Thuận. Ba Vinh mất trong chiến tranh. Ba năm sau ngày ba mất, mẹ của Vinh cũng buồn khổ mà chết khi anh mới tròn 7 tuổi. Bốn anh em nheo nhóc mồ côi được ông bà ngoại đem về cưu mang.

Sau mỗi buổi học về, Vinh lại dắt đôi bò của hợp tác xã đi chăn để phụ giúp ông bà. Trong một buổi chiều xui rủi, Vinh bị ngã từ trên lưng bò xuống và gãy tay. Nếu như được đưa vào bệnh viện băng bó kịp thời thì chẳng có chuyện gì lớn, đằng này Vinh lại được đưa đến một thầy lang và không biết ông ta chữa trị như thế nào mà sau đó ít hôm cánh tay phải của Vinh bị hoại tử, phải cắt bỏ. Hai chữ “độc thủ” đeo bám đời Vinh từ đó.

Bôn ba tìm kế sinh nhai

Với hai nhạc phẩm Một cõi đi vềNgụ ngôn mùa đông, anh đã làm ngây ngất những ai có mặt trong đêm nhạc “Cõi tình – Trịnh Công Sơn”. Đây cũng là chương trình lớn đầu tiên anh được tham gia (sau khi trở thành thành viên của hội quán Hội Ngộ chừng hai tháng nay) và ngay lập tức tạo được một tình cảm đặc biệt nơi công chúng yêu nhạc Trịnh.

 

Sau mỗi ca khúc của Vinh, mọi người lại vỗ tay không ngớt và dành cho anh những bó hoa tươi thắm nhất. Có ai đó còn thốt lên rằng: “Lại xuất hiện thêm một “quái kiệt” mới trong làng âm nhạc thành phố!”. Quái kiệt hay không còn phải chờ thời gian thẩm định thêm. Chỉ biết rằng trong giờ phút ấy, ai tinh mắt sẽ nhận thấy những giọt lệ đang lặng lẽ lăn ra từ khóe mắt Vinh.

Anh xúc động tột cùng vì lâu nay anh tập chơi đàn cốt để thỏa mãn đam mê âm nhạc, để gửi gắm tâm sự cuộc đời chứ đâu ngờ lại có thể đem niềm vui đến cho người khác.

Hè năm lên lớp 4, sau khi da thịt đã lành lặn, Vinh bắt đầu tập viết bằng tay trái. Sau một tuần miệt mài và quyết chí tập luyện, Vinh đã viết được tuy hơi chậm hơn trước đây và sẵn sàng cho năm học mới.Thời gian đầu Vinh gặp rất nhiều khó khăn vì phải gò viết bằng tay trái, nhưng với ý chí vượt khó của một cậu bé đầy nghị lực, Vinh vẫn học rất chăm và luôn đạt kết quả cao trong học tập.

Dù còn một tay nhưng Vinh vẫn tiếp tục phụ chăn bò cho gia đình đến hết lớp 7… Thấm thoắt vậy mà cậu bé một tay ấy cũng học hết lớp 12.

Sau khi tốt nghiệp THPT, vì không muốn phụ thuộc gia đình nên Vinh quyết định vào TP.HCM tìm kế sinh nhai. Trong thời gian tá túc “ké” mấy anh sinh viên ở cơ sở D Trường ĐH Kinh tế (sau lưng nhà hát Hòa Bình), được mấy anh khuyến khích, động viên, Vinh quyết định học tiếp và mượn sách vở của các anh để ôn thi.

Năm 1989, Vinh trúng tuyển vào ĐH Kinh tế TP.HCM. Để có tiền ăn học, Vinh đã phải dành dụm số tiền học bổng ít ỏi hằng tháng và làm đủ thứ nghề từ vá xe đạp, dạy kèm cho đến giữ xe chung cư…

Tuy học quản trị kinh doanh nhưng Vinh lại rất mê ngành điện tử. Anh đã học lóm nghề này từ một người bạn và mua sách vở mày mò học thêm. Vậy mà không ngờ chính nghề điện tử này lại gắn bó với anh đến tận bây giờ (hiện anh đang là thợ sửa chữa điện thoại di động và có hẳn một cửa hàng riêng ở Gò Vấp).

Ba năm cho một ngón đàn

“Năm học lớp 6, mặc dù bị cụt một tay nhưng khi thấy người cậu chơi đàn guitar, mình rất mê. Hễ có dịp là mình lấy đàn ra tìm cách đánh thử. Khi thì kẹp phím vào cùi tay cụt để gảy, khi thì gảy thử bằng chân… nhưng tất cả đều thất bại” – Vinh nhớ lại.

Mãi đến ba năm sau Vinh mới nghĩ ra cách để có thể chơi đàn với tay trái duy nhất của mình: dùng ngón trỏ để gảy và các ngón còn lại bấm phím. Thời gian đầu anh chỉ tập bấm từng nốt một, tập một cách mày mò, kiên trì vì chơi đàn như thế rất khó và hầu như chưa thấy ai chơi như vậy bao giờ. Dần dà Vinh cũng đàn được một số bài hát và chừng đó cũng cảm thấy sướng lắm rồi.

Tuy nhiên đàn từng nốt như thế thì chưa thể gọi là đàn nên sau khi vào đại học, Vinh dành dụm tiền đi làm thêm – được 60.000 đồng – và mua một cây đàn guitar mà đến nay anh vẫn còn nhớ ngày mua là 14-6-1990.

Có đàn, Vinh bắt đầu tập bấm hợp âm, từng đêm tỉ mẩn mày mò khổ luyện tập từng hợp âm một. Mỗi hợp âm như thế Vinh phải tập cả tháng trời, khi đã nhuần nhuyễn mới tập tiếp hợp âm khác. Cứ thế anh âm thầm luyện ngón đàn trong ba năm và thành công ngoài mong đợi. Các ngón tay Vinh giờ đây dường như đã độc lập với nhau và anh có thể đàn một cách rất bài bản, chỉ với một bàn tay!

Song song với chơi guitar, Vinh còn chơi tốt harmonica từ khi học lớp 10. Sau này anh nảy ra ý định “sao mình không thử hòa âm harmonica với guitar nhỉ?”. Thế là anh lại lao vào cuộc chơi mới vừa đánh guitar vừa thổi harmonica.

Để hai tiếng đàn và kèn này hòa âm đồng bộ với nhau thì đây lại là một giai đoạn tập luyện kỳ công nữa của Vinh. Cuối cùng, với lòng kiên trì và quyết tâm, Nguyễn Thế Vinh đã chơi được cùng lúc hai nhạc cụ, với một sự kết hợp tuyệt vời mà nhiều người không hiểu tại sao anh có thể làm được.

HỒNG SƠN

.

Thứ Hai, 06/10/2008, 14:00

Khi Richard Fuller hát nhạc Trịnh

TP- Năm 1969, Richard làm việc cho một tổ chức tình nguyện quốc tế và có dịp đến VN, bắt đầu đồng cảm với những ca khúc của Trịnh Công Sơn.

Richard Fuller hát nhạc Trịnh tại phòng trà ATB

Từ đó ông thường xuyên có những chuyến đi – về giữa Mỹ và Việt Nam, năm 1993 trở lại VN trong thời bình Richard được gặp Trịnh Công Sơn, họ đã cùng nhau hát trong một số chương trình đặc biệt.

Và khi thăm lại quê hương của Trịnh Công Sơn vào năm 2001, Richard không còn được gặp ông nữa vì nhạc sĩ đã qua đời.

Bước lên sân khấu phòng trà ATB tối 3-4/9 vừa hát, Richard vừa giới thiệu nghệ sĩ khác một cách hồn nhiên, ngộ nghĩnh khiến khán giả bật cười: Xin giới thiệu một “kẻ thù” sẽ lên biểu diễn (ám chỉ các ca sĩ cạnh tranh với nhau trên sân khấu!), đó là Thế Vinh.

Tôi gặp Vinh và thích tài năng của anh, từ đó chúng tôi hát chung với nhau. Nghệ sĩ Thế Vinh đàn cho Richard hát Diễm xưa đong đầy cảm xúc. Không chỉ hát Dậy mà đi (Tôn Thất Lập), Người con gái Việt Nam da vàng (Trịnh Công Sơn), Không (Nguyễn Ánh 9)… mà Richard còn chiều lòng khán giả, hát ca khúc ngoại như Quantalamera, nghệ sĩ Thế Vinh hóm hỉnh: “Anh Phú Phong Trần nhớ tiếng Việt rất tốt, nhưng nghe anh hát tiếng Anh mà tôi cứ sợ anh quên.

Vừa rồi anh hát rất tốt chứng tỏ trình độ tiếng Anh đang khá lên rất nhiều!”. Khán giả cười ồ còn Richard thì vừa cười vừa lắc đầu: “Bó tay! Đấy, quý vị đã hiểu vì sao tôi gọi anh ấy là… kẻ thù!”.

Bà chủ phòng trà ATB Ánh Tuyết nhận xét về ca sĩ đặc biệt này: “Nghe Richard hát bằng tiếng Việt, cách rung động làn hơi rất chân thành và chứa chất nhiều day dứt mà dường như chính anh đã chứng kiến, đã thấu hiểu. Nhiều lần tiếp xúc với anh, tôi biết anh rất yêu VN.

Mấy tháng trước tôi cùng anh ra dự Festival Huế 2008, trước khi tới Huế, anh nằng nặc bảo tôi rằng anh phải ra Nha Trang thăm bà con. Tôi ngạc nhiên bởi anh làm gì có bà con ở Nha Trang mà thăm nom, anh cười: tôi có nhiều bà con ở Nha Trang chứ, đó là những người VN…”.

Yêu đời hơn, yêu người hơn, đó là điều đọng lại sau khi nghe một người nước ngoài yêu VN như Richard Fuller cất giọng hát.

Lâm Văn

Di sản Thế giới – Vịnh Hạ Long

Chào các bạn,

Vùng Biển Rồng Đáp này thì rất khó để giới thiệu với các bạn, vì như thế thì chẳng khác gì với thiệu ông chú với bà thím. “Chào chú, giới thiệu với chú, bà này là vợ chú đấy.” Đôi khi cũng có thể phải làm thế thật. 🙂 Nhưng Vịnh Hạ Long thì chắc là không cần.

Nét hùng vĩ và kỳ bí của Vịnh Hạ Long thật là có một không hai trên thế giới. Dù là Vịnh Hạ Long có dự phần trong hai cuốn phim lớn, Indochine và Tomorrow Never Dies (James Bond 007), hai cuốn phim này chẳng làm nên công lý cho Hạ Long. Thực sự là phải ngồi bập bềnh giữa trời biển núi bao la ấy, ta mới cảm nhận được nét tuyệt mỹ cùa Hạ Long và tính vô tận của trời đất.

Mình mới làm xong PPS Vinh Hạ Long, với nhạc nền là bản Hải Đảo Xa Xôi (Distant Island) của Deuter. Post đây để chia sẻ với các bạn.

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Chúc các bạn một ngày hùng vĩ.

Bình an & Sức khỏe,

Túy-Phượng
.

halong

Hà Nội Phố, Hà Nội Mùa Đông!

Chút gió heo may về mang theo hơi hướng của một mùa đông Hà Nội sắp bắt đầu. Thu còn chần chừ, vấn vương chia tay trong hương cốm man mát, hương hoa sữa nồng nàn, ngây ngất phố, trong màu nắng vàng tươi như mật ong. Đông ngập ngừng với những cơn gió mùa đông bắc đầu tiên, lẫn vào từng cơn mưa, mưa lá bay đầy trời, kéo theo cái lạnh của khoảnh khắc giao mùa, vừa đủ cho những đôi tình nhân tìm hơi ấm tay trong tay bên nhau.
hanoi1

Lập Đông, Hà Nội có gam màu và hương vị say đắm là lạ. Màu vàng, đỏ của nắng, của lá cây, hương phố tỏa ra từ những hàng quà mùa Đông dọc vỉa hè…Tất cả những điều thi vị đó mang cho những người con xa Hà Nội một nỗi nhớ khó tả. Không ồn ào náo nhiệt như mùa Hè, không nồng nàn say đắm như mùa Thu, không tươi trẻ đầy sức sống như mùa Xuân, Đông Hà Nội mang chút lạnh lùng nghiêm nghị nhưng cũng không kém phần đáng yêu và duyên dáng giống như những nàng thiếu nữ Hà Nội vậy.

Hồ Gươm ngày Đông, mặt nước phẳng lặng, soi bóng Tháp Rùa cổ kính và những cành cây khẳng khiu, trụi lá. Lá đã theo gió đi cùng mùa Thu, dành lại cành trơ khấc cho mùa Đông.
hanoi2
Nắng không đủ rực rỡ, chỉ vừa đủ để làm hồng đôi má của ai đó. Những con đường với những rặng cây đang thay sắc lá. Thỉnh thoảng vài chiếc lá còn sót, rơi xuống trông giống như một vạt nắng vàng lấp lửng giữa khoảng không. Những chùm quả bàng chín vàng ửng, treo lủng lẳng trên cành, những bông hoa điệp còn vương lại, những cành cây cơm nguội rung rinh trong gió có vẻ như không muốn rời đi theo mùa, làm cho cái màu xám đặc trưng của mùa Đông được giảm bớt. Nhờ đó ta vẫn thấy ấm áp trong cái lạnh của gió, của không khí khi bắt gặp Đông trên phố.


“…Hà Nội mùa này chiều không buông nắng

Phố vắng nghiêng nghiêng cành cây khô

Quán cóc liêu xiêu một câu thơ

Hồ Tây, Hồ Tây tím mờ…”

hanoi3

Hồ Tây sương phủ mờ, con đường Cổ Ngư hôm nay dường như cũng có chút khác lạ. Rộng hơn, lạnh hơn, không còn những đôi tình nhân sóng sánh bên nhau dạo bước dưới nắng chiều. “…Đường Cổ Ngư xưa chầm chậm bước ta về…” .

Hà Nội Đông về còn quyến rũ lòng người bởi những món ăn rất riêng. Đó là ngô nướng, ốc luộc và quẩy nóng chiên giòn.

Những bắp ngô nếp còn non, vừa mới được trẩy về từ bãi giữa cầu Long Biên, ven sông Hồng. Bóc lớp áo lá xanh mướt bên ngoài, ta bắt gặp những hạt ngô trắng ngần, bóng mịn, còn căng sữa. Đem quạt nướng trên than hồng chừng mươi phút sẽ cho chúng ta những bắp ngô nướng ngọt dẻo thơm bùi, ngon phải biết…Ngô nướng quyến rũ thực khách bằng hương thơm riêng biệt, mùi thơm của hương đồng gió bãi, của phù sa hào phóng. hanoi4-ngôNgô nướng chỉ sinh ra vào đúng mùa này, đúng khoảng khắc này khi cái se se lạnh của heo may bủa vây quanh ta, khi màn đêm biến chậu than hồng trở nên lung linh huyền ảo. Ai cũng muốn ngồi gần chậu than hơn chút nữa, những đôi má ửng đỏ, những cặp mắt long lanh xúm quanh người quạt ngô, những câu chuyện không đầu không cuối, những tiếng xuýt xoa trong tà áo mỏng, âm thanh lép bép của lò than…tạo nên một không gian ấm cúng kỳ lạ, hòa quyện vào không khí chờ đợi thơm mùi ngô nếp. Cầm bắp ngô nướng chín nóng hôi hổi trên tay, ta có cảm giác hơi ấm lan truyền từ tay vào từng đường gân thớ thịt. Cẩn thận tách từng hạt, từng hạt, nhẹ nhàng bỏ vào miệng, nhẹ nhàng nhâm nhi như sợ cái vị ngon ngọt ấy tan nhanh đi mất.

Sẽ là thiếu sót nếu ta bỏ qua món quẩy nóng.
Mặc dù chỉ mới qua mấy trận gió mùa mà đâu đó bên những vỉa hè, cổng trường đã xuất hiện hàng quẩy nóng với mấy cái ghế, cái bàn con sơ sài cùng chảo mỡ to đùng. Đây là món ăn dân dã và rất rẻ. Ta có thể bắt gặp trên phố rất nhiều hàng quẩy nóng nhưng nổi tiếng nhất vẫn là quẩy ở các phố như Cửa Nam, Phan Bội Châu, Quán Thánh, Thụy Khuê. hanoi5-quay
Quẩy ở phố nào cũng giống nhau, nhưng điều để thu hút thực khách và làm cho món quẩy của quán mình trở nên nổi tiếng thì bắt buộc người chủ phải có nước chấm ngon. Chua ngọt của dấm đường, se cay đầu lưỡi của ớt tươi, mặn dịu của nước mắm và không thể thiếu những lát đu đủ hay cà rốt thái mỏng. Một đĩa quẩy nóng, chấm với nước chấm chua ngọt, thêm chút tương ớt… Chao ơi mới hấp dẫn làm sao.

Có ngô nếp nướng, quẩy nóng giòn, sao ta có thể quên ốc luộc được chứ! Những con ốc béo ngậy được làm sạch sẽ, luộc với lá chanh, sả và một chút gia vị ta có được món ốc ngon tuyệt. Cũng giống như ăn quẩy, ốc ngon một phần nhờ nước chấm, mỗi quán có một cách pha nước chấm riêng, khiến người ăn không thể nhầm lẫn. Nhẹ nhàng xoắn ruột ốc ra khỏi vỏ, rồi nhẹ nhàng nhấn chìm vào nước chấm, mùi vị chúng hòa quyện vào nhau, ngọt ngào biết mấy. Đêm mùa Đông, ngồi xì xụp húp bát nước ốc, uống rượu trong hơi men, xích lại gần nhau nói đủ thứ chuyện, những con ốc như kéo gần khoảng cách mỗi người.hanoi6-oc

Cứ vẩn vơ, mơ màng với cây, với lá, với quà phố Hà Nội trong cái lạnh ngọt ngào còn vương chút thu, dạo bước qua những con đường lá rụng ngập đầy lối đi, dễ khiến hồn ta bay bổng theo từng cơn gió. Đông ơi, chào mi nhé. Mi về đây để ta có thể diện những chiếc khăn len ấm áp, để ta có thể thưởng thức một tách cafe nóng trong quán quen, để ta có thể hít hà cái lạnh giá của sương sớm…

Thi thoảng ta tự tạo cho mình cảm giác nhớ, để lại được mơ màng trong những dư âm cùng giá rét, nơi biến ta thành kẻ mộng mị sống cùng kí ức với niềm dấu yêu dành cho Hà Nội. Hà Nội mùa Đông với mái ngói rêu phong, với cây bàng trụi lá thân sẫm trong sương mờ. Hà Nội mùa Đông với thấp thoáng phố xá ánh đèn, quán cóc vỉa hè, tiếng rao vẳng phố khuya…để lại từng nỗi niềm yêu thương mong nhớ hoài cảm.
hanoi7

Và ta thấy lòng chùng xuống như khi nghe một giai điệu quen thuộc và vọng trong ta một khúc ca Hà Nội phố:

“Em ơi Hà Nội phố

Ta còn em mùi Hoàng Lan

Ta còn em mùi hoa sữa

Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ

Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm

Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông

Ta còn em góc phố mồ côi mùa đông…”

Nguyễn Thanh Mai
Leo_pretty

Hồi Ký của Y Ngông Niê Kdăm

Thấy quyển hồi ký của ba chị Linh Nga, bác Y Ngông Niê Kdăm, rất hữu ích cho chúng ta để hiểu biết thêm về đồng bào Tây Nguyên trong chiến tranh và cách mạng, đồng thời biết thêm về một chiến sĩ cách mạng và biết thêm về bạn quý Linh Nga của chúng ta, mình xin phép chị Linh Nga post lên Đọt Chuối Non. Ảnh trong hồi ký là ảnh minh họa của mình. Hy vọng mai mốt chị Linh Nga có thể cho chúng ta các bức ảnh liên hệ đến bác để chúng ta thay thế ảnh minh họa.

Cám ơn chị Linh Nga rất nhiều !

Hoành

.

    Ba tôi có hai lần viết hồi ký . Cuốn ” Khát vọng Tây Nguyên” do nữ nhà báo Diệu Ân ghi, Nhà xuất bản VHDT phát hành năm 1994, không được ông ưng ý lắm. nên Mẹ tôi, bà Bùi Thị Tân đã một lần nữa ghi lại. Đó chính là bản này , chân thật hơn.

      (Linh Nga Niê Kdăm)

.

Nguyên bản của Y NGÔNG NIÊ KDĂM

    “ Bạn ơi lắng nghe, nghe tiếng núi rừng
    Dòng suối xanh trong đất nước anh hùng
    Bền vững như non cao như dòng sông Ba”

Đó là câu mở đầu của một bài hát về Tây nguyên do nhạc sĩ Trần Quý sáng tác, nó có vẻ hư cấu, nhưng là một bài hát nổi tiếng ca ngợi quê hương Tây Nguyên tươi đẹp. Với những người Tây Nguyên như chúng tôi, khi nghe lời ca đó đều có một tình cảm rạo rực, xúc động trong lòng.Tôi rất thích và thường hay cất lên lời ca này, mỗi khi nhớ về Tây Nguyên.
BMT6
Tây nguyên bao la hồi xưa với rừng già còn lút mắt, thú rừng chim đẹp, nhiều vô kể. Ngay ven những con đường là rừng cây to hằng mấy người ôm. Rừng cây đã nuôi sống, che chở và bảo vệ cho các tộc người sống rải rác trên cao nguyên đất đỏ bazan mênh mông.

Thực dân Pháp sau khi bình định các tỉnh miền xuôi đã len lỏi tới rừng núi cao nguyên này. Chúng đã bị một số tù trưởng người dân tộc, như Săm Brăm, N’Trang Lơng, N’Trang Gưh, Ama Djao….liên kết chống trả ác liệt.Dù với đủ chính sách, cả cứng rắn, mềm dẻo đều có, nhưng hầu như chúng không thể nào khuất phục nổi lòng người Tây nguyên.

Mặc dầu họ rất nghèo vì còn hoàn toàn phụ thuộc vào đời sống tự nhiên, kỹ thuật canh tác quá thô sơ, hàng năm phải vài tháng đào củ rừng bổ xung cho bữa ăn, nhưng người Tây Nguyên vẫn sống rất thoải mái giữa núi rừng bao la hùng vĩ, đất rộng người thưa.

Mẹ đã sinh ra tôi trong bối cảnh đó, vào lúc gà gáy sáng ban mai ngày 13 – 08 – 1922 tại buôn Ea Sup, xã Kma Rang Prong – nay thuộc thị trấn Ea Pok, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk lăk. Thật ra người Êđê chỉ biết tính tuổi theo mùa rẫy, nhưng sau này đi học theo trường Pháp, họ gọi bố mẹ hỏi cặn kẽ, rồi tính ngược lại để lập giấy khai sinh cho chúng tôi.

Người Êđê chúng tôi ở Đăk lăk có 2 dòng họ lớn Niê và Mlô.Từ 2 dòng tộc chính này toả ra 24 nhánh họ. Niê kdăm đứng đầu dòng họ Niê, Mlô Duôn Du đứng đầu dòng họ Mlô. Mẹ tôi thuộc dòng họ Niê kdăm, một dòng họ từ xa xưa có nhiều tù trưởng giàu có, hùng mạnh( vì theo truyền thuyết thì khi lên khỏi mặt đất, các dòng tộc khác đã chia chác, lựa chọn hết những vật có sẵn, người trưởng họ Niê kdam giận dỗi đạp mạnh chân lên mặt đất, nói “ tất cả đất này là của Niê kdam”). Nhưng tới thời thuộc Pháp người Êđê nghèo dần. Sau Cách mạng Tháng 8, chế độ tù trưởng cũng đã không còn nữa. Tôi mang họ Niê kdăm của mẹ theo đúng luật tục mẫu hệ Êđê.

Mẹ đã sinh tôi trong cảnh đói nghèo, chỉ có 2 anh em trai: tôi và Y Wung . Bố đẻ tôi đã ốm chết ở buôn Dhăh sau chuyến đi phu ở đồn điền cafe Cư H”lâm của chủ Tây. Lúc đó tôi chưa biết gì. Sau này mẹ tôi đi bước nữa, sinh thêm được 4 em nhưng chết 2, chỉ còn 2 cô em gái là H’Reo và H’Droh ( hiện đang ở buôn Ea Sut, thị trấn Ea Pok, huyện Cư M”gar, tỉnh ĐL).Bố dượng tôi rất tốt, ông đã nuôi và dạy dỗ chúng tôi như người cha đẻ. Những năm hai anh em tôi đi học ở trường tiểu học Pháp- Đê , ngày nghỉ, dượng thường lên đón chúng tôi về buôn Sut.Y Wung nhỏ tuổi hơn, luôn được dượng cõng trên lưng.Còn tôi ỷ mình lớn, tự hào được chạy theo chân cha suốt dọc đường gần 20km từ trường về buôn. Có cả cha và em luôn bên cạnh, tôi đâu có sợ.

Gia đình tôi thường xuyên đói, năm nào cũng ăn củ rừng thay cơm. Có một lần khi mới 5 tuổi, mẹ đã cho tôi đi theo cùng với em trai địu sau lưng, vào rừng đào củ mài. Rễ củ ăn quá sâu, mẹ cứ đào mãi, đào mãi, mồ hôi vã ra như tắm. Vừa mệt vừa đói, mẹ tôi ngã chúi xuống hố.Hai anh em tôi cùng kêu khóc gọi mãi nhưng chẳng thấy mẹ nói gì. Tôi vô cùng sợ hãi, sức nhỏ yếu không kéo được mẹ lên, chỉ biết ôm chân mẹ mà khóc. Mãi sau có dân làng cũng đi rừng về nghe tiếng khóc mới chạy đến dìu mẹ lên và dắt chúng tôi về.

Những năm tháng đó thật khủng khiếp (1927), bọn Pháp vây ráp, dân đói khát, bệnh tật, không gạo, không muối, không có quần áo. Vì tù trưởng Ama Djao bất hợp tác với Pháp, nên bọn chúng chặn luôn cả đường buôn bán từ miền xuôi lên, nên càng thiếu muối ăn. Nhiều người già, trẻ em chết gục ngoài rừng. Tình hình Tây nguyên hết sức rối ren, cảnh đói cơm lạt muối, chết chóc thảm thương càng khắc sâu mối thù của người Tây nguyên với giặc Pháp.

Không chịu ngồi im để nhìn đồng bào chết dần chết mòn, một số tù trưởng đã tổ chức nhân dân nổi dậy chống lại chế độ hà khắc của giặc Pháp. Bọn Pháp truy quét gắt gao các tù trưởng để ngăn chặn làn sóng đấu tranh của nhân dân. Có thể nói năm 1929 là năm đói nhất. Thực dân Pháp càng tổ chức bắt bớ, nhân dân càng thấy rõ bộ mặt dã man của chúng, lại càng căm thù và cương quyết không chịu theo. Pháp đến, dân bỏ đi, chỉ cần trên vai có cái gùi, con dao và ít muối. Đối lại, thực dân Pháp dùng chính sách vừa đàn áp, vừa dụ dỗ. Để phô trương chính sách khai hoá văn minh của nhà nước bảo hộ, chúng mở ra tại Buôn Ma Thuột một trường nội trú dân tộc với tên là : “Groupe Scolaire Franco – Rhadé” – Trường tiểu học Pháp – Đê, do Legale làm hiệu trưởng. Học sinh do lính đi càn ở các buôn làng bắt về.

Khi đó tôi mới 7 tuổi, hôm ấy đang say sưa nô đùa với các bạn trong làng vào ngày lễ cúng Yang bến nước. Bên bờ suối mọi người đang đánh chiêng, uống rượu cần thì một trung đội lính khố xanh người dân tộc thiểu số do một tên Pháp dẫn đầu kéo tới. Chúng bảo chủ làng : Theo lệnh quan công sứ phải bắt trẻ con từ 6 – 7 tuổi về Buôn Ma Thuột đi học.

Nghe thấy vậy chúng tôi chạy toán loạn vào rừng, trèo lên các cây to, cây nhỏ trốn. Tôi và một số bạn trèo lên một cây cam to. Bọn lính ngồi uống rượu, bắt chủ làng khai tên bọn trẻ con 7 tuổi trong buôn và doạ :

– Ai không gọi con về thì cha mẹ sẽ bị bắt, khi nào nộp con mới được về.

Qua một đêm một ngày. Bọn lính lùng sục không tìm được ai, nhưng chúng tôi đói quá phải rủ nhau về nên bị bắt một loạt. Bố mẹ chúng tôi phải mang quần áo đưa con về Buôn Ma Thuột.Tôi và em trai Y Wung cũng ở trong số này.Suốt một năm đầu bố dượng tôi phải theo lên khu nội trú dắt chúng tôi đi học, vì chúng tôi bé quá, đi ăn cơm cũng chưa biết chỗ.Những năm sau tôi học được loại khá, nhưng do nhớ nhà nên hay trốn về. Chính quyền tỉnh bắt gíam dượng tôi 3 tháng, sau đó anh em tôi thương dượng quá mà không dám trốn về nữa. Học được mấy năm, lên lớp 4, 5 tôi luôn là học sinh giỏi.Vào các ngày chủ nhật được ra phố chơi, chúng tôi thường gặp các đoàn tù ở nhà đày Buôn Ma Thuột đi lao động quét đường, cắt cỏ. Họ mặc áo xanh có số đeo sau lưng, có lính khố xanh canh gác. Bọn chúng tôi thắc mắc lắm, về trường hỏi thầy giáo :

– Thầy ơi ! Các ông kia quét đường lại có lính gác, họ có tội gì đấy ?

Thầy giáo nói nhỏ :

– Đó là Cộng sản bị Pháp bắt tù đấy

– Vì sao họ bị tù ?

– Đó là những người yêu dân, yêu nước, chống lại bọn Pháp. Vì chúng nó bắt dân ta làm nô lệ, bắt đi xâu, làm cu li đồn điền trồng cao su, cafe cho chúng.

Tôi nghĩ trong đầu : “Bố mình cũng phải đi phu đồn điền, không mang gì về cho gia đình mà mẹ còn phải tiếp tế cho bố. Nó chơi ác cả với bố mình và gia đình mình rồi”

Dần dần thầy giáo bí mật giảng giải cho chúng tôi biết như thế nào là yêu nước. Tôi còn nhớ đó là các thầy Đào Tử Chí, thầy Phú…Năm tôi 15 tuổi, cả trường có chừng 600 học sinh, chúng cho học thì ít, bắt lao động thì nhiều. Sáng học, chiều nuôi bò, nuôi heo, chủ nhật đi vào rừng lấy củi. Thấy cuộc sống gò bó, căng thẳng, có một số học sinh rủ nhau trốn học nhưng bị bắt lại. Tôi rủ một số bạn học sinh lớn tuổi lên gặp thầy hiệu trưởng Legale xin ông cho giảm giờ lao động, tăng giờ học. Hiệu trưởng đồng ý, nhưng từ đó tôi bị nhà trường theo dõi.
BMT7
Khi học hết cấp I, tôi tốt nghiệp loại giỏi và được chọn đi học nội trú cấp II ở trường trung học Quy Nhơn cùng một số anh em khác như Y Nuê (sau này là giáo sư bác sỹ Ái Phương ), Y Tlam (sau này cũng là giáo sư y khoa ), Nay Phin ( sau là đại biểu quốc hội tỉnh Gia Lai ).Từ năm 1937 – 1940 tôi học ở đây cùng các bạn Tây nguyên và người Kinh. Vì còn ít tuổi lại cùng ở xa nhà nên chúng tôi rất dễ quen nhau, thương nhau không kể người Kinh, người dân tộc. Bạn thân của tôi lúc đó là anh Võ Đông Giang, người Kinh, ngồi cùng bàn ( sau này anh giữ chức bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong chính phủ ). Bọn Pháp không cho chúng tôi nói tiếng Kinh, không được mặc trang phục và học cách giao tiếp của người Kinh, không được yêu người Kinh. Không được học lịch sử dân tộc Việt Nam, chỉ được học lịch sử nước mẹ mẫu quốc. Tôi rất thắc mắc, tôi thấy người Kinh có nhiều cái hay cần phải học hỏi. Sao lại phải cấm ? Bọn học sinh chúng tôi vẫn bí mật học nói, học viết tiếng Kinh.

Lúc đó trong trường có một số thầy giáo và học sinh có tinh thần yêu nước. Các thầy thường giảng giải cho chúng tôi về lòng yêu nước, yêu đồng bào, yêu quê hương, căm thù bọn Phâp cướp nước. Nhờ đó tôi đã dần dần hiểu và biết mình chỉ là người dân nô lệ bị khinh miệt mà thôi. Tôi thấy thương đồng bào mình hơn. Nhưng cũng vì sự hiểu biết này mà tôi đã bị liệt vào loại học sinh bị theo dõi. Do đó tôi không được thi tốt nghiệp.Công sứ Pháp đã nói với tôi, giọng đe doạ :

– Mày học đòi người Kinh và tham gia chính trị, không được học nữa.

Continue reading Hồi Ký của Y Ngông Niê Kdăm

Triết lý Việt – Phù Đổng Thiên Vương

    Đã đăng trên Hoa Thịnh Đốn Việt Báo, số 31, ngày 25 tháng 11 năm 1985

I. Chính truyện

Đời Hùng Vương thứ ba, thiên hạ thái bình, dân vật đầy đủ. Ân vương (ở Trung Quốc) lấy sự thiếu lễ triều cống, giả đi tuần thú để xâm chiếm nước ta.

Hùng Vương nghe được mới triệu quần thần hỏi về kế hoạch đánh hay giữ. Có nhà phương sĩ dâng lời nói rằng:

– Không gì bằng cầu Long Quân để nhờ âm phù.

Hùng Vương nghe theo mới đắp đàn trai giới, đặt vàng bạc lụa là ở trên bàn, đốt hương cầu tế ba ngày thì cảm sấm mưa, thoắt thầy một ông già cao hơn sáu thước, mặt vuông, bụng lớn, râu mày bạc phơ, ngồi ở ngã ba mà nói cười ca múa; người ta trông thấy, ngờ là người phi thường mới tâu với vua. Vua thân hành ra bái yết, rước vào trong đàn; ông già không ăn uống, không nói năng gì cả.
PDTV1
Hùng Vương bước đến nói rằng:

– Này binh nhà Ân sắp sang đánh, hơn thua ra sao, nếu có kiến thức gì xin bày cáo cho.

Ộng già giây lát mở thẻ ra bói, thưa với vua rằng:

– Sau ba năm giặc mới qua đánh.

Vua lại hỏi kế hoạch để đánh giặc, ông già đáp rằng:

– Nếu có giặc đến thì phải nghiêm chỉnh khí giới, tinh luyện sĩ tốt để cho nước có uy thế, rồi tìm khắp thiên hạ có ai dẹp được giặc thì phong cho tước ấp, hễ được người ấy thì dẹp được giặc ngay.

Nói đoạn, bay lên không mà đi, mới biết đó là Long Quân.

Vừa đúng ba năm, biên binh cáo cấp có quân Ân sang. Hùng Vương y theo lời nói của lão nhân, sai sứ đi khắp thiên hạ để tìm người dẹp giặc.

Sứ giả đến làng Phù Đổng, quận Vũ Ninh, trong làng có một ông nhà giàu đã hơn 60 tuổi mới sinh được một người con trai ba tuổi không biết nói, chỉ nằm ngữa không ngồi dậy được. Bà mẹ nghe sứ giả đến, nói bỡn với con rằng:

– Sinh được thằng này thì chỉ biết ăn uống chớ không biết đánh giặc để lĩnh thưởng của triều đình mà đền ơn bú mớm.

Đứa trẻ nghe mẹ, thình lình nói lên rằng:

– Mẹ hãy gọi sứ giả vào đây, con hỏi thử xem là việc gì.

Bà mẹ cả kinh, mừng rỡ báo với xóm làng:

– Con tôi đã biết nói.

Xóm giềng cũng lấy làm lạ mới rước sứ giả về nhà.

Sứ giả hỏi rằng:

– Mầy là đứa trẻ mới biết nói mà bảo kêu ta đến làm gì?

Đứa trẻ mới ngồi dậy bảo Sứ giả rằng:

– Lập tức về tâu với vua đúc cho ta một con ngựa sắt cao mười tám thước, một gươm sắt dài bảy thước, một cái nón sắt, trẻ này cỡi ngựa, đội nón đi đánh giặc cho, giặc sẽ phải tan tành, nhà vua việc gì mà lo.

Sứ giả chạy về trình cáo với vua. Vua mừng bảo rằng:

– Thế thì ta không lo gì vậy.

Quần thần đều tâu:

– Một người đánh giặc làm sao phá nổi?

Vua nói:
PD1
– Đó là Long Quân giúp ta, lời lão nhân đã nói trước không phải là lời nói không, các ngươi không nên ngờ.
Rồi sai người tìm sắt cho được năm mươi cân luyện thành ngựa sắt, gươm sắt và nón sắt; Sứ giả đem tất cả đến; bà mẹ thấy thế cả kinh, sợ họa đến cho mình, lo sợ hỏi con.

Đứa trẻ cả cười nói rằng:

– Mẹ đem cơm thật nhiều cho con ăn, con đi đánh giặc, mẹ đừng lo sợ.

Rồi đứa trẻ lớn rất mau, áo cơm hàng ngày bà mẹ cung cấp không đủ, hàng xóm nấu thêm cơm, làm thịt trâu, rượu, bánh, trái, thế mà đứa trẻ vẫn không no bụng; vải lụa gấm vóc mặc chẳng kín hình, đều phải lấy thêm hoa cây hoa lau mà che nữa.

Đến khi quân nhà Ân kéo đến Trâu Sơn, đứa trẻ mới duỗi chân đứng dậy, mình cao hơn mười trượng, nghểnh mũi mà nhẩy, nhẩy mũi hơn mười tiếng rồi tuốt gươm nói lớn lên rằng:

– Ta là Thiên Tướng đây!

Bèn đội nón nhảy lên ngựa, ngựa phi như bay, múa gươm xông đến trước, quan quân theo sau đến sát lũy giặc, dàn trận dưới núi Trâu Sơn. Quân Ân cả vỡ, trở giáo chạy lùi, Ân Vương chết ở Trâu Sơn, còn dư đảng
thì la liệt sụp lạy và hô rằng:

– Thiên tướng, chúng tôi hết thảy xin đầu hàng.

Đứa trẻ đi đến núi Việt Sóc mới cởi áo mặc rồi cưỡi ngựa bay lên trời, chỉ lưu dấu chân trên đá ở dưới núi mà thôi.

Hùng Vương nhớ đến công lao, không biết lấy gì đền báo mới tôn làm Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ ở vườn nhà làng ấy, cho ruộng một trăm khỏanh để làm lễ hưởng tế xuân thu.

Đời nhà Ân hai mươi bảy vua, trải qua sáu trăm bốn mươi năm, không dám đem binh sang đánh nữa.

Man Di bốn phương nghe được như vậy cũng đều thần phục, về phụ với Vương. Sau vua Lý Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương, lập miếu tại Phù Đổng (nay ở huyện Tiên Du) bên chùa Kiến Phúc, tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu đều có tế lễ vậy.

Có bài thơ rằng:

Vệ Linh năm tháng đám mây nhàn.
Muôn tía nghìn hồng chói thế gian.
Ngựa sắt ở trời, danh ở sử.
Uy linh lừng lẫy khắp giang san.

II. Triết lý tiềm ẩn

Truyện Phù Đổng Thiên Vương hẳn nhiên là một huyền thoại. Vài người có thể gọi đó là huyền sử. Ở đây, huyền sử có thể được định nghĩa như là huyền thoại dựa trên vài sự kiện lịch sử có thật; tuy nhiên, chuyện thật đã được huyền thoại hóa quá nhiều. Vấn đề chúng ta đang giải quyết, không phải là tìm hiểu xem trong truyện Phù Đổng Thiên Vương có sự kiện lịch sử nào có thật hay không, nhưng nhìn toàn câu truyện như là một huyền thoại.

Huyền thoại, cũng như tất cả các loại tiểu thuyết khác, luôn luôn là phản ánh của ý thức và tiềm thức của tác giả. Khi huyền thoại đã trở thành truyện cổ tích hay huyền sử của một dân tộc, huyền thoại trở thành phản ánh tiềm thức của cả dân tộc đó.

Phần ý thức của huyền thoại, nếu có, thì đã chết mất sau nhiều ngàn năm, vì tác giả của huyền thoại đã biến mất và không ai biết được thực sự tác giả ý thức chuyện gì. Hơn nữa, một huyền thoại có thể kết hợp do rất nhiều tác giả qua rất nhiều ngàn năm, những ý thức hỗn hợp đó không ai có thể tìm thấy.

Tuy vậy, tiềm thức của huyền thoại trường tồn. Huyền thoại được dân tộc hóa, được cả một dân tộc chấp nhận, say mê, và lưu luyến, vì sức lôi cuốn, quyến rũ nào đó từ trong lòng huyền thoại đối với cả dân tộc. Sức quyến rũ đó hiện hữu vì nó phản ánh những ước muốn, những suy tư, nhiều khi chưa được ý thức hóa, hoặc không thể thực hiện được trên thực tế, vẫn còn chìm đắm trong tiềm thức và thể hiện thành những giấc mơ. Huyền thoại của một dân tộc chính là sự thể hiện tiềm thức của dân tộc đó qua những mơ mộng thần thoại.

Như vậy, giấc mơ Phù Đổng Thiên Vương diễn tả những ước muốn, những suy tư gì nhỉ?
pd2
Câu chuyện thật ngắn, nhưng đi từ thời bình đến thời chiến, từ triều đình đến một gia đình ở nông thôn. Câu chuyện bàng bạc những ‎ý niệm chính trị, chiến lược và giáo dục căn bản cho một quốc gia hùng cường. Tìm hiểu những suy tư căn bản này, tức là tìm hiểu những tư tưởng giáo dục, chính trị và chiến lược căn bản cho dân tộc Việt Nam, tức là tìm hiểu cái, trên l‎ý thuyết, ta gọi là lập trường dân tộc, và trên thực hành, ta gọi là hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế… phù hợp với dân tộc Việt Nam.

Trong phần sau đây, tác giả sẽ bàn về ba điểm chính của truyện Phù Đổng Thiên Vương. Thứ nhất, quan niệm giáo dục; thứ hai, quan niệm chính trị; và thứ ba, quan niệm chiến lược. (Trong truyện có sự xuất hiện của nhiều con số, nhất là số ba và những bội số của nó. Các đọc giả muốn tìm hiểu ý nghĩa triết lý của những con số, xin đọc quyển Kinh Hùng và các sách khác trong bộ Triết Lý An Vi của giáo sư Kim Định).

A. Giáo dục

Quan niệm giáo dục Việt Nam được diễn tả bằng hành động của người mẹ đối với cậu bé lên ba. Cậu bé chỉ biết ăn và nằm, không biết nói, có nghĩa là cậu bé có vẻ rất chậm lụt, u mê. Người mẹ hẳn nhiên là rất buồn bã: “Con mình sao không được như con người ta. Con người ta thông minh, ăn nói hoạt bát, chạy nhảy nhanh nhẹn, chứ đâu có ăn và nằm và câm như con mình.” Và khi đứa trẻ bắt đầu nói câu đầu tiên, là chỉ nói chuyện điên, kêu mẹ mời sứ giả của vua vào, và kêu sứ giả bảo vua làm ngựa sắt, gươm sắt… Nếu thực sự đứa bé nói chuyện điên, thì không biết cái đầu của bà mẹ còn nằm trên cổ được bao lâu.

Dầu vậy, những lời nói điên khùng của đứa con dốt nát đó không làm cho người mẹ bỏ qua lời nói của con. Người mẹ vẫn chấp nhận may rủi cho cái đầu của mình, và thử làm theo lời con. Hành động treo sinh mạng của mình trên sợi chỉ mành chỉ để cho đứa con dốt nát của mình thử ý kiến của nó, là hành động rất can đảm, quý vị ạ. Cũng nhờ bà mẹ có can đảm chấp nhận may rủi mà Việt Nam có thiên tướng Phù Đổng.

Việc giáo dục ngày nay cũng vậy, bố mẹ cần chú tâm đến ý muốn của con cái. Dù là đôi khi tư tưởng của con cái có vẻ rất là quái gở. Nếu con mình vẫn giữ vững lập trường của nó sau khi mình đã giải thích cặn kẻ, hãy để cho con thử ý kiến của nó, và hãy đứng sau lưng đỡ nó khi nó vấp ngã. Giáo dục như vậy là giáo dục Việt Nam. Lối giáo dục này nằm rành rành trong truyện Phù Đổng Thiên Vương mấy ngàn năm về trước. Nhiều người nói rằng con cái Việt Nam phải nghe lời bố mẹ răm rắp, con cái không có quyền có ý tưởng mới lạ quái gở; chỉ có cái đám Mỹ hóa mới để con cái nói đủ thứ chuyện. Nói như thế là sai, giáo dục Việt nam chính thống là giáo dục cởi mở như trong Phù Đổng Thiên Vương. Bố mẹ nên mừng rỡ khi con mình có những ý tưởng mới lạ. Nên giúp con phát triển tư tưởng mới lạ và cùng con cái tìm hiểu tư tưởng đó. Nếu mình không đồng ý với con, thì để cho nó thử ý của nó. Dĩ nhiên là cha mẹ phải chấp nhận may rủi; luôn luôn đứng sau lưng con đỡ nó khi nó vấp ngã. Nếu nó sai, nó sẽ học khôn; nếu nó đúng, đời nó có lợi.

Giáo dục theo lối cha mẹ nói gì con phải gật theo, không phải là lối giáo dục Việt Nam, mà là giáo dục nô lệ. Khi người Tàu cai trị Việt Nam, họ không muốn dân Việt Nam biết suy nghĩ, họ đốt sách vở của người Việt, và họ muốn dân Việt phải nghe theo họ răm rắp. Gọi dạ bảo vâng. Và lối giáo dục đó dần dần ăn sâu vào gia đình Việt nam; dĩ nhiên là có lợi cho người Tàu, vì lối giáo dục đó đào tạo một đám dân nô lệ chỉ biết dạ, vâng.

Vì vậy, các vị bố mẹ, hãy suy gẫm chuyện Phù Đổng Thiên Vương; hãy đến gần con cái; hãy chú ý đến các tư tưởng mới lạ, dầu là quái gỡ, của con cái; hãy vui mừng khi con cái biết suy nghĩ mới lạ; hãy chấp nhận may rủi; và hãy để con cái phát triển tư tưởng cá nhân của nó. Sợ hãi là nguồn gốc của nô lệ. Nếu bố mẹ sợ hãi tư tưởng mới lạ quái gỡ của con cái, mà nhất định theo lối giáo dục nô lệ, thì chính mình đã biến con mình thành những nô lệ mới trong xã hội mới, dù ở Hoa Kỳ hay bất cứ nơi đâu.

B. Chính trị

Phù hợp với phương cách giáo dục cởi mở phía trên, truyện Phù Đổng Thiên Vương diễn tả một hệ thống dân chủ cao độ. Nhà vua cai trị bằng ý kiến và sự khôn ngoan của dân chúng, và nhân dân là sức mạnh duy nhất của quốc gia.
pd3
* Hùng Vương, khi cần ý kiến về chính trị, thấy có ông già quái gỡ hát múa ngoài đường, là gọi vào xin ý kiến. Ông già vào cũng không nói năng chi, đợi vua hỏi mới trả lời. Ông già là biểu tượng của sự khôn ngoan của nhân dân. Thường thường người lớn tuổi suy tư cặn kẻ hơn người nhỏ tuổi; vì vậy ông già là biểu hiện cho sự khôn ngoan. Ông già ở ngoài đường, không quen biết gì với vua cả, chỉ là một người dân như mọi người dân khác thôi. Vì vậy, ông già là biểu hiện của dân chúng.

Ông già lại hát múa ngoài đường như là người điên, có nghĩa là nhân dân dầu có vẽ ngu dốt điên cuồng vẫn luôn luôn là kẻ thông thái nhất trong việc trị nước. Các nhà lãnh đạo, các nhà cách mạng, phải biết rằng mình không thể khôn ngoan hơn nhân dân được. Đừng cho rằng dân chúng dốt nát, trình độ thấp kém, không biết gì, để rồi lạm dụng quyền hành, biến thành kẻ độc tài bất tài.

Ông già vào cung vua vẫn không nói năng chi, đợi vua hỏi mới trả lời. Nhân dân là vậy, nhân dân luôn luôn thầm lặng, nhân dân không bao giờ tuyến bố ồn ào. Các nhà lãnh đạo phải đến gặp dân, phải hỏi ý dân, dân mới trả lời. Nhân dân không tuyên bố sự khôn ngoan của mình bừa bải. Đừng bao giờ đợi nhân dân tự động cho ý kiến.

* Nhân dân gồm mọi hạng người, không phải chỉ có những kẻ to lớn, quyền thế, hoặc có vẻ hiểu biết (biểu hiện bằng ông già cao hơn sáu thước, mặt vuông, bụng lớn, râu mày bạc phơ), mà còn là những người có vẻ kém hiểu biết nhất, có vẻ bất tài vô dụng nhất (biểu hiện bằng đứa trẻ lên ba mà chỉ biết ăn và nằm). Cũng như ông già, đưa trẻ không nói, đến lúc sứ giả vừa đi ngang qua mới nói. Sự im lặng được nhấn mạnh hai lần trong câu truyện. Các nhà lãnh đạo phải đặc biệt chú ý đến điểm này, nhân dân không bao giờ nói, trừ khi được hỏi đến.

Nhân dân nói ra nhiều khi nghe rất điên khùng, như cậu bé đòi vua làm ngựa sắt, gươm sắt… Nhưng dầu điên khùng cách mấy đi nữa thì nhân dân luôn luôn đúng, luôn luôn biết mình muốn làm gì, làm được gì.

* Không những nhân dân luôn luôn có lý, mà nhân dân là sức mạnh duy nhất của quốc gia. Cậu bé một mình phá giặc. Quần thần sợ quá phải tâu vua: “Một người đánh giặc sao phá nổi.” Một người đây là hình ảnh của nhân dân trong một khối. Hình ảnh của những người dân quê mùa có vẻ bất tài vô dụng, nhưng khi phải chiến đấu, lại là sức lực duy nhất của quốc gia. Giáo sư Kim Định viết: “Thánh Dóng (Phù Đổng Thiên Vương) không chi khác hơn là bóng dáng con người đại ngã tâm linh có tầm vóc như vũ trụ được biểu lộ ra ngoài bằng tinh thần tự lực, tự cường của dân nước Văn Lang, ngày thường không ai để ý đến (nói bóng là trẻ ba năm chưa biết nói); nhưng khi phải đối phó với nguy cơ thì đức tự lực tự cường dâng lên tầm kích vũ trụ, nâng con người lên ngang hàng cùng trời, đất, đáng mặt dẫn đầu các anh hùng trong nhân thoại Việt…” Lối giải thích chính trị của tác giả và lối giải thích thuần túy triết l‎ý của giáo sư Kim Định, dầu ngôn từ khác nhau, vẫn là một tinh thần đại ngã của dân tộc Việt Nam.

* Lối cai trị bằng cách đi khắp nơi hỏi han ý kiến dân chúng và làm theo lời dân chúng, dù dân chúng nói năng có vẻ rất quái gỡ điên rồ là lối cai trị dân chủ. Ý dân là ‎ trời. Và lối cai trị dân chủ có sức mạnh vạn năng, Tiền nhân ta vẫn biết rằng nếu nghe lời dân thì dầu có giặc Ân hùng mạnh, Việt Nam vẫn thắng. Trong thực trạng chính trị, lối cai trị này thật là sáng suốt. Vì chiến tranh được chính nhân dân đổ xương đổ máu chiến đấu, các vị lãnh đạo đâu có phải là người trực tiếp chiến đấu ở chiến trường; nếu kế hoạch không hợp ý dân, người dân làm sao hăng say chiến đấu. Hiệu lực dân chủ trong chiến tranh, nhiều ngàn năm về sau, còn thể hiện rõ ràng hơn trong Hội Nghị Diên Hồng của nhà Trần.

Sự quan trọng của nhân dân còn được nhấn mạnh trong truyện Phù Đổng Thiên Vương bằng cách thần thánh hóa nhân dân. Ông già là Long Quân và cậu bé là thiên tướng. Vua phải nghe lời người trời; tức là vua phải nghe theo lời nhân dân. Và cứ như Hùng Vương, nghe theo nhân dân răm răp ắt là đánh đâu thắng đó.

* Chuyện Phù Đổng Thiên Vương còn diễn tả hệ thống kinh tế tư sản, tự do và sự vắng bóng của ghen tị giai cấp trong văn hóa Việt Nam. Ông già bảo vua Hùng Vương tìm trong thiên hạ có ai dẹp được giặc thì phong “tước ấp”. Tước là chức vụ, ấp là một mảnh đất khá rộng. Cậu bé là con của một ông “nhà giàu”. Cậu bé đánh giặc xong không cần tước ấp mà lại đi thẳng lên trời. Điều này có nghĩa là nhân dân chiến đấu không phải vì tư lợi, nhưng nhân dân vẫn ưa chuộng hệ thống kinh tế tư sản. Dân Việt Nam không chống đối ông “nhà giàu”, ngược lại vẫn ưa chuộng ông nhà giàu có con là anh hùng cứu quốc. L‎ý thuyết đấu tranh giai cấp vô sản tư sản, vì vậy, xa lạ với truyền thống dân tộc Việt Nam trong Phù Đổng Thiên Vương.

Độc giả nên nhớ rằng huyền thoại là một giấc mơ. Nếu đấu tranh giai cấp ảnh hưởng nặng nề trong tiềm thức dân Việt Nam, truyện Phù Đổng Thiên Vương không thể có anh hùng nhà giàu được. Dù tác giả câu truyện có viết “nhà giàu”, thì mấy ngàn năm sau sẽ biến thành “nhà nghèo”, nếu thực sự dân Việt Nam có ý niệm đấu tranh giai cấp tiềm ẩn. Sự xa lạ của đấu tranh giai cấp trong văn hóa Việt Nam còn thể hiện rất nhiều trong những huyền thoại khác, như Chử Đồng Tử và Tiên Dung.

* Hệ thống dân chủ trong truyện Phù Đổng Thiên Vương còn được diễn tả rõ ràng hơn, bằng biện pháp đi tìm nhân tài. Khi cần nhân tài, nhà vua tìm cả trong nước, dầu đứa bé con lên ba cũng được sử dụng. Hệ thống chính trị như vậy không có giai cấp. Ai cũng có thể làm quan được nếu có tài. Lối tổ chức chính trị như vậy khác với hệ thống tổ chức nhằm giữ quyền hành độc đoán trong tay một thiểu số cầm quyền, như chế độ phong kiến của tây phương. Hơn nữa, trong hệ thống dân chủ Phù Đổng, người tài luôn luôn có dịp thi thố tài năng của mình, không bị đè nén vì giai cấp hay vì l‎ý do nào khác.
pd4
Tác giả cần nhấn mạnh ở đây, dân chủ thực sự thể hiện trong hành động của nhà cầm quyền. Tư tưởng dân chủ có thể thực hiện được nếu vua, như vua Hùng Vương chú trọng đến nhân dân.

C. Chiến lược

Trong hệ thống giáo dục và chính trị Phù Đổng, những quy ước chiến lược được thiết lập rõ ràng. Chiến lược là biện pháp phối hợp các hoạt động và hệ thống chính trị, kinh tế, giáo dục để phục vụ mục tiêu tối hậu của quốc gia. Mục tiêu tối hậu của quốc gia, thể hiện trong truyện Phù Đổng Thiên Vương, là bảo tồn sức mạnh quốc gia trước đe dọa xâm lăng.

* Quy ước chiến tranh Phù Đổng khởi đầu bằng hệ thống cởi mở và hệ thống chính trị dân chủ, lấy dân làm sức mạnh như đã nói trên. Hệ thống quân sự được tổ chức trên hai khái niệm liên hệ chặt chẻ với nhau.

Thứ nhất, tổ chức quân sự là tổ chức cởi mở, cho mọi nhân tài cùng tham dự. Tổ chức quân sự này dùng tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, làm nền tảng cho sự đoàn kết của quân đội. Hiện tượng đứa bé gốc gác nông dân được nắm quyền chinh phạt nhà Ân diễn tả tinh thần cởi mở của quân đội. Tinh thần yêu nước diễn tả bằng hiện tượng cậu bé đi thẳng lên trời thay vì ở lại nhận tước ấp.

Lối tổ chức quân đội này là tổ chức quân đội ngày nay áp dụng. Dưới chế độ phong kiến tây phương, mỗi lãnh chúa có quân đội riêng. Quân đội lãnh chúa lấy tư lợi và sự trung thành với lãnh chúa làm căn bản. Quân lính không có ý thức quốc gia mà chỉ có ý thức lãnh chúa. Vì vậy, trong một quốc gia có nhiều lãnh chúa, quân đội của các lãnh chúa không thống nhất và thiếu nền tảng đoàn kết cho quốc gia.

Tại những quốc gia cổ Hy Lạp, khi quân đội là một giai cấp biệt lập với các giai cấp khác, chiến lược không liên hệ gì tới nhân dân, vì quân đội xa cách với nhân dân. Kể cả trong các quốc gia phong kiến, vấn đề chiến lược rất ít lệ thuộc vào nhân dân, vì nhân dân không có quyền lợi gì trong chiến tranh cả. Nhân dân không có tài sản, nếu có chiến tranh là nhân dân chỉ có chiến đấu và chết để phục vụ tài sản của lãnh chúa.

* Nhận định trên đưa đến khái niệm tổ chức quân đội thứ hai của Phù Đổng. Nhân dân phải là nhân dân hữu sản, biểu hiện bằng ông nhà giàu. Khi có chiến tranh, nhân dân không những chiến đấu vì lòng yêu nước mà vì còn bảo vệ tư sản của mình. Lòng yêu nước có sẵn trong nhân dân nhưng nó vẫn trừu tượng. Lòng yêu nước cần được bổ sung bằng quyền tư hữu để nhân dân thấy quyền lợi trước mắt. Ảnh hưởng của tư hữu trên lòng hăng say chiến đấu của quân đội được biểu hiện bằng cậu bé thiên tướng con ông nhà giàu, và sự ban thưởng tước ấp do ông già khuyên vua.

Tóm lại, hệ thống giáo dục cởi mở, chính trị dân chủ, và kinh tế tư sản của Phù Đổng đưa đến tổ chức quân đội lấy dân, quyền tư hữu của dân, và lòng yêu nước làm căn bản. Tổ chức quân đội đó có sức mạnh trong thời chiến, biểu hiện bằng chiến thắng quân Ân. Trong thời bình hệ thống chính trị cũng làm nhân dân vui vẻ, như lúc bắt đầu vào truyện Phù Đổng Thiên Vương.

* Khi tổ chức quân đội đã phù hợp với hệ thống giáo dục, chính trị và kinh tế của quốc gia rồi, vấn đề nền tảng cho sức mạnh quân đội đã được giải quyết xong. Truyện Phù Đổng Thiên Vương còn đưa ra vài lý thuyết chiến lược khác.

Thứ nhất, binh sĩ phải được lo lắng nuôi dưỡng tử tế; quốc gia không thể để binh sĩ thiếu thốn. Hiện tượng cậu bé ăn uống hoài, cả làng xóm phải lo ăn lo mặc, diễn tả sự quan trọng‎ của vấn đề nuôi dưỡng binh sĩ.

Câu chuyện còn diễn tả hậu quả kinh tế của việc nuôi dưỡng một đoàn quân. Cậu bé nhỏ xíu mà cả làng phải lo. Như vậy, những vị lãnh đạo quốc gia phải lo nuôi dưỡng binh sĩ tử tế, quân đội mới có sức mạnh. Nhưng coi chừng, chiến tranh trường kỳ sẽ làm cho nền kinh tế suy sụp, vì một người lính hao tốn bằng năm bằng mười người thường.

Thứ hai, Phù Đổng Thiên Vương còn đưa ra quy ước chiến lược “tấn công phòng thù” và vận tốc để chủ động chiến trường. Trong truyện, quân đội nhà Ân đến núi Trâu Sơn, quân đội phòng thủ của Hùng Vương thay vì án binh bất động chờ tấn công, thì lại ra tay tấn công nhà Ân ở Trâu Sơn. Phòng thủ một lãnh thổ bằng cách tấn công quân đội xâm lăng, thay vì chỉ chờ bị tấn công, là chiến pháp nhằm chủ động chiến trường đã được nhấn mạnh nhiều, từ Tôn Tử đến Clausewitz.

Chủ động chiến trường không những chỉ nhờ tấn công mà còn nhờ vận tốc. Trong truyện nói đến ngựa sắt chạy như bay. Đây cũng là vấn đề Tôn Tử và Clausewitz nhấn mạnh rất nhiều. Một quân đội thiếu vận tốc, bị động, chỉ chờ tấn công là quân đội chết. Vận tốc cao làm cho quân đội có thể lùi khi địch tiến, tiến khi địch lùi, và tấn công khi địch sơ hở.

Các khái niệm chiến lược chú trọng về tấn công và vận tốc khác với quan niệm chiến lược cổ điển của tây phương lệ thuộc vào bị động phòng thủ trong những thành quách khổng lồ. Mấy ngàn năm trước tiền nhân của ta đã thấy những khái niệm chiến lược mà tây phương mới bắt đầu sử dụng gần đây. Napoleon là chiến lược gia tây phương đầu tiên sử dụng tấn công và vận tốc trong lịch sử Âu Châu cận đại.

III. Kết luận

Truyện Phù Đổng Thiên Vương, một huyền thoại, một giấc mơ của dân tộc Việt Nam, cũng như những giấc mơ khác của dân tộc Việt, mang trọn tâm tư của dân tộc Việt, mang trọn kiến thức của dân tộc Việt. Những kiến thức trong những huyền thoại nhiều ngàn năm về trước lại là những kiến thức giáo dục, chính trị, kinh tế, chiến lược thực tiễn trong thế giới hiện đại. Những kiến thức đó rất gần với chân lý vì đã trường tồn mấy ngàn năm. Đám con cháu hậu tiến, không thấy được những tinh hoa cao vời đó, mà còn cho rằng văn hóa Việt Nam cổ hủ, là đã có mắt không tròng vậy.

Trần Đình Hoành

Bài liên hệ: Triết lý Việt – Quả Dưa Hấu