All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Ấn hành kinh sách

Tetsugen, một người sùng mộ Thiền ở Nhật, quyết định sẽ ấn hành kinh sách, vào thời kinh sách chỉ có bằng tiếng Hán. Sách phải in với những khối khắc gỗ, bảy ngàn bản in một lần, tốn rất nhiều công sức.

Tetsugen bắt đầu đi khắp nơi và quyên góp tiền bạc. Vài người ủng hộ cho vài trăm đồng vàng, nhưng thường thì Tetsugen chỉ nhận được vài xu lẻ. Ông cám ơn mỗi người bố thí với lòng tri ân như nhau. Sau mười năm Tetsugen đã có đủ tiền để bắt đầu in.

Nhưng vào lúc đó Sông Uji gây lụt lội. Nạn đói theo sau. Tetsugen dùng tiền đã quyên góp cho sách để giúp mọi người khỏi chết đói. Rồi ông lại bắt đầu quyên góp tiền.

Bảy năm sau một trận dịch lan khắp nước. Tetsugen lại dùng tiền quyên góp, để giúp mọi người.

Ông lại quyên góp tiền lần thứ ba, và sau 20 năm ước mơ của ông thành hiện thực. Những khối gỗ khắc in những bản kinh đầu tiên ngày nay còn trưng bày trong tu viện Obaku ở Kyoto.

Người Nhật dạy con cái họ là Tetsugen in ba bộ kinh, và hai bộ đầu vô hình vượt trội hơn cả bộ cuối cùng.
.

Bình

• Tetsugen cám ơn người cho trăm đồng vàng và người cho vài xu lẻ “vói lòng tri ân như nhau.”

• In kinh sách không quan trọng bằng cứu người.

• Sách in sớm hay muộn cũng không chết chóc ai, người đói người bệnh mà không cứu ngay thì chết. Thời tính ấn định ưu tiên lúc này.

• Việc gì cần phải làm thì làm, đừng nhắm mắt mù quáng theo đúng “kế hoạch”. “Kế hoạch được sinh ra để được điều chỉnh.” (Plan is made to be changed).

• 37 năm để hoàn thành tâm nguyện in một bộ kinh. Nhẫn.

Trần Đình Hoành dịch và bình

.

Publishing the Sutras

Tetsugen, a devotee of Zen in Japan, decided to publish the sutras, which at that time were available only in Chinese. The books were to be printed with wood blocks in an edition of seven thousand copies, a tremendous undertaking.

Tetsugen began by traveling and collecting donations for this purpose. A few sympathizers would give him a hundred pieces of gold, but most of the time he received only small coins. He thanked each donor with equal gratitude. After ten years Tetsugen had enough money to begin his task.

It happened that at that time the Uji River overflowed. Famine followed. Tetsugen took the funds he had collected for the books and spent them to save others from starvation. Then he began again his work of collecting.

Several years afterwards an epidemic spread over the country. Tetsugen again gave away what he had collected, to help his people.

For a third time he started his work, and after twenty years his wish was fulfilled. The printing blocks which produced the first edition of sutras can be seen today in the Obaku monastery in Kyoto.

The Japanese tell their children that Tetsugen made three sets of sutras, and that the first two invisible sets surpass even the last.

# 37

Năm Dần nghe nhạc Cọp

Chào các bạn,

Đầu năm Dần, hãy cùng nghe vài bản nhạc Cọp nổi tiếng.

1. Eye of the Tiger của ban Survivor.
2. Tiger Mountain Peasant Song, cùa Fleet Foxes, do ban First Aid Kit, hai cô bé tài năng người Thụy Điển, trình diến.
3. What do tiger dream of?, một bản nhạc trong phim hài hước The Hangover.

Lời mỗi bản nhạc theo sau video.

Nếu bạn nào có link về nhạc Cọp của các nước, vui lòng gởi link đến để chúng ta cùng nghe. 🙂 Cám ơn rất nhiều 🙂

Chúc các bạn một ngày vui!

Hoành
.

1. Survivor – Eye Of The Tiger (Official video clip)

Risin’ up, back on the street
Did my time, took my chances
Went the distance, now I’m back on my feet
Just a man and his will to survive

So many times, it happens too fast
You change your passion for glory
Don’t lose your grip on the dreams of the past
You must fight just to keep them alive

Chorus:
It’s the eye of the tiger, it’s the cream of the fight
Risin’ up to the challenge of our rival
And the last known survivor stalks his prey in the night
And he’s watchin’ us all in the eye of the tiger

Face to face, out in the heat
Hangin’ tough, stayin’ hungry
They stack the odds ’til we take to the street
For we kill with the skill to survive

chorus

Risin’ up, straight to the top
Have the guts, got the glory
Went the distance, now I’m not gonna stop
Just a man and his will to survive

chorus

The eye of the tiger (repeats out)…
.

2. Fleet Foxes – Tiger Mountain Peasant Song (Cover) – First Aid Kit

Wanderers this morning came by
Where did they go
Graceful in the morning light
To banner fair
To follow you softly
In the cold mountain air

Through the forest
Down to your grave
Where the birds wait
And the tall grasses wave
They do not
know you anymore

Dear shadow alive and well
How can the body die
You tell me everything
Anything true

In the town one morning I went
Staggering through premonitions of my death
I don’t see anybody that dear to me

Dear shadow alive and well
How can the body die
You tell me everything
Anything true

Jesse
I don’t know what I have done
I’m turning myself to a demon
I don’t know what I have done
I’m turning myself to a demon

.

3. The Hangover – Stu’s Song (What do tigers dream of?)

What do tigers dreams of?
When they take a little tiger snooze
Do they dream of mauling zebras
Or Hallie Barry in her catwoman suit

Don’t you worry your pretty striped head
Were gonna get you back to Tyson and your cozy tiger bed
And then were gonna find our best friend Doug
And then were gonna give him a best friend hug
Doug Doug Oh Doug Doug Dougie Doug Doug

but if hes been murdered by crystal meth tweekers…then were shit out of luck.

Phân Giờ Tấc Ngọc


Một lãnh chúa hỏi Takuan, một thiền sư, làm thế nào để dùng thời gian. Lãnh chúa cảm thấy ngày của mình quá dài, ở trong khách sảnh cả ngày và ngồi cứng ngắc để nhận lễ viếng từ những người khác.

Takuan viết tám chữ Hán và trao cho lãnh chúa:

Không hai hôm nay
Phân giờ tấc ngọc

(Hôm nay không đến hai lần
Mỗi phút là một viên ngọc vô cùng qu‎ý)

Bình:

* Vậy thì câu trả lời là gì?

Thưa: Sử dụng thời giờ vào điều gì mà mình cảm thấy đáng tốn một viên ngọc quý cho mỗi phút.

Mỗi người có ưu tiên khác nhau–học, chơi với con cái, đi dạo, làm việc gì đó… Đừng làm gì mà mình cảm thấy phí thời giờ.

Cuộc đời quá ngắn để lãng phí thời gian vào những việc mà mình không thấy đáng làm.

* Takuan Sōhō (Trạch Am Tông Bành, 澤庵宗彭), 1573-1645, là một vị Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, dòng Nam Phố Thiệu Minh (ja. nampo jōmyō). Sư không những là một vị Thiền sư lỗi lạc, tinh thông kinh điển mà còn là một nghệ sĩ trứ danh, một thi hào với những tác phẩm còn được nhắc đến ngày nay.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Inch Time Foot Gem

A lord asked Takuan, a Zen teacher, to suggest how he might pass the time. He felt his days very long attending his office and sitting stiffly to receive the homage of others.

Takuan wrote eight Chinese characters and gave them to the man:

Not twice this day
Inch time foot gem.

(This day will not come again.
Each minute is worth a priceless gem)

# 32

Đầu năm mở bút: Đặt nền móng cường thịnh

Chào các bạn,

Tết nhà ta có tục đầu năm khai bút, mình gọi là đầu năm mở bút, tưởng tượng đến bút máy mực (fountain pen) có nắp đậy, phải mở nắp mới viết được. Nếu là bút nguyên tử (ballpoint pen), thì phải là đầu năm bấm bút. Nếu nói theo người miền nam, thì phải là đầu năm mở viết hay đầu năm bấm viết. Và vào thời @ thì lại là đầu năm mở computer, hay đầu năm mở máy. Nói thế để phong phú hóa tiếng Việt, thêm vài từ mới cho một chuyện cũ. 🙂

Nhưng, dù viết là chuyện cũ, thì điều gì viết đầu năm cũng thường là chuyện mới. 🙂  Nhân dịp đầu năm mình muốn chia sẻ với các bạn một điều có ảnh hưởng rất lớn đến tư duy và hành xử của mình trong nhiều năm nay. Đó là: Chúng ta phải đặt nền móng để Việt Nam trở thành cường quốc trên thế giới.

Tại sao phải thành cường quốc? Continue reading Đầu năm mở bút: Đặt nền móng cường thịnh

Nguồn gốc Ngày Valentine

Chào các bạn,

Hôm nay là Ngày Tình Yêu, đồng thời là mồng một Tết Nguyên Đán. Wow, đây là cơ hội rất hiếm trong đời!

Chúc các bạn một năm mới tràn đầy tình yêu nồng nàn, hoa hồng đỏ thắm, và kẹo so-cô-la dịu ngọt. 🙂

Và ít bị gai hồng đâm chảy máu. 🙂

Và nếu có bị gai đâm thì cũng thấy vui vẻ yêu đời 🙂 vì như thế còn vạn lần hơn là không có gai đâm 🙂

Ngày Valentine (Valentine’s Day, còn gọi là Saint Valentine’s Day, Ngày Lễ Tình Yêu hay Ngày Lễ Tình Nhân) là ngày dành cho tình yêu đôi lứa.

Ngày này nguyên thủy là Ngày Lễ Thánh Valentine, được Giáo Hoàng Gelasius I ấn định vào năm 496, là ngày 14 tháng 2 hàng năm. Có vài truyền thuyết khác nhau về Thánh Valentine:

Thiệp Valentine 1887

* Valentine thành Rome là một linh mục ở Rome, tử vì đạo năm 269, và được chôn cất trên con lộ Via Flaminia (ở phía bắc Rome, nối liền Rome và Ariminum). Xương thánh của Valentine ngày nay ở Thánh đường Thánh Praxed ở Rome, và Thánh đường Carmelite trên đường Whitefriar Street ở Dublin, Ireland.

* Valentine thành Terni là giám mục của Interamna (Terni ngày nay), nhậm chức vào khoảng năm 197, và tử vì đạo trong thời giáo hội bị bách hại dưới tay Hoàng Đế Aurelian. Giám mục cũng được chôn trên con lộ Via Flaminia, nhưng tại một nơi khác nơi chôn cất Valentine thành Rome. Xương thánh của giám mục ngày nay ở Vương cung Thánh đường Thánh Valentine ở Terni (Basilica di San Valentino).

* Tự điển bách khoa công giáo còn nhắc đến một Valentine, tử vì đạo ở Phi Châu.

Thiệp Valentine 1910-1920

Trong các thay đổi về Lịch Các Ngày Lễ Các Thánh năm 1969, ngày lễ Thánh Valentine 14 tháng 2 được đưa ra khỏi lịch các ngày lễ chung của giáo hội, và chuyển vào mục các ngày lễ thánh địa phương, với lý do: “Dù ký ức về Thánh Valentine rất cổ, ngày lễ Thánh Valentine được chuyển vào lịch đặc biệt của địa phương vì chúng ta chẳng biết gì về Thánh Valentine, ngoại trừ việc ngài được chôn cất trên con lộ Via Flaminia ngày 14 tháng 2.”

Chẳng có một chi tiết lãng mạn yêu đương nào liên hệ đến 3 truyền thuyết tử vì đạo này cả.

Thời xưa, ở Rome có ngày lễ nữ thần Juno vào ngày 13-14 tháng 2. Juno là nữ thần bảo vệ tổ quốc của Rome. Juno là tên Hy Lạp, ở Rome Juno được gọi là Regina. Juno cùng chồng là Jupiter (thần cao nhất của các thần), và con là thần Minerva, bộ ba được tôn thờ ở Juno Capitolina ở Rome.

Rome còn có lễ Lupercania từ ngày 13 đến 15 tháng 2, ca ngợi sự sinh sản phong phú. Vào ngày này nam nữ tìm đến với nhau trong lễ hội qua tục bốc thăm.

Giáo Hoàng Gelasius I xóa bỏ Lupercalia, là lễ của ngoại đạo.

Một số người đặt giả thuyết là giáo hội thành lập ngày Valentine để thế vào ngày lễ Juno và Lupercalia của truyền thống ngoại đạo.

Truyền thống lãng mạn về ngày Thánh Valentine bắt đầu với bài thơ Parlement of Foules (1382) của thi sĩ Geoffrey Chaucer của Anh:

Geoffrey Chaucer, họa sĩ Thomas Occleve (1412)

For this was on seynt Volantynys day
Whan euery bryd comyth there to chese his make.

[“For this was sent on Valentine’s Day, when every bird cometh there to choose his mate.”]

Vì đây đã được gửi ngày Valentine, khi mọi chim chóc đến đó tìm bạn tình.

Các độc giả của Chaucer nghĩ là Chaucer nói vể ngày Thánh Valentine 14 tháng 2. Nhưng đây là sự hiểu lầm lớn trong văn học. Bài thơ của Chaucer nói về hôn nhân giữa Vua Richard II của Anh quốc và Công Nương Anne của Bohemia. Hiệp ước giữa hai nước nói về hôn nhân này được ký vào ngày 2 tháng 5 năm 1381. (8 tháng sau đó họ làm đám cưới, lúc cả hai chỉ mới 15 tuổi).

Và trong lịch lễ thánh, ngày 2 tháng 5 là ngày lễ Thánh Valentine thành Genoa. Thánh này là giám mục của thành Genoa, chết vào khoảng năm 307, và chẳng liên hệ gì đến Thánh Valentine của ngày 14 tháng 2.

Tuy vậy, vì ảnh hưởng lớn của Geoffrey Chaucer trên văn học tiếng Anh, các văn thi sĩ khắp nơi sau đó bắt đầu ca tụng, một cách lầm lẫn, ngày Thánh Valentine 14 tháng 2 là ngày của tình yêu lãng mạn. Và đương nhiên chuyện đời là, khi mọi người đều làm điều gì thì điều đó được chấp nhận là đúng. 🙂

Thiệp Valentine, Victorian

* Ngày nay, chẳng biết từ đâu đến, chúng ta lại có thêm một truyền thuyết mới về Thánh Valentine. Theo thuyết này, Valentine là một linh mục không vâng lệnh của Hoàng Đế Claudius II cấm thanh niên lấy vợ và cấm linh mục cử hành hôn lễ cho thanh niên, vì Hoàng Đế muốn nhiều thanh niên độc thân đi lính. Tuy vậy, linh mục Valentine chống lại lệnh Hoàng Đế và cứ tiếp tục cử hành hôn lễ lén lút cho các cặp tình nhân.

Hoàng Đế biết được và xử tử Valentine. Trước giờ hành quyết Valentine còn gửi được một tấm “thiệp Valentine” đầu tiên trong lịch sử đến–hoặc là người yêu của linh mục (thời đó linh mục có thể có vợ), hoặc là con gái của người quản ngục mà Valentine đã gặp và chữa bệnh–và ký tên “From your Valentine” (“Từ Valentine của em”).

Truyền thống “thiệp Valentine” bắt đầu từ đó.

Các công ty buôn bán ngày nay rất thích dùng truyền thuyết mới, có tính tiếp thị cao này.

Vào ngày Valentine, các đôi tình nhân tặng nhau thiệp Valentine với các lời lẽ dấu ái lãng mạn, tặng hoa hồng, kẹo Chocolate, mời nhau đi khiêu vũ, ăn tối dưới ánh đèn cầy, xem phim…

TĐH

Mưa hoa

Tu-bồ-đề là đệ tử của Phật Thích Ca. Sư có thể hiểu được uy lực của Không, quan điểm rằng không có gì hiện hữu ngoại trừ trong liên hệ chủ quan và khách quan của nó.

Ngày nọ Tu-bồ-đề đang ngồi dưới gốc cây, trong trạng thái cực kỳ tĩnh lặng, Hoa bắt đầu rơi quanh ông.

“Chúng tôi ca ngợi ngài về đàm luận của ngài về Không,” các vị Phạm thiên thì thần với ông.

“Nhưng tôi đâu có đàm luận gì về Không,” Tu-bồ-đề nói.

“Ngài đã chẳng đàm luận gì về Không, chúng tôi đã chẳng nghe gì về Không,” các Phạm thiên trả lời. “Đó chính là Không.” Và hoa rơi trên Tu-bồ-đề như mưa.

Bình:

• Cảnh “mãn thiên hoa vũ” (mưa hoa đầy trời) nầy thường xảy ra trong kinh Phật, thông thường là khi Phật Thích Ca hay một vị Bồ Tát nào đó dạy một “pháp” rất lớn, rất vi diệu.

• Phạm thiên, lấy từ chữ Brahman trong Ấn giáo, là vua của một cõi trời.

• Chữ emptiness trong bản tiếng Anh được dịch ở đây với hai chữ khác nhau ở hai nơi: “Không”, và “tĩnh lặng” (khi Tu-bồ-đề ngồi dưới gốc cây).

“Không” là tất cả vũ trụ của ta (cả nội tâm lẫn ngoại tại).
“Tĩnh lặng” là một trạng thái nội tâm.

Trạng thái nội tâm của ta (tĩnh lặng, emptiness) cũng chính là vũ trụ của ta (Không, emptiness). Đây là một mệnh đề triết lý có thể được lý giải bằng những lý luận và từ ngữ triết lý phức tạp. Nhưng chúng ta có thể giản dị hóa vấn đề bằng quan sát rằng: “Khi tâm ta cực kỳ tĩnh lặng thì ta thấy thế giới quanh ta cực kỳ tĩnh lặng.”

Tức là, Vũ trụ ta thấy là do tâm ta thấy như vậy. Đây là quan niệm chủ quan về hiện hữu—Hiện hữu quanh ta chỉ có thể thấy được như tâm ta thấy.

Tức là, Vũ trụ mà ta thấy chỉ là l‎ý giải của tâm ta về vũ trụ ta nhìn.

Nghĩa là, mỗi người chúng ta “thấy” một vũ trụ, và vũ trụ ta thấy thì khác với vũ trụ người khác thấy.

Và nếu tôi không hiện hữu (ví dụ, tôi chết đi) thì vũ trụ tôi thấy cũng chết theo tôi. Không có tôi thì vũ trụ của tôi không hiện hữu.

Không có những người khác, thì những vũ trụ của họ cũng không hiện hữu.

Cho nên ta nói “Vũ trụ là do tâm ta sinh ra.” Nếu ta chết, vũ trụ của ta chết theo.


• Nhưng, dù là chúng ta chỉ có được cái nhìn chủ quan về hiện hữu thì hiện hữu vẫn phải “có” đó một cách khách quan, trong một dạng nào đó, dù là không ai nắm bắt được khách quan tính của nó. (Ngay cả nói nó “có” đó một cách khách quan cũng đã là sai rồi, vì “có” là hiện hữu, mà hiện hữu nào thì cũng chỉ là cái nhìn chủ quan méo mó, không bảo đảm, của tôi).

Ta gọi tính khách quan của vũ trụ là Không, vì không diễn tả được cách nào cả, ngoài việc dùng tạm tên “Không”; nếu diễn tả bằng ngôn từ, thì ngôn từ sẽ biến Không thành “l‎ý giải chủ quan của hiện hữu” mất rồi.

• Đó là ‎ý nghĩa của câu: “Không có gì hiện hữu ngoại trừ trong liên hệ chủ quan và khách quan của nó.”

Không có gì hiện hữu đối với tôi ngoại trừ trong liên hệ chủ quan giữa nó với tôi—cái nhìn chủ quan của tôi về nó.

Không có gì hiện hữu với tôi ngoại trừ trong liên hệ giữa hình ảnh chủ quan của nó trong tâm trí tôi và một suy luận chủ quan của tôi là nó phải hiện hữu khách quan một cách nào đó (để tôi có thể nhìn và thấy nó một cách chủ quan).

Ngoài những cái nhìn chủ quan (méo mó) và suy luận chủ quan (méo mó) của tôi về chủ quan và khách quan, thì chẳng thể nói gì chính xác về hiện hữu cả.

Bên ngoài và bên trên những cái nhìn và suy luận này thì cùng lắm chỉ có một “cái” chính xác nhưng lại không diễn tả được–đó là Không, cái khách quan tính của hiện hữu mà vĩnh viễn tôi không thể nào mô tả hoặc nắm bắt được.

• Vì không thể mô tả và nắm bắt “Không” được, nên Tu-bồ-đề đã chẳng nói gì về Không, và chư thiên đã chẳng nghe gì về Không, và như thế Không là Không.

• Liên hệ chủ quan và khách quan là các từ triết lý tây phương. Ở Đông phương, người ta thường nói đến “tánh” (khách quan) và tướng (chủ quan), hay “thể” (khách quan) và “dụng” (chủ quan).

• Đây là vũ trụ quan của Phật giáo. Và đồng thời cũng là nhân sinh quan, khi Tu-bô-đề ở trong “subtime emptiness” (“cái Không vi diệu”, mà chúng ta đã dịch là “cực kỳ tĩnh lặng”).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Flower Shower

Subhuti was Buddha’s disciple. He was able to understand the potency of emptiness, the viewpoint that nothing exists except in its relationship of subjectivity and objectivity.

One day Subhuti, in a mood of sublime emptiness, was sitting under a tree. Flowers began to fall about him.

“We are praising you for your discourse on emptiness,” the gods whispered to him.

“But I have not spoken of emptiness,” said Subhuti.

“You have not spoken of emptiness, we have not heard emptiness,” responded the gods. “This is true emptiness.” And blossoms showered upon Subhuto as rain.

# 36

Ông đồ già – The old master

Chào các bạn,

Không là Tết nếu không có Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên. Dù rằng ngày nay ta có nhiều ông đồ trẻ viết thư pháp.

Mỗi dịp Tết về, đọc lại Ông Đồ Già để bùi ngùi cho một thời đã qua hay đang qua. Thay đổi và tiến hóa, dù là luật tự nhiên, cũng không khỏi làm ta bồi hồi mỗi khi ký ức vọng lại.

Mình đã dịch bài Ông Đồ Già sang tiếng Anh vài năm trước, hôm nay lại biên tập thêm một tí và post lại đây chia sẻ với các bạn.

Chúc cả nhà một mùa xuân đỏ như giấy thư pháp!

Hoành
.

The Old Master

Each year when the plum blossoms flowered
Back here came the old master
Spreading red scrolls and Chinese ink
At this busy street corner

Buyers of calligraphies
Many whispered admiringly
“The fine hand moves the brush
Like phoenix dances and dragon flies.”

But each year the guests came fewer
Where had they gone, those old admirers?
Red paper grieved and dulled
Black ink dried up in the forlorn bowl…

The old master still sat there
But passers-by no longer cared
Dead leaves dropped on the scrolls
Over the sky a mist rain blowed

This year the plum blossoms again flower
But the old master is here no longer
All the folks of yesterdays
Where do their souls now stay?

    Translated by TĐH
    (Virginia, Feb. 6, 2005, Jan. 29, 2008, Feb. 10, 2010)

.

Ông Đồ Già

    Vũ Đình Liên


Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.

Nhưng mỗi năm mỗi vắng,
Người thuê viết nay đâu ?
Giấy đỏ buồn không thấm
Mực đọng trong nghiên sầu …

Ông đồ vẫn ngồi đấy,
Qua đường không ai hay.
Lá vàng rơi trên giấy,
Ngoài giời mưa bụi bay.

Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ,
Hồn ở đâu bây giờ ?

Tái sinh trong nguồn sáng

Chào các bạn,

Còn vài ngày nữa là Tết, tức là ngày đầu tiên chính thức của mùa Xuân, mùa tái sinh. Mặt trời lên. Nụ non hé mở. Muôn hoa khoe sắc thắm. Nàng Đất vươn vai đứng dậy sau giấc ngủ đông dài. Và loài người chào đón năm mới với suối nguồn hi vọng mới.

Nhưng, năm mới chỉ là biểu tượng, vì thực sự chúng ta tái sinh trong từng sát na của cuộc sống. Chúng ta luôn thay đổi, không ngừng. Thỉnh thoảng mới có vài sự kiện lớn—hoặc là một khải ngộ lớn, hoặc một tai nạn lớn—làm ta thay đổi đột ngột, một phút sau hoàn toàn khác hẳn một phút trước. Ngoài vài sự kiện lẻ loi đó, chúng ta thay đổi tí ti nhưng thường trực trong đời, trong từng hơi thở. Mỗi sát na–một đơn vị thời gian nhỏ nhất mà ta có thể tưởng tượng được—là một cuộc tái sinh, con người cũ của ta chết đi và con người mới ra đời. Mỗi giây đồng hồ, từ 200 ngàn đến 3 triệu tế bào trong cơ thể chúng ta chết đi và được thay thế bằng tế bào mới. Sau một giây đồng hồ, ta đã là con người mới với ngần ấy tế bào mới. Đời ta là một chuỗi của vô lượng cuộc tái sinh như thế, cũng như một đường kẻ thẳng chỉ là một chuỗi các điểm chấm nẳm sát nhau.

Và cuộc đời chung của vũ trụ cũng thế. Vạn vật thay đổi không ngừng, trong từng sát-na của cuộc đời. “Không ai tắm hai lần trong một dòng sông,” triết gia Hy Lạp Heraclitus nói.

Như vậy có nghĩa là ta không cần phải đợi đến đầu xuân mới hi vọng vào tái sinh. Lửa phục sinh hằng sống trong ta trong từng hơi thở. Mầm hi vọng, mầm sống mới, vẫn luôn luôn hiện hữu trong ta.

Ta có thể điều hướng được tái sinh của cơ thể cũng như tái sinh của tinh thần. Nếu ta cứ để tinh thần tự chết tự tái sinh không kiểm soát, thì chỉ trong một thời gian ngắn, con người mới của chúng ta có thể đã đầy dẫy hoài nghi, đố kỵ, ganh tị, chua chát, cay đắng… Chỉ cần mỗi ngày nghe tin trộm cắp lừa bịp trên báo chí và nghe bạn bè giáo dục nhau “muốn sống thì phải ‘hiểu đời’ và rành đòn phép”, thì đương nhiên là ta sẽ tái sinh vào bóng tối mà chẳng cần làm gì cả.

Tuy nhiên, nếu mỗi ngày ta đều mang sự sáng đến cho tâm trí—tình yêu, lòng tin, nụ cười, lạc quan, hi vọng—thì đương nhiên là mỗi tái sinh của ta cũng đều vào trong nguồn sáng.

Đây một công thức sống rất giản dị và dễ hiểu: Nếu cứ để tâm trí ta tự thay đổi, tự tái sinh, có khả năng lớn là tâm trí ta sẽ “lớn lên” vào bóng tối. Muốn tâm trí trưởng thành trong nguồn sáng, ta phải mang ánh sáng đến cho tâm trí hàng ngày.

Điều này rất giống tập thể dục để điều hướng tái sinh của cơ thể. Nếu chẳng làm gì cả để cơ thể tự phát triển, thì có khả năng cao là ta sẽ có một cơ thể phì nộn nặng nề bệnh hoạn. Nếu muốn một cơ thể khỏe mạnh thon thả, ta phải tập thể dục hay chơi thể thao thường xuyên.

Trưởng thành trong tư duy tích cực đòi hỏi phân bón tư duy tích cực mỗi ngày cho tâm trí. Không thể không chăm bón.

“Tư duy tích cực”, và “mỗi ngày.”

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Nói với người trong cơn bão

Chào người bạn đang dập vùi trong cơn bão,

Khi còn bé chúng ta thường được dạy các ảo tưởng như: khi hoàng tử đẹp trai anh hùng, chiến đấu thắng bao nguy hiểm, gặp công chúa ngủ trong rừng, hôn đánh thức nàng dậy, và, tađa…, “cả hai sống hạnh phúc vui vẻ đến trọn đời.” Hay, toàn dân đoàn kết chống rồng trăm đầu, diệt được rồng, chàng nông dân anh dũng lãnh đạo được vua gã con gái, nhân dân vui hưởng thái bình muôn đời…

Các chuyện cổ tích thế này tạo cho chúng ta một ảo tưởng là trong đời sống có một thời điểm nào đó, khi cái thiện toàn thắng cái ác, thì hạnh phúc sẽ đến vĩnh viễn. Nhưng, sự thật thì, cái thiện có thể thắng cái ác, hạnh phúc có thể đến, nhưng chẳng có gì là vĩnh viễn. Mới mưa cả tháng, hôm nay mới được thấy nắng, đâu được mấy ngày, một trận mưa khác lại từ đâu kéo đến. Đó là chuyện thường.

Bản chất của cuộc đời là thế: Đời là một dòng sông với nhiều khúc quanh khúc thẳng, khi dịu dàng khi ghềnh thác, chẳng nói trước được. Và chẳng có điều gì có thể thay đổi bản chất đó của đời sống.

Nhận xét này đưa đến hai hệ luận sau đây:

• Đời có lên có xuống, có vui có buồn, có dịu êm có bão tố. Khi gặp chuyện buồn, chuyện đau khổ, là phải buồn, phải đau khổ. Đó là lẽ đương nhiên. Chẳng phải lỗi tại mình. Cho nên đừng trách mình.

Ngay cả thánh nhân cũng stress, cũng buồn. Kinh thánh kể rất nhiều lần chúa Giêsu khóc. Có thể là thánh nhân khóc vì người khác nhiều hơn, và chúng ta khóc vì chính mình nhiều hơn. Nhưng điếm chính là mọi người đều có những phút giây buồn thảm và đau khổ. Đó là chuyện thường. Không cần phải tự trách mình là yếu công lực.

• Tư duy tích cực cũng chẳng giảm được số lượng rắc rối đau khổ bạn gặp trong đời. Nếu ta sống tốt quá và mọi người chung quanh ta đều mến ta, nên ta ít có rắc rối, có thể là ta sẽ bắt đầu quan tâm đến các vấn đề lớn của xã hội và, do đó, đụng đầu các đại gia tham nhũng hay trùm mafia bóc lột. Stress lớn hơn mà thôi.

Cho nên, muốn mạnh mẽ và yêu đời, bạn phải thấy được chân lý là chẳng ai không bị rắc rối, không bị đau khổ, không bị stress trên đời cả. Bạn chẳng phải là ngoại lệ. (Họa chăng là mỗi người có một loại rắc rối, một loại đau khổ khác nhau).

Và dù là rắc rối loại nào thì rắc rối cũng luôn luôn là một cơn bão nhồi dập thuyền ta. Việc của ta là lèo lái trong cơn bão để không bị nhấn chìm.

Người đau khổ đã nhiều sẽ có nhiều kinh nghiệm lèo lái hơn người chưa gặp nhiều đau khổ. Một lần đau khổ là một lần kinh nghiệm bão tố.

Cho nên, nếu bạn trong cơn bão thì hãy xem như là bạn đang trong một cuộc chiến chống bão, xong cuộc, bạn sẽ mạnh hơn và kinh nhiệm hơn một bậc.

Chẳng ai trong chúng ta muốn xung phong gặp bão. Nhưng nếu phải gặp, thì phải biết lèo lái chống chọi mà thôi.

Vì vậy, bạn cũng đừng ngại tỏ lộ yếu đuối của mình trong cơn bão, với bạn bè thân quen. Chẳng ai mạnh mẽ trong cơn bão. Khi gặp bão, mỗi người chúng ta chỉ mà một mảnh vụn nhỏ xíu mà cuồng phong và sóng dữ nhồi dập như bọt biển. Không có siêu nhân. Chỉ có người sống sót và người không sống sót.

Xác nhận là mình đang đau khổ, xác nhận là mình quá yếu sức đối với cơn bão, nói thẳng với mình như thế, nói với bạn bè như thế, nói với Chúa Phật như thế; đó là phương cách gia tăng sức mạnh và khả năng chống bão. Trực diện với cái yếu của mình sẽ làm cho nó mạnh thêm. Đồng cảm từ bạn bè và Chúa Phật của mình sẽ làm mình mạnh thêm.

Trong Vườn Chuối này, chúng ta thường chia sẻ với nhau các đau nhức của con tim như thế, cho nên đó không phải là chuyện lạ. Rất nhiều bạn đến với Vườn Chuối vì trong lòng không yên ổn, muốn tìm một nơi có ánh sáng bình an. Ở đây chẳng ai biết làm phép lạ, và cũng không có siêu nhân. Nhưng chúng ta có đồng cảm, có thể thấu hiểu những đớn đau của bạn và những yếu đuối của bạn, vì tất cả chúng ta ở đây đều đớn đau và yếu đuối. Và chúng ta có thể hiểu được rất sâu xa cố gắng chiến đấu của bạn vì tất cả chúng ta ở đây đều là những người thường xuyên chiến đấu với bão tố đời mình.

Và dù là bạn có lèo lái kiểu nào thì chẳng ai nói là bạn làm sai cả, vì tất cả chúng ta đều biết giữa cơn bão thì chẳng thể nói đúng hay sai, mà chỉ nói “Hãy cố gắng hết sức mình.”

Và nếu không ai trong chúng ta có thể giúp bạn được điều gì, thì ít nhất bạn cũng nhận được vài câu an ủi và một lời cầu nguyện.

Ngày mai trời lại sáng.

Chúc tất cả các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Vivaldi – Gloria – Kinh Vinh Danh

Chào các bạn,

Trong Mùa Lễ Hội có lẽ các bạn nghe thường xuyên câu “Vinh danh thiên chúa trên các tầng trời”. Câu này là câu đầu tiên trong một đoạn kinh rất nền tảng và rất nổi tiếng, có từ thời thế kỷ 1, gọi là Kinh Vinh Danh (Gloria).

Gloria đã là nguồn hứng khởi của rất nhiều nhạc sĩ lớn của thế giới phương tây–Mozart, Bach, Vivaldi… và có lẽ sẽ tiếp tục là nguồn hứng khởi của nhiều nhạc sĩ trong tương lai.

Chúng ta đã quen thuộc với Antonio Vivaldi qua bài Four Seasons. Vivaldi đã viết Gloria thành một bản đại hòa tấu nhiều đoạn, mỗi đoạn là một câu kinh. Đây là một viên ngọc quý trong kho tàng âm nhạc cổ điển thế giới.

Hôm nay chúng ta có thể nghe toàn bản đại hòa tấu 12 khúc này ở đây. Sau đây là lời kinh bằng tiếng La Tinh và tiếng Việt. Sau đó chúng ta sẽ xem các video nhạc.

Gloria in excelsis deo
Et in terra pax hominibus bonae voluntatis
Laudamus te
Benedicimus te
Adoramus te
Glorificamus te
Gratias agimus tibi propter magnam gloriam tuam
Domine Deus, Rex caelestis, Deus Pater omnipotens
Domine fili unigenite, Jesu Christe
Domine Deus, Agnus Dei, Filius patris
Qui tollis peccata mundi, miserere nobis
Qui tollis peccata mundi suscipe deprecationem nostram
Qui sedes ad dexteram patris miserere nobis
Quoniam tu solus sanctus
Tu solus Dominus
Tu solus Altissimus, Jesu Christe
Cum Sancto Spiritu in gloria Dei Patris.
Amen.

Kinh Vinh Danh

Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời,
và bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa,
chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa,
chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa.
Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Vua trên trời,
Là Chúa Cha toàn năng.
Lạy Con Một Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô,
Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Chiên Thiên Chúa
là Con Đức Chúa Cha.
Chúa xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con;
Chúa xóa tội trần gian, xin nhậm lời chúng con cầu khẩn.
Chúa ngự bên hữu Đức Chúa Cha, xin thương xót chúng con.
Vì, lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Đấng Thánh,
chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có Chúa là Đấng Tối Cao,
cùng Đức Chúa Thánh Thần trong vinh quang Đức Chúa Cha .

Amen.

.

Vivaldi – Gloria – 1 – Gloria in excelsis Deo – Vinh danh Thiến Chúa trên các tầng trời -King’s College Choir

.

Vivaldi – Gloria – 2 – in terra pax hominibus bonae voluntatis – và bình an dưới thế cho người thiện tâm (Performed by/Interpretado por: Orchestre de chambre de Lausanne).

.

Vivaldi – Gloria – 3 – Laudamus te, Benedicimus te, Adoramus te, Glorificamus te – Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa, chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa – Orchestre de chambre de Lausanne

.

Vivaldi – Gloria – 4 – Gratias agimus tibi – chúng con cảm tạ chúa – (Sung by: Orchestre de chambre de Lausanne)

.

Vivaldi – Gloria – 5 – Propter magnam gloriam tuam – vì vinh quang cao cả chúa – (King’s College Choir)

.

Vivaldi – Gloria – 6 – Domine Deus, Rex caelestis, Deus Pater omnipotens – Lạu chúa là Thiên Chúa, là vua trên trời, là chúa cha toàn năng – (Sung by: Orchestre de chambre de Lausanne)

.

Vivaldi – Gloria 7 – Domine fili unigenite, Jesu Christe – Lạy con một Thiên Chúa, chúa Giêse Kitô – (Sung by: Orchestre de chambre de Lausanne)

.

Vivaldi – Gloria – 8 – Domine Deus, Agnus Dei, Filius patris, Qui tollis peccata mundi, miserere nobis – Lạy Chúa là Thiên Chúa, là chiên Thiên Chúa, là con Đức Chúa Cha, chúa xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con – (Sung by: Orchestre de chambre de Lausanne)

.

Vivaldi – Gloria – 9 – Qui tollis peccata mundi suscipe deprecationem nostram – Chúa xóa tội trần gian, xin nhậm lời chúng con cầu khẩn – (Sung by: John Alldis Choir)

.

Vivaldi – Gloria 10 – Qui sedes ad dexteram patris miserere nobis – Chúa ngự bên hữu Đức Chúa Cha, xin thương xót chúng con – (Director: Rinaldo Alessandrini Concerto Italiano 1998)

.

Vivaldi – Gloria 11 – Quoniam tu solus sanctus, Tu solus Dominus, Tu solus Altissimus, Jesu Christe – Vì, lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Đấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có Chúa là Đấng Tối Cao.

.

Vivaldi – Gloria 12 – Cum Sancto Spiritu in gloria Dei Patris, Amen – cùng Đức Chúa Thánh Thần trong vinh quang Đức Chúa Cha . Amen – (John Alldis Choir)

Chuyển giao kinh nghiệm

Chào các bạn,

Các bạn giáo chức, hay làm cha mẹ, đều có một kinh nghiệm này: Có những điều mình biết, đã tốn nhiều năm học hỏi và trải nghiệm, và đôi khi trả giá rất đắt cho bài học, và mình muốn truyền lại kinh nghiệm đó cho học trò hay con em. Nhưng hầu như là không thể. Nói gì thì nói, học trò con em vẫn hiều được từng chữ mình nói, nhưng thật ra vẫn chẳng hiểu gì. Rốt cuộc vẫn vấp vào những lầm lỗi mà mình đã mong là con em không vấp phải nhờ có mình dẫn đường. Và đôi khi mình rất ấm ức về chuyện đó.

Thật sự thì chúng ta không thể truyền kinh nghiệm cho nhau. Hoặc nếu có thể, thì chỉ là một ảnh hình rất mờ ảo của kinh nghiệm thật. Nếu một người chưa bao giờ bị phỏng trong đời, làm sao để người ấy biết phỏng thì rất rát và đau, cho đến khi chính người ấy bị phỏng. Làm sao diễn tả được tình yêu là gì cho một cậu bé chưa hề biết yêu, cho đến khi cậu ấy gặp được người yêu. Làm sao cho một người hiểu được quyền năng của tư duy tích cực, cho đến khi người ấy chăm chỉ thực hành tư duy tích cực.

Tính bất khả chuyển nhượng của trực nghiệm làm cho đường đời của mỗi cá nhân, cũng như mạch sống của xã hội. lởm chởm gai góc, như là không cần thiết. Chưa kinh nghiệm thì hay làm sai, người có kinh nghiệm truyền dạy cũng hầu như vô ích, phải chính mình trầy vi tróc vảy mới trưởng thành, khi trưởng thành dạy lại người trẻ hơn, chỉ để thấy họ cứ làm sai như mình hồi nhỏ… Dòng đời quay tròn quay tròn như thế.

Thế thì làm sao chúng ta có thể thoát ra được vòng lẫn quẩn này?

Thưa, chẳng làm sao thoát ra được cả. Vì thế mới có “khoảng cách giữa hai thế hệ.”

Tuy nhiên, chúng ta có thể làm dịu khoảng cách bằng cách làm cho khoảng cách trở thành hữu ích thay vì xung đột. Điều này có thể đạt được nếu:

• Những người lớn tuổi biết rằng tuổi trẻ là phải khai phá, phải bước những bước tiền phong đầy hiểm nguy cạm bẩy, cũng như mình thời còn trẻ. Và chính những bước khai phá hiểm nguy rình rập đó là con đường trưởng thành, như mình đã trưởng thành.

• Người lớn tuổi biết rằng tuổi trẻ trưởng thành với những thời đại mới, triết lý mới, văn hóa mới, nghệ thuật mới, tư duy mới… và do đó có thể làm thầy mình về những cái mới.

• Ngưởi lớn tuổi biết rằng người nhỏ tuổi thường hỏi mình “Tại sao cái này làm thế này?” và nếu mình không trả lời thỏa đáng được thì mình nên xét lại phương cách của mình.

Người trẻ cũng thường hỏi “Tại sao cái này không làm như thế này?” và nếu người lớn không trả lời thỏa đáng được thì cũng nên xét lại là có nên làm theo cách mới không?

• “Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư” Ba người đi cùng thì có một thầy. Câu này chẳng nói ai là thầy cả. Ai cũng là thầy được. Tùy chuyện. Cho nên người lớn tuổi có nhận được người trẻ hơn (như là học trò hay con cái của mình) là thầy của mình trong một chuyện nào đó không?

• Người nhỏ tuổi có đủ thông thái để thấy là người lớn tuổi hơn có thể thấy một vấn đề mà mình không thấy sâu bằng, để tự hỏi “Đâu là điều sâu sắc trong câu nói của anh ấy, mà mình chưa kịp thấy?”

• Khi cảm thấy như mình cũng có lý 50% và anh ấy (lớn tuổi hơn) cũng có ‎ 50%, người trẻ tuổi có nghĩ “Có lẽ mình nên nhường anh ấy một tí và nên nghĩ kỹ hơn về điều anh ấy nói, vì nếu hai bên ngang nhau thì có thể là anh ấy thấy đúng hơn mình, vì có thể có điều mình chưa hiểu thấu.”?

** Trên đây chúng ta nói đến khoảng cách tuổi tác, vì nó là vấn đề thường xuyên nhất trong xã hội. Nhưng chúng ta có nhiều khoảng cách khác giữa con người, mà giải pháp cũng đòi hỏi tư duy tương kính và ham học hỏi như khoảng cách tuổi tác, như là: khoảng cách giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số, giữa các tôn giáo, giữa người có tôn giáo và người không tôn giáo, giữa người được đào tạo ngoài nước và đào tạo trong nước, giữa những người ủng hộ các chủ thuyết kinh tế xã hội chính trị khác nhau…

Cũng như khoảng cách tuổi tác, những loại khoảng cách khác đòi hỏi chúng ta biết tương kính nhau, biết nhận nhau làm thầy, và biết học hỏi điều mới.

Chỉ cần ngồi suy nghĩ chừng 5, 7 phút là ai cũng có thể thấy rất rõ là xã hội chúng ta, quốc gia của chúng ta, thế giới của chúng ta có quá nhiều khoảng cách đủ loại. Tư duy tích cực là xóa tan các khoảng cách càng nhiều càng tốt.

Tất cả mọi người trên thế giới đều là anh em, đều là con của Thượng đế.
Tất cả mọi người trên thế giới đều liên hệ với nhau chặt chẻ trong MỘT đại dương sự thật gọi là Phật tính.
Tất cả mọi người Việt đều là anh em của cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ.

Tình yêu anh em là cầu nối tất cả mọi người qua mọi khoảng cách. Nếu ta luôn nhớ đến nền tảng tình yêu này, tự nhiên ta biết làm thế nào để biến khoảng cách thành sức mạnh.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com