Các bài đăng bởi vanhac

Hương sắc rừng xuân Tây Bắc

Núi ngàn Tây Bắc mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng, đầy bí ẩn và đam mê, quyến rũ. Song mùa xuân có một vẻ đẹp không mùa nào có được. Trên nền xanh non mướt mát căng đầy nhựa sống, là những sắc mầu tinh khôi, hài hòa đến tuyệt đỉnh của các loại hoa rừng, mà mỗi sắc mầu, mỗi hương thơm như thấm đẫm, tan hòa trong thiên nhiên, trong mỗi bản mường, trên muôn sắc mầu thổ cẩm tay búp măng rừng thêu dệt, trên sắc má đào thơm thơm thiếu nữ và trong ánh mắt cười lung linh của người già, trẻ nhỏ, đơn sơ mộc mạc thế thôi nhưng say đắm lạ kỳ.

Tây Bắc núi non trùng điệp. Khi nàng xuân khoác tấm áo choàng như sương như khói nương ánh bình minh lướt trên đỉnh núi, lòng thung, bàn tay dịu hiền, ấm áp như bàn tay thân thương của bà, của mẹ, của em chạm vào vạn vật. Đất bỗng chuyển mình trong cồn cào sinh nở, những rừng cây thu mình lại tránh cái giá rét của mùa đông giá như thoáng ngỡ ngàng rồi bừng tỉnh e ấp những chồi xanh, những dòng suối đang nhẹ nhàng róc rách thì thầm bản tình ca mùa đông, bỗng reo vui ngời muôn ánh bạc, trên những cành cây xù xì thô ráp chợt hé muôn nụ xuân, ngơ ngác trước sự hoàn sinh diệu kỳ của vạn vật, rồi đua nhau bừng nở những bông hoa đầy hương sắc chào xuân mới.

Xuân Tây Bắc ngàn thứ hoa rừng, những hoa lê, hoa mận, hoa đào, hoa ban, hoa chuối, hoa dó, các loại lan rừng… những loài hoa có tên và không tên. Khắp núi ngàn như được dát bằng một tấm thảm nhung gấm ngồn ngộn sắc mầu, ngây ngất hương thơm, hôi hổi một sức sống diệu kỳ bất tận. Mỗi làn gió xuân nhẹ thổi, muôn sắc mầu lại hân hoan, nao nức trong những đợt sóng xanh reo vui đuổi nhau xa tít tắp. Những bông hoa dập dờn, thấp thoáng như muôn ngọn lửa ấm áp. Nếu hoa lê, hoa mận, hoa ban, hoa dó… trắng đến nao lòng, thì hoa đào phớt hồng lại như gợi bao nỗi niềm về một mùa hò hẹn. Mùa hoa mận đến sớm nhưng thật là độc đáo, vừa mới chiều qua đấy thôi, những nụ hoa còn e ấp, chúm chím nét cười duyên trên cao nguyên Mộc Châu (Sơn La), Bắc Hà (Lào Cai)… cho lòng người cứ thấp thỏm đợi chờ, vậy mà sáng xuân nay đã mênh mông một mầu trắng đến nghiêng cả đất trời.

Cái khoảng khắc diệu kỳ đến nao lòng ấy để lại trong ta một ấn tượng khó phai. Chỉ một bước chân mà cái khoảng cách của hai mùa Đông – Xuân bỗng trở thành gần gũi. Còn sắc hồng phơn phớt của hoa đào Tây Bắc lại như một thông điệp của mùa xuân. Đào Tây Bắc không rực rỡ kiêu sa, nhưng lại đi vào chiều sâu của không gian và thời gian và tình người đằm lắng. Những cánh hoa đơn hồng nhạt, dung dị, mà không kém phần thanh cao ấy chuyên chở cả mối tình bất tử. Người xưa đã dùng dòng máu từ trái tim yêu nhuộm thắm những bông hoa trên tấm thổ cẩm dệt bằng khát vọng một tình yêu trắng trong chung thủy mãi hồng trên khắp non ngàn và trái tim của người Tây Bắc.

Người Mông Tây Bắc còn gọi hoa này là “Tớ Dảy”, người Mông có câu:“Làm mùa xem hoa tớ dảy /Xây lứa đôi xem bàn tay”. Hội chơi núi đầu xuân – “Sài sán”, từng đôi trai gái Mông ô hồng nghiêng chao, đôi mắt huyền tình tứ, sắc hoa đào hồng trên má thắm, tiếng khèn, đàn môi, kèn lá thổn thức cả rừng xuân. Du khách chỉ một lần được chiêm ngưỡng hoa đào Tây Bắc chắc sẽ không khỏi trầm trồ thán phục vẻ đẹp dung dị nhưng thánh thiện ấy, để rồi ký ức cứ ùa về rộn rã trong nhịp vó ngựa của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi nhành đào báo tiệp tới Ngọc Hân công chúa và cứ tự hỏi: Có phải tự ngàn xưa hồn thiêng dân tộc đã hòa trong sắc hoa đào, nên những cánh hoa đào rơi như những giọt nước mắt hồng, khi quân giặc treo và bắn người anh hùng nhỏ tuổi Vừ A Dính vì không chịu chỉ nơi ở của du kích, cùng những hạt mầm của cây đào Tô Hiệu xanh biếc trên đá xám nhà giam đã bừng nở những mùa xuân bất diệt cho dân tộc?

Nếu hoa đào được coi là hoàng hậu của mùa xuân, thì hoa ban lại được coi là hoa của tình yêu, của lòng hiếu thảo. Người Thái Tây Bắc có bao nhiêu câu chuyện tình về hoa ban, câu chuyện nào cũng thấm đẫm một khát vọng về tự do hôn nhân và tình yêu đôi lứa. “Hoa ban nở thành người con gái Thái” – (Dân ca Thái), mỗi bông hoa năm cánh trắng ngần tỏa hương thơm dịu như búp tay em, trên nền lá xanh trung trinh hình tim hai nửa. Có phải vậy không mà từ bàn tay em gọi lúa lên xanh, gọi ngô mẩy hạt, bông ngời sắc trắng, hóa thân trong muôn sắc mầu thổ cẩm, đến những dòng suối già nua trầm tư kia mỗi khi tay em hồn nhiên khỏa nước, bỗng thổn thức một trái tim yêu trẻ trung cháy bỏng một ước mơ hạnh phúc vẹn tròn.

Trong Hội hái hoa ban, những đôi người yêu nhau gửi gắm bao ước nguyện trong mỗi nhành hoa trao nhau: “Hoa ban nở, hoa ban tàn/ Tình ta đẹp như hoa ban/ Còn dài lâu thì như hoa nào /Hỡi người ta yêu…”. “Đôi ta yêu nhau không tính mùa ban nở/ Không thấy ngày ban tàn/ Mãi mãi như mùa ban bắt đầu, ngày ta yêu nhau”, “Trăm năm ngắm ban nở vẫn còn ngắm mãi. Mỗi mùa ban lại thêm trẻ, không già” (tình ca Thái). Cũng vì vậy người Mông Tây Bắc gọi hoa ban là: ‘Pà lầu”, pà là hoa, lầu là già, xuân về, ngắm hoa ban người già thấy lòng trẻ lại. Giữa mênh mông rạo rực chồi non lộc biếc của đại ngàn ngút ngát, từng chùm hoa ban trắng bồng bềnh như áng mây trên đầu núi, bâng khuâng trong không trung rồi ùa xuống các lòng thung và ngời trên tận những đỉnh núi chọc trời, sáng bừng từng nếp nhà, bản nhỏ. Hoa ban từ lâu gắn bó với đất và người Tây Bắc và được xem là biểu tượng của Tây Bắc.

Tây Bắc còn bao nhiêu loại hoa rừng: Hoa dó mang một hương sắc riêng như một cung bậc tinh tế trong bản hòa tấu sắc mầu, dịu dàng trong câu si, câu lượn: “Hoa dó giục đàn ông vào rừng lấy củi/ Giục đàn bà vào rừng lấy lá dong/ Giục mọi nhà khẩn trương cày, bừa, cấy lúa/ Khắp nơi nhộn nhịp tưng bừng”. “Bên suối, bên nương hoa dó thả từng chùm/ Như những bàn tay trắng xinh vẫy gọi/ Hoa khoác vai nhau soi mình bên suối/ Hương ngọt ngào dưới trăng/ Có chiều xuân gió khẽ đu cành/ Cả rừng dó lao xao ca hát”. Chính vì vậy, tết đến xuân về, trên mâm cúng tổ tiên của người Tày không thể thiếu đĩa hoa dó. Rồi một bông hoa chuối đỏ rực trong đại ngàn xanh, mỗi con gió dập dờn, bông hoa lửa lập lòe, bập bùng như trái tim đỏ thắm, hoa gạo thắp lửa đỏ trời, hoa dã quỳ vàng rực ven đường, hoa cải trắng làm duyên bên triền nương và còn bao loại lan rừng kiêu sa, tiên cách… tất cả như được một bàn tay tuyệt vời vẽ vờn trên lụa, thực mà sao cứ như mơ.

Mùa xuân trên mọi nẻo đường Tây Bắc, du khách được thỏa thích ngắm những bông hoa rừng đủ loại, gợi nhớ, gợi thương. Hương hoa thấm đẫm trong từng ngọn gió, thơm trong tiếng khèn thanh thoát vút cao, ngọt ngào trong tiếng hát ai thiết tha, nồng cháy trong tiếng đàn môi thầm thì gọi bạn, ngây ngất đam mê trong làn tóc ai náo nức hội xòe. Những đàn bướm hàng ngàn con dập dờn trong vũ điệu giao duyên, những chú ong say hương mùa mật ngọt, những tiếng chim gọi bạn cặp đôi xanh trong vòm lá…

Hương sắc rừng xuân Tây Bắc ấy chân thật, tự nhiên, đồng hành và tự lúc nào đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Tây Bắc, trở thành một phần không thể thiếu, mỗi độ xuân về lại náo nức hồi hộp đợi chờ như lời hẹn hò với một mối tình thuở hoa niên. Còn với những người con xa xứ, tình yêu, nỗi nhớ với hương sắc rừng xuân Tây Bắc thật khó mà đặt tên, cứ dư ba, đau đáu day dứt khôn cùng trong ký ức và khát khao một cuộc hành hương về cội.

Xuân 2010
Trần Vân Hạc

Bến đò xưa

Xin đừng sóng nữa sông ơi
Cứ lao xao thế cho tôi được nhờ
Tôi đi tìm lại bến đò
Tìm trong sóng một tiếng hò: Đò…ơi!

Bến sông níu bước chân tôi
Lời ru nhẹ thoảng đầy vơi đôi bờ
Sương giăng chấp chới cánh cò
Lập lòe hoa gạo thoáng ngơ ngẩn chiều

Đâu rồi dáng mẹ thân yêu
Le te phiên chợ, xiêu xiêu chuyến đò
Đâu rồi ánh mắt người xưa
Con đò đã vắng lời chưa ngỏ lời

Tôi đi tìm bến. Tìm tôi
Tìm hương cỏ mật, tìm lời thề xưa
Bến sông lấp lóa trong mưa
Vẳng trong tiếng sóng nhịp khua mái chèo

Trần Vân Hạc

Âm thanh gói cả đất trời

Đấy là cảm nhận của nhiều người khi được thả hồn trong sự hài hòa, cộng sinh đến tuyệt vời âm thanh của nhạc cụ gõ của người Thái Tây Bắc. Nhạc cụ gõ của người Thái Tây Bắc gồm trống, chiêng, chũm chọe và quả nhạc. Bộ gõ này có vai trò rất quan trọng trong đời sống nghệ thuật và tâm linh. Bộ gõ là vật linh thiêng của mỗi bản, không bao giờ được để mất, không để kẻ thù chiếm đoạt, không được đổi chác mua bán. Mỗi khi những âm thanh của bộ gõ này vút lên, người nghe như cảm nhận được sự sâu xa, tinh tế và huyền diệu của đất trời cùng tình người đằm lắng.


Việc chế tác bộ gõ được tiến hành với những bước rất nghiêm ngặt: Cúng tế xin phép thần linh, cầu mong thần cho phép, chứng giám và phù hộ rồi tiến hành ở nơi kín đáo, sạch sẽ. Khi chế tác xong phải cử hành lễ tế trang trọng và cất giữ ở nhà sàn hoặc gian thờ ma nhà của trưởng bản hoặc người có chức sắc và chỉ được dùng trong dịp tết hoặc lễ cúng xên bản, xên mường. Người Thái cho rằng nếu dùng trống chiêng tùy tiện sẽ có hại cho bản mường.

Trống có hai loại “cống” và “cong”. Thông thường “cống” hay được dùng trong hội xuân, lễ cúng ma bản mường; còn “cong” dùng khi chủ mường qua đời hoặc khi có giặc, báo động…
Tang trống dùng cây gỗ tròn được đục bỏ lõi, thường là gỗ xâng hoặc mít. Tang dài 0,8 – 1 m, mặt có đường kính từ 30cm đến 50 cm, bịt bằng da trâu bò, âm thành trầm và gần.
“Cong” là loại trống dài từ 1,5m đến 3 m, mặt bịt da bò, có đường kính từ 50cm đến 70cm, âm thanh trong hơn, vọng rất xa.

Khi chế tác tang trống, để có âm thanh như ý, các nghệ nhân cạo nhẵn bên trong và mặt ngoài chứ không dùng sơn.

Tác giả bên cô gái Sơn La

Chiêng và chũm chọe được chế tác công phu, đặc biệt là rốn chiêng. Để có âm thanh mong muốn, các nghệ nhân pha thêm vào đồng một tỷ lệ vàng theo công thức bí truyền.
Chiêng có âm thanh trầm được gọi “tô me”, tức là con mái, chiếc có âm thanh cao gọi là “tô po”, tức là con trống, chiếc có âm thanh ở khoảng giữa gọi là “tô lụ” tức là con con.
Chũm chọe gọi là “xánh”, chùm nhạc là “mắc hính”.

Chiêng có thể dùng riêng hoặc phối hợp cả ba cái tạo ra một hợp âm độc đáo mà các nhà nghiên cứu cho rằng đậm đà ý nghĩa nhân sinh.

Thường là đàn ông đánh trống, đàn bà đánh chiêng, trẻ con dùng chũm chọe, con gái trẻ dùng quả nhạc tạo ra những âm thanh sôi động, lôi cuốn lòng người. Nghe những âm thanh tinh tế bộ gõ của người Thái, người ta như cảm nhận được sự giao hòa của đất trời và vạn vật, ngân rung bay bổng khát vọng một cuộc sống sinh sôi, phát triển, ấm no, hạnh phúc, làm cho tâm hồn người trong sáng hơn, thêm tin yêu vào cuộc sống, hướng mỗi người đến giá trị đích thực của Chân – Thiện – Mỹ.

Nghe tiếng trống, chiêng, người ta có thể biết ở bản Thái ấy đang có việc vui hay buồn: Nghe tiếng trống nhịp 2/4 theo kiểu 3 tiếng cùng với 7 tiếng, tiếng chuông gõ trên con mái và con trống rơi vào nhịp mạnh, tiếng của con con rơi vào nhịp nhẹ của trống, thì chắc chắn rằng ở đó có hội xòe. Còn khi nghe tiếng “cong” dồn dập 3 tiếng hoặc 5 tiếng là có việc khẩn cấp như: cháy nhà, có lũ bão, có giặc. Các quả nhạc cùng phụ trợ cho hát và các điệu xòe làm tăng sự vui tươi, sôi động.

Bộ gõ nói chung và chiêng trống nói riêng là những nhạc cụ không thể thiếu của người Thái Tây Bắc, góp phần làm cho đời sống nghệ thuật thêm phong phú, đồng thời còn chứa đựng những ý nghĩa tâm linh và nhân sinh cao cả, gửi gắm vào đó cả tình yêu, tinh thần lạc quan tin tưởng vào cuộc sống no ấm, hạnh phúc.

Trần Vân Hạc

Da diết nhớ bản hòa tấu của ngàn xanh


Mỗi ban mai Hà Nội, khi bình minh ngưng lại giây lát trên cầu Thê Húc, rồi dịu dàng lan tỏa sáng trong mỗi con đường, góc phố, tôi như tan hòa trong những tiếng chim lảnh lót chào ngày mới. Đây tiếng sơn ca như tiếng ngọc rơi từ chốn cao xanh, đánh thức những hạt mầm hy vọng trong mỗi người và những hạt mầm đang say giấc nồng trong đất, những mầm non mới nhú trên cành. Đây chú họa mi ngân rung những cung đàn say đắm, tấu lên khúc nhạc cháy bỏng khát vọng một cuộc sống tự do được sống, được yêu. Chú khiếu từ nhà bên trổ tài luyến láy những âm thanh muôn điệu của những giọng ca tài tử. Chú cu gáy vẫn trầm ngâm như một triết gia trong dòng hồi tưởng của một thời oai dũng, chí khí của đấng trượng phu quân tử lay động cả đất trời. Chú chích chòe hồn nhiên nhả những hợp âm trong vắt… trong lòng chợt dâng lên một cảm giác trong trẻo, lạc quan, yêu đời và khát vọng sống lạ kỳ. Vậy mà sao tôi vẫn bồn chồn, khắc khoải, day dứt với cảm giác như vẫn thiếu một cái gì rất đỗi thân thương, gắn bó; chẳng khác nào một mình xa quê giữa chốn phồn hoa, chợt da diết nhớ về quê hương yêu dấu, nơi có người mẹ hiền nắng mưa tần tảo, người cha nghiêm nghị nhưng độ lượng bao dung, người vợ dịu hiền thủy chung chờ đợi… và tiếng chim xanh ngắt giữa đại ngàn hòa cùng mây trời gió núi…

Tây Bắc gắn bó với tôi mấy chục năm trời: Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên… những con sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Chảy… những con suối Thia, suối Tiên, suối Mơ, Nậm Na, Nậm Rốm…chở đầy lịch sử và huyền thoại, lúc dịu dàng như áng mây đầu núi, lúc như chú ngựa bất kham tung vó chốn thảo nguyên. Những cánh rừng huyền bí miên man bất tận, hôi hổi một sức sống diệu kỳ. Những con đèo quanh co uốn lượn ù ù gió hú đầy những bất ngờ thích thú. Đây đó những ngôi nhà sàn ấm áp khói lam, thấp thoáng bóng ai dịu dàng sắc chàm, tay búp măng rừng gọi lúa lên xanh, gọi ngô mẩy hạt, giục bông hóa thân thành muôn sắc mầu thổ cẩm lung linh như bẩy sắc cầu vồng, hay nồng say trong vòng xòe rực lửa… và mỗi bình minh cao vút những tiếng chim xanh ngắt bản hòa tấu của nhạc sỹ thiên tài của thiên nhiên, ngân rung tinh tế, thánh thiện sự giao hòa của đất trời và tình người huyền diệu, say đắm đam mê đến nao lòng.

Cái kỳ thú đến ảo diệu của những tiếng chim rừng Tây Bắc chính là cái quyền lực và ma lực vô hình tưởng như bất tận, đem lại một nguồn năng lượng mới, giục giã thôi thúc vạn vật khát sống, khát tìm tòi khám phá vươn lên không bao giờ cạn. Khi vạn vật còn đắm mình trong giấc ngủ sương giá, chợt giật mình e không bắt kịp vòng xoay của tạo hóa, dẫu còn như ngái ngủ, thoáng giật mình rồi vươn vai cất lên bản hòa tấu của đại ngàn hòa cùng vòng quay minh triết của vũ trụ. Những tiếng chim rừng như mũi tên rời dây ná của một xạ thủ kỳ tài xuyên qua tĩnh lặng, đánh thức muôn loài. Muôn hạt mầm và những lá xanh non thoáng chút ngỡ ngàng xòe đôi mắt biếc, rì rào gọi nhau vươn cành xanh tán. Những hạt sương trong vắt, tinh khôi, bỗng hồng tươi, ngời lên roi rói như chuỗi vòng của tiên nữ mải vui trong khúc nghê thường, rơi xuống trần gian. Các bản mường còn chìm trong sương bỗng rộn vang tiếng nói, tiếng cười, tiếng các thiếu nữ gọi nhau ra suối lấy nước, chuẩn bị ra ruộng, lên nương. Tiếng chày cối nước thậm thình như nhịp trái tim của suối. Tiếng mõ trâu đàn lốc cốc ấm cúng. Tiếng chú gà trống gáy vang gọi mặt trời đầy quyền uy. Tiếng gà mái cục tác nhảy ổ. Tiếng mèo kêu nũng nịu. Tiếng chó sủa thân thuộc…

Trên cái nền tráng lệ của ngàn xanh cùng mây trời gió núi và nhịp sống sớm mai ấy, vút lên những tiếng chim đầy sinh lực, với những giai điệu hào hoa, tuyệt vời đầy chất ngẫu hứng được bàn tay tài tình của vị thần âm nhạc vô hình điều khiển. Mỗi giọng ca đều là tuyệt tác của tạo hóa, hài hòa cộng hưởng, thăng hoa đến tuyệt đỉnh trong dàn đại hợp xướng. Tiếng trầm như tiếng sấm mùa xuân. Tiếng thanh như gió reo, lá hát, như tiếng khèn xuân cất cao những cung bậc bất tận của tình yêu. Có âm thanh du dương, khoan thai nhẹ nhàng như cánh bướm dập dờn trong vũ điệu giao duyên, lúc réo rắt sang trọng kiêu kỳ, nhưng thầm kín cao sang. Có tiếng thì thầm như dòng nước mang trong mình bao tâm sự, như lời của đôi bạn tri âm tri kỷ. Lúc ríu ran như bầy trẻ nhỏ vô tư, hồn nhiên trong khúc đồng dao trong sáng. Khi rộn ràng hùng tráng như tiếng kèn xung trận, trầm hùng như nhịp cồng chiêng ngày hội, như những bước xòe nồng say gọi lúa lên xanh, ủ hồng bếp lửa mùa hạnh phúc. Lúc thổn thức, day dứt như nỗi nhớ người thương khi gió lạnh về. Khi như lời duyên e ấp của đôi người yêu nhau hẹn ngày xây tổ; có lúc như khẩn cầu chân thành, đắm đuối, khi hân hoan niềm hạnh phúc ngập tràn. Có lúc ấm áp như nắng xuân hồng gọi cây đời xanh mãi. Có khi chợt lặng đi như lắng chút suy tư trải nghiệm, bi tráng, rồi chợt vút cao lảnh lót tiếng vĩ cầm réo rắt ngân một khát vọng xanh. Lúc mong manh tơ mảnh, như một lời nhắc nhở phải biết trân trọng nâng niu những gì đã có… Có lúc cả dàn nhạc say mê hùng tráng trong khúc cao trào, lúc tất cả lặng đi nhường cho giọng ca tuyệt vời của giọng opera lĩnh xướng. Bầy chim thi nhau trổ tuyệt kỹ trước bình minh, kể cho nhau bao câu chuyện buồn vui của những tháng ngày trong hành trình nhân thế, trao nhau muôn lời yêu.

Trong tiếng chim rừng Tây Bắc như có ánh ban mai tràn ngập núi rừng, sáng trên ngọn cỏ biếc, ngời trên sóng bạc, nâng áng mây hồng e ấp đầu non. Có ngọn gió thơm trên áng tóc mây như làn rêu suối. Có những tà áo chàm thấp thoáng, nếp váy thổ cẩm đong đưa, mặn mòi thương nhớ. Có bóng ô hồng tinh nghịch nghiêng chao. Có tiếng đàn môi, kèn lá thầm thì tình tứ. Có nụ cười hàm tiếu hoa ban. Có dáng mẹ áo bạc mầu yêu thương trăn trở. Ăm ắp ánh vàng ruộng bậc thang dập rờn sóng nhạc mùa no ấm. Có tiếng gió reo vi vút đầu non. Có tiếng róc rách của những dòng suối hát. Có tiếng thác đổ ầm vang… Tất cả hòa quyện vào nhau, hài hòa cộng sinh trong sự sinh tồn và phát triển của tạo hóa.

Đã bao lần được thả hồn trong tiếng chim rừng tuyệt diệu của ngàn xanh Tây Bắc, vậy mà lần nào tôi cũng tràn ngập một cảm giác lạ lẫm, nguyên sơ; chẳng khác nào tuổi hoa niên, một sáng mùa xuân, chợt nhận ra trong ánh mắt trong veo của cô bạn gái tóc đuôi gà những tia sáng bồi hồi, lạ lẫm, như một dòng điện nhẹ lan tới từng tế bào cơ thể, thắp lên ngọn lửa tình yêu trinh trắng đầu đời. Tiếng chim như nối đất với trời, như sợi tơ hồng se bao duyên thắm, đánh thức vạn vật, đơm hoa kết trái dưới ánh mặt trời.

Ôi! Có bản nhạc nào tài hoa, diệu kỳ, bất tử đến say lòng như thế! Tiếng chim như những giai điệu thần tiên, đánh thức những hạt mầm tốt đẹp trong ta, để rồi ta chợt nhận ra: Cuộc sống vốn tươi đẹp biết nhường nào, chỉ có điều ta có biết trân trọng nâng niu và phấn đấu vì một ngày mai tươi sáng hơn hay không? Tiếng chim như hòa vào máu thịt, làm ta thêm quí trọng sự hiện hữu của chính ta trên đời, để rồi trong buổi sáng tinh sương này, ta nhủ thầm một câu hỏi lớn: Ta đang sống hay ta chỉ tồn tại như chiếc bóng lờ mờ?

Trần Vân Hạc
Hà Nội

Bát canh tập tàng

Chỉ là một bát canh thôi
Mà anh đi tận cuối trời không quên
Vườn quê rau rệu rau rền
Tập tàng ngọt ánh mắt hiền em tôi
Mặn mòi đất mẹ em ơi
Nuôi lúa lúa tốt nuôi người người duyên
Mang theo một nắm đất hiền
Và đôi mắt ấy trao duyên thuở nào
Vợi đi nỗi nhớ nao nao
Vợi cơn nắng lửa xối vào lòng tôi

Ước ao một bát canh thôi
Xa quê nhớ đất nhớ người tôi yêu

Trần Vân Hạc