
Lần này, chúng ta sẽ cùng nhau đọc hai bài diễn văn nổi tiếng của Franklin Delano Rosevelt (1882 – 1945, thường được gọi tắt là FDR) , vị tổng thống thứ 32 của nước Mỹ, người mà đánh giá là vị tổng thống số 1 của nước Mỹ (theo đánh giá của các học giả Anh năm 2010). Đây là hai bài diễn văn tiêu biểu cho chính sách và thành tựu của ông ở cương vị tổng thống: lèo lái nước Mỹ qua cuộc Đại Khủng Hoảng và Chiến Tranh Thế Giới Thế Hai. (Tuần này chúng ta đọc bài Diễn Văn Nhậm Chức lần đầu, và tuần sau chúng ta sẽ đọc bài Diễn Văn Trân Châu Cảng). Trước khi đọc hai bài diễn văn, có lẽ ta nên điểm qua một chút về tính cách và con người của tác giả, Franklin Delano Rosevelt.
F.D.Roosevelt sinh trưởng trong một dòng họ với những tên tuổi gắn bó với lịch sử nước Mỹ, một gia đình giàu có và môi trường sống nhiều đặc quyền. Bà nội của ông là chị em họ của phu nhân tổng thống thứ năm của Hoa Kỳ, James Monroe. Còn ông ngoại của ông hậu duệ của những nhà lập quốc đến đất Mỹ trên tàu Mayflower, Richard Warren, Isaac Allerton, Degory Priest, và Francis Cooke. Ông cũng là anh em họ năm đời với tổng thống Theodore Rosevelt. Mẹ ông là một bà mẹ độc đoán với nhiều ảnh hưởng trên con trai, trong khi bố ông là một ông bố xa cách.
3:15 phút sáng 22 tháng 6 năm 1941, phát xít Đức bất thần tiến công Liên Xô không hề có tuyên chiến, thậm chí 2 bên còn đang có hiệp ước Không Xâm Phạm Xô Đức.




Neville Chamberlain (1869-1940) là Thủ tướng của nước Anh từ năm 1937 đến 1940. Ông được biết đến vì chính sách nhượng bộ của ông qua Hiệp định Munich (1938) đồng ý để Đức chiếm vùng Sudetenland của Tiệp khắc hầu tránh chiến tranh. Nhưng khi Đức tiếp tục tham vọng thống lãnh, xâm lấn Ba Lan, Chamberlain liền bãi bỏ chính sách nhượng bộ và lãnh đạo Anh quốc cùng với Liên minh Pháp chống lại Đức. Và Thế chiến thứ hai bắt đầu (1939-1945). Tám tháng sau, khi khối Liên minh buộc phải rút lui ra khỏi Na Uy, Chamberlain từ chức.



Những năm tháng làm học Tăng tại miền đất Sài thành, nơi có nhiều bậc học giả và thấy đạo. Thầy đã được nuôi dưỡng từ chiếc nôi của thập niên 80, với nhiều tôn túc ở Tu viện Quảng Hương Già Lam, Viện Nghiên Cứu Phật Học Vạn Hạnh. Hai vị thầy chuyên về giáo dục đã dẫn dắt Thầy vào con đường đào tạo, đó là Hòa thượng Thích Trí Thủ và Hòa thượng Thích Minh Châu. Hòa Thượng Thích Trí Thủ là vị Giám viện các Phật học viện Trung Phần từ Phật học viện Báo Quốc Huế, đến Tu viện Quảng Hương Già Lam Sài gòn. Và Hòa Thượng Thích Minh Châu là Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh và Viện Cứu Phật Học Vạn Hạnh.
Mohandas Karamchand Gandhi (1869-1948) là một chính trị gia và tư tưởng gia siêu việt. Ngài là người sáng tạo ra triết lý satyagraha. Satya (truth, sự thật) là đạo hay chân lý hàm ý lòng yêu thương. Lòng yêu thương phát sinh ra sức mạnh (agraha, force). Satyagraha là sức mạnh được sinh ra bởi lòng yêu thương. Satyagraha được thể hiện dựa trên nền tảng bất bạo động (ahimsa, nonviolence). Satyagraha là “vũ khí” đã giúp Ấn độ giành được quyền độc lập từ Anh quốc và là nguồn cảm hứng cho nhân quyền và tự do trên toàn thế giới.