Rome Statute of the International Criminal Court – Đạo luật Rome của Tòa Hình sự Quốc tế (Phần 2 – Từ Điều 9 đến Điều 21)

Dịch sang tiếng Việt: PhạmThu Hương & Trần Đình Hoành

Mục lục >>
Dẫn nhập và Phần 1 >>
Phần 2 (từ Điều 5 đến Điều 8bis) >>
Phần 2 (từ Điều 9 đến Điều 21) >>
Phần 3 >>

 

PART 2.
JURISDICTION, ADMISSIBILITY AND APPLICABLE LAW
PHẦN 2.
THẨM QUYỀN TÀI PHÁN, THỤ LÝ VÀ LUẬT ÁP DỤNG
Article 94
Elements of Crimes
Điều 94
Các Yếu tố cấu thành Hình tội
1. Elements of Crimes shall assist the Court in the interpretation and application of articles 6, 7, 8 and 8 bis. They shall be adopted by a two-thirds majority of the members of the Assembly of States Parties.

2. Amendments to the Elements of Crimes may be proposed by:

(a) Any State Party;

(b) The judges acting by an absolute majority;

(c) The Prosecutor.

Such amendments shall be adopted by a two-thirds majority of the members of the Assembly of States Parties.

3. The Elements of Crimes and amendments thereto shall be consistent with this Statute.

4: As amended by resolution RC/Res.6 of 11 June 2010 (inserting the reference to article 8 bis)
1. Các Yếu tố cấu thành Hình tội sẽ hỗ trợ Tòa trong việc giải thích và áp dụng các điều 6, 7, 8 và 8 bis. Chúng sẽ được thông qua bởi 2/3 đa số thành viên của Hội đồng các Quốc gia Thành viên.

2. Sửa đổi các Yếu tố cấu thành Hình tội có thể được đề xuất bởi:

(a) Bất kỳ Quốc gia Thành viên nào;

(b) Thẩm phán hành động theo đa số tuyệt đối;

(c) Công tố viên.

Những sửa đổi đó sẽ được thông qua bởi 2/3 đa số thành viên của Hội đồng các Quốc gia Thành viên.

3. Ngoài ra, các Yếu tố cấu thành Hình tội và các sửa đổi sẽ phù hợp với Đạo luật này.

4: Như đã được sửa đổi theo Nghị quyết RC/Res.6 ngày 11-6-2010 (tham khảo thêm điều 8 bis)
Article 10Điều 10
Nothing in this Part shall be interpreted as limiting or prejudicing in any way existing or developing rules of international law for purposes other than this Statute.Không có nội dung nào trong Phần 2 này sẽ được diễn giải là hạn chế hoặc làm thiệt hại theo bất kỳ cách nào các quy tắc hiện có hoặc đang phát triển của luật quốc tế cho các mục đích khác với Đạo luật này.
Article 11
Jurisdiction ratione temporis
Điều 11
Thẩm quyền tài phán ratione temporis (bản chất của thời gian)
1. The Court has jurisdiction only with respect to crimes committed after the entry into force of this Statute.

2. If a State becomes a Party to this Statute after its entry into force, the Court may exercise its jurisdiction only with respect to crimes committed after the entry into force of this Statute for that State, unless that State has made a declaration under article 12, paragraph 3.
1. Tòa chỉ có thẩm quyền tài phán đối với những hình tội được thực hiện sau khi Đạo luật này bắt đầu có hiệu lực.

2. Nếu một Quốc gia trở thành Thành viên của Đạo luật này sau khi Đạo luật này bắt đầu có hiệu lực, thì Tòa chỉ có thể hành xử thẩm quyền tài phán đối với các hình tội được thực hiện sau khi Đạo luật này bắt đầu có hiệu lực đối với Quốc gia đó, trừ khi Quốc gia đó đã tuyên bố theo điều 12, khoản 3.
Article 12
Preconditions to the exercise of jurisdiction
Điều 12
Điều kiện trước khi hành xử thẩm quyền tài phán
1. A State which becomes a Party to this Statute thereby accepts the jurisdiction of the Court with respect to the crimes referred to in article 5.

2. In the case of article 13, paragraph (a) or (c), the Court may exercise its jurisdiction if one or more of the following States are Parties to this Statute or have accepted the jurisdiction of the Court in accordance with paragraph 3:

(a) The State on the territory of which the conduct in question occurred or, if the crime was committed on board a vessel or aircraft, the State of registration of that vessel or aircraft;

(b) The State of which the person accused of the crime is a national.

3. If the acceptance of a State which is not a Party to this Statute is required under paragraph 2, that State may, by declaration lodged with the Registrar, accept the exercise of jurisdiction by the Court with respect to the crime in question. The accepting State shall cooperate with the Court without any delay or exception in accordance with Part 9.
1. Một Quốc gia trở thành Thành viên của Đạo luật này do đó chấp nhận thẩm quyền tài phán của Tòa đối với các hình tội được đề cập trong điều 5.

2. Trong trường hợp của điều 13, khoản (a) hoặc (c), Tòa có thể hành xử thẩm quyền tài phán nếu một hoặc nhiều Quốc gia sau đây là Thành viên của Đạo luật này hoặc đã chấp nhận thẩm quyền tài phán của Tòa theo khoản 3:

(a) Quốc gia, trên lãnh thổ nơi xảy ra hành vi đang được nói đến hoặc, nếu hình tội được thực hiện trên tàu thuyền hoặc máy bay, thì là Quốc gia đăng ký tàu thuyền hoặc máy bay đó;

(b) Quốc gia mà người bị buộc tội là công dân.

3. Nếu sự chấp nhận của Quốc gia không phải là Thành viên của Đạo luật này được yêu cầu theo khoản 2, thì Quốc gia đó có thể, bằng tuyên bố gửi đến Giám đốc Đăng ký, chấp nhận hành xử thẩm quyền tài phán của Tòa đối với hình tội đang được nói đến. Quốc gia chấp nhận sẽ hợp tác với Tòa mà không có bất kỳ sự chậm trễ hoặc ngoại lệ nào theo Phần 9.
Article 13
Exercise of jurisdiction
Điều 13
Hành xử thẩm quyền tài phán
The Court may exercise its jurisdiction with respect to a crime referred to in article 5 in accordance with the provisions of this Statute if:

(a) A situation in which one or more of such crimes appears to have been committed is referred to the Prosecutor by a State Party in accordance with article 14;

(b) A situation in which one or more of such crimes appears to have been committed is referred to the Prosecutor by the Security Council acting under Chapter VII of the Charter of the United Nations; or

(c) The Prosecutor has initiated an investigation in respect of such a crime in accordance with article 15.
Tòa có thể hành xử thẩm quyền tài phán đối với hình tội được đề cập trong điều 5 theo các điều khoản của Đạo luật này nếu:

(a) Một vụ việc mà một hoặc nhiều hình tội đó có vẻ được thực hiện đã được chuyển đến Công tố viên bởi một Quốc gia Thành viên theo điều 14;

(b) Một vụ việc mà một hoặc nhiều hình tội đó có vẻ đã thực hiện đã được chuyển đến Công tố viên bởi Hội đồng Bảo an hoạt động theo Chương VII của Hiến chương Liên hợp quốc; hoặc

(c) Công tố viên bắt đầu điều tra hình tội đó theo điều 15.
Article 14
Referral of a situation by a State Party
Điều 14
Một Quốc gia thành viên đề nghị một vụ việc
1. A State Party may refer to the Prosecutor a situation in which one or more crimes within the jurisdiction of the Court appear to have been committed requesting the Prosecutor to investigate the situation for the purpose of determining whether one or more specific persons should be charged with the commission of such crimes.

2. As far as possible, a referral shall specify the relevant circumstances and be accompanied by such supporting documentation as is available to the State referring the situation.
1. Một Quốc gia Thành viên có thể chuyển đến Công tố viên một vụ việc mà một hoặc nhiều hình tội trong thẩm quyền tài phán của Tòa có vẻ đã được thực hiện để yêu cầu Công tố viên điều tra vụ việc với mục đích xác định xem một hoặc nhiều người cụ thể có nên bị truy tố về vi phạm hình tội đó hay không.

2. Đến mức có thể, một thư giới thiệu phải ghi rõ các trường hợp liên quan và kèm theo các tài liệu hỗ trợ mà Quốc gia đề nghị vụ việc đó đang có sẵn.
Article 15
Prosecutor
Điều 15
Công tố viên
1. The Prosecutor may initiate investigations proprio motu on the basis of information on crimes within the jurisdiction of the Court.

2. The Prosecutor shall analyse the seriousness of the information received. For this purpose, he or she may seek additional information from States, organs of the United Nations, intergovernmental or nongovernmental organizations, or other reliable sources that he or she deems appropriate, and may receive written or oral testimony at the seat of the Court.

3. If the Prosecutor concludes that there is a reasonable basis to proceed with an investigation, he or she shall submit to the Pre-Trial Chamber a request for authorization of an investigation, together with any supporting material collected. Victims may make representations to the Pre-Trial Chamber, in accordance with the Rules of Procedure and Evidence.

4. If the Pre-Trial Chamber, upon examination of the request and the supporting material, considers that there is a reasonable basis to proceed with an investigation, and that the case appears to fall within the jurisdiction of the Court, it shall authorize the commencement of the investigation, without prejudice to subsequent determinations by the Court with regard to the jurisdiction and admissibility of a case.

5. The refusal of the Pre-Trial Chamber to authorize the investigation shall not preclude the presentation of a subsequent request by the Prosecutor based on new facts or evidence regarding the same situation.

6. If, after the preliminary examination referred to in paragraphs 1 and 2, the Prosecutor concludes that the information provided does not constitute a reasonable basis for an investigation, he or she shall inform those who provided the information. This shall not preclude the Prosecutor from considering further information submitted to him or her regarding the same situation in the light of new facts or evidence.
1. Công tố viên có thể bắt đầu điều tra proprio motu (tự ý mình) dựa trên thông tin về các hình tội thuộc thẩm quyền tài phán của Tòa.

2. Công tố viên sẽ phân tích mức độ nghiêm trọng của thông tin nhận được. Vì mục đích này, Công tố viên có thể tìm kiếm thêm thông tin từ các Quốc gia, các cơ quan của Liên hợp quốc, các tổ chức liên chính phủ hoặc phi chính phủ, hoặc các nguồn đáng tin cậy khác mà Công tố viên cho là phù hợp, và có thể nhận lời khai bằng văn bản hoặc bằng lời nói tại trụ sở Tòa.

3. Nếu Công tố viên kết luận rằng có cơ sở hợp lý để tiến hành điều tra, Công tố viên sẽ đệ trình Phòng Tiền-xét-xử yêu cầu cho phép điều tra, cùng với bất kỳ tài liệu hỗ trợ nào thu thập được. Nạn nhân có thể trình bày với Phòng Tiền-xét-xử, theo các Quy tắc về Thủ tục và Chứng cứ.

4. Nếu Phòng Tiền-xét-xử, sau khi nghiên cứu yêu cầu và tài liệu hỗ trợ, cho rằng có cơ sở hợp lý để tiến hành điều tra, và rằng vụ việc dường như thuộc thẩm quyền tài phán của Tòa, thì Phòng Tiền-xét-xử sẽ cho phép bắt đầu điều tra, mà không ảnh hưởng đến xác định sau đó của Tòa về thẩm quyền tài phán và về thụ lý của vụ kiện.

5. Việc Phòng Tiền-xét-xử từ chối cho phép điều tra sẽ không ngăn cản Công tố viên trình bày một yêu cầu sau đó dựa trên các sự kiện hoặc chứng cứ mới về cùng một vụ việc.

6. Nếu, sau khi nghiên cứu sơ bộ được đề cập trong khoản 1 và 2, Công tố viên kết luận rằng thông tin được cung cấp không tạo cơ sở hợp lý cho điều tra, Công tố viên sẽ thông báo cho những người đã cung cấp thông tin đó. Điều này sẽ không ngăn cản Công tố viên xem xét thông tin được đệ trình thêm cho Công tố viên liên quan đến cùng vụ việc với những sự kiện hoặc chứng cứ mới.
Article 15 bis5 
Exercise of jurisdiction over the crime of aggression
(State referral, proprio motu)
Điều 15 bis5 
Hành xử thẩm quyền tài phán với hình tội xâm lược
(Quốc gia Thành viên đề nghị, proprio motu)
1. The Court may exercise jurisdiction over the crime of aggression in accordance with article 13, paragraphs (a) and (c), subject to the provisions of this article.

2. The Court may exercise jurisdiction only with respect to crimes of aggression committed one year after the ratification or acceptance of the amendments by thirty States Parties.

3. The Court shall exercise jurisdiction over the crime of aggression in accordance with this article, subject to a decision to be taken after 1 January 2017 by the same majority of States Parties as is required for the adoption of an amendment to the Statute.

4. The Court may, in accordance with article 12, exercise jurisdiction over a crime of aggression, arising from an act of aggression committed by a State Party, unless that State Party has previously declared that it does not accept such jurisdiction by lodging a declaration with the Registrar. The withdrawal of such a declaration may be effected at any time and shall be considered by the State Party within three years.

5. In respect of a State that is not a party to this Statute, the Court shall not exercise its jurisdiction over the crime of aggression when committed by that State’s nationals or on its territory.

6. Where the Prosecutor concludes that there is a reasonable basis to proceed with an investigation in respect of a crime of aggression, he or she shall first ascertain whether the Security Council has made
a determination of an act of aggression committed by the State concerned. The Prosecutor shall notify the Secretary-General of the United Nations of the situation before the Court, including any relevant information and documents.

7. Where the Security Council has made such a determination, the Prosecutor may proceed with the investigation in respect of a crime of aggression.

8. Where no such determination is made within six months after the date of notification, the Prosecutor may proceed with the investigation in respect of a crime of aggression, provided that the Pre-Trial Division has authorized the commencement of the investigation in respect of a crime of aggression in accordance with the procedure contained in article 15, and the Security Council has not decided otherwise in accordance with article16.

9. A determination of an act of aggression by an organ outside the Court shall be without prejudice to the Court’s own findings under this Statute.

10. This article is without prejudice to the provisions relating to the exercise of jurisdiction with respect to other crimes referred to in article 5.

5: Inserted by resolution RC/Res.6 of 11 June 2010
1. Tòa có thể hành xử thẩm quyền tài phán đối với hình tội xâm lược theo điều 13, khoản (a) và (c), tùy thuộc vào các điều khoản của điều [15 bis] này.

2. Tòa chỉ có thể hành xử thẩm quyền tài phán đối với các tội xâm lược được thực hiện 1 năm sau khi 30 Quốc gia Thành viên phê chuẩn hoặc chấp nhận các sửa đổi.

3. Tòa sẽ hành xử thẩm quyền tài phán đối với tội xâm lược theo điều này, tùy thuộc vào quyết định được đưa ra sau ngày 1-1-2017 bởi đa số các Quốc gia Thành viên giống như đa số cần thiết để thông qua một sửa đổi của Đạo luật này.

4. Theo điều 12, Tòa có thể hành xử thẩm quyền tài phán đối với hình tội xâm lược, phát sinh từ hành động xâm lược của Quốc gia Thành viên, trừ khi Quốc gia Thành viên đó trước đó đã tuyên bố rằng họ không chấp nhận thẩm quyền tài phán đó bằng cách đưa ra một tuyên bố với Cơ quan đăng ký. Việc rút lại tuyên bố đó có thể được thực hiện bất cứ lúc nào và Quốc gia Thành viên sẽ có 3 năm để xem xét.

5. Đối với Quốc gia không phải là thành viên của Đạo luật này, Tòa sẽ không hành xử thẩm quyền tài phán đối với tội xâm lược khi tội xâm lược được thực hiện bởi công dân của Quốc gia đó hoặc trên lãnh thổ của Quốc gia đó.

6. Khi Công tố viên kết luận rằng có cơ sở hợp lý để tiến hành điều tra đối với hình tội xâm lược, trước tiên Công tố viên phải biết chắc Hội đồng Bảo an đã xác định hành động xâm lược của Quốc gia có liên quan hay không. Công tố viên sẽ thông báo cho Tổng thư ký Liên hợp quốc về tình trạng vụ việc trong Tòa, kể cả mọi thông tin và tài liệu liên quan.

7. Khi Hội đồng Bảo an đã làm xác định đó, Công tố viên có thể tiến hành điều tra đối với hình tội xâm lược.

8. Khi không có xác định đó trong 6 tháng sau ngày thông báo, Công tố viên có thể tiến hành điều tra đối với hình tội xâm lược, miễn là Bộ phận [Phòng] Tiền-xét-xử đã cho phép bắt đầu điều tra đối với hình tội xâm lược theo thủ tục có trong điều 15, và Hội đồng Bảo an đã không quyết định khác theo điều 16.

9. Việc xác định hành động xâm lược của một cơ quan bên ngoài Tòa sẽ không loại trừ các xác định của Tòa theo Đạo luật này.

10. Điều 15 bis này không loại trừ các điều khoản liên quan đến hành xử thẩm quyền tài phán đối với các hình tội khác được đề cập trong điều 5.

5: Được thêm vào bởi Nghị quyết RC/Res.6 ngày 11- 6-2010
Article 15 ter6 
Exercise of jurisdiction over the crime of aggression
(Security Council referral)
Điều 15 ter6 
Hành xử quyền tài phán đối với hình tội xâm lược
(Hội đồng Bảo an đề nghị)
1. The Court may exercise jurisdiction over the crime of aggression in accordance with article 13, paragraph (b), subject to the provisions of this article.

2. The Court may exercise jurisdiction only with respect to crimes of aggression committed one year after the ratification or acceptance of the amendments by thirty States Parties.

3. The Court shall exercise jurisdiction over the crime of aggression in accordance with this article, subject to a decision to be taken after 1 January 2017 by the same majority of States Parties as is required for the adoption of an amendment to the Statute.

4. A determination of an act of aggression by an organ outside the Court shall be without prejudice to the Court’s own findings under this Statute.

5. This article is without prejudice to the provisions relating to the exercise of jurisdiction with respect to other crimes referred to in article 5.

6: Inserted by resolution RC/Res.6 of 11 June 2010.
1. Tòa có thể hành xử thẩm quyền tài phán đối với hình tội xâm lược theo điều 13, khoản (b), tùy thuộc vào các điều khoản của điều này.

2. Tòa chỉ có thể hành xử thẩm quyền tài phán đối với hình tội xâm lược được thực hiện 1 năm sau khi 30 Quốc gia Thành viên phê chuẩn hoặc chấp nhận các sửa đổi.

3. Tòa sẽ hành xử thẩm quyền tài phán đối với hình tội xâm lược theo điều này, tùy thuộc vào quyết định sẽ được đưa ra sau ngày 1-1-2017 bởi đa số các Quốc gia Thành viên giống như đa số cần thiết để thông qua một sửa đổi của Đạo luật này.

4. Việc xác định hành động xâm lược của một cơ quan bên ngoài Tòa sẽ không loại trừ các xác định của Tòa theo Đạo luật này.

5. Điều 15 ter này không loại trừ các điều khoản liên quan đến hành xử thẩm quyền tài phán đối với các hình tội khác được đề cập trong điều 5.

6: Được thêm vào bởi Nghị quyết RC/Res.6 ngày 11-6- 2010.
Article 16
Deferral of investigation or prosecution
Điều 16
Trì hoãn điều tra hoặc truy tố
No investigation or prosecution may be commenced or proceeded with under this Statute for a period of 12 months after the Security Council, in a resolution adopted under Chapter VII of the Charter of the United Nations, has requested the Court to that effect; that request may be renewed by the Council under the same conditions.Không có điều tra hoặc truy tố nào có thể được bắt đầu hoặc tiến hành theo Đạo luật này trong thời hạn 12 tháng sau khi Hội đồng Bảo an, trong một nghị quyết được thông qua theo Chương VII của Hiến chương Liên hợp quốc, đã yêu cầu Tòa [không điều tra hoặc truy tố] như vậy; yêu cầu đó có thể được Hội đồng Bảo an gia hạn với những điều kiện tương tự.
Article 17
Issues of admissibility
Điều 17
Các vấn đề về thụ lý
1. Having regard to paragraph 10 of the Preamble and article 1, the Court shall determine that a case is inadmissible where:

(a) The case is being investigated or prosecuted by a State which has jurisdiction over it, unless the State is unwilling or unable genuinely to carry out the investigation or prosecution;

(b) The case has been investigated by a State which has jurisdiction over it and the State has decided not to prosecute the person concerned, unless the decision resulted from the unwillingness or inability of the State genuinely to prosecute;

(c) The person concerned has already been tried for conduct which is the subject of the complaint, and a trial by the Court is not permitted under article 20, paragraph 3;

(d) The case is not of sufficient gravity to justify further action by the Court.
1. Căn cứ vào khoản 10 của Dẫn nhập và điều 1, Tòa sẽ xác định rằng vụ kiện không thể được thụ lý khi:

(a) Vụ kiện đang được điều tra hoặc truy tố bởi một Quốc gia có thẩm quyền tài phán đối với vụ kiện đó, trừ khi Quốc gia đó không muốn hoặc không thể thực sự tiến hành điều tra hoặc truy tố;

(b) Vụ kiện đã được điều tra bởi một Quốc gia có thẩm quyền tài phán đối với vụ kiện đó và Quốc gia đó đã quyết định không truy tố người có liên quan, trừ khi quyết định đó do Quốc gia đó không muốn hoặc không có khả năng thực sự để truy tố;

(c) Người có liên quan đã bị xét xử về hành vi là vấn đề của đơn kiện, và một cuộc xét xử trước Tòa không được cho phép theo điều 20, khoản 3;

(d) Vụ kiện không đủ nghiêm trọng để biện minh cho hành động tiếp theo của Tòa.
2. In order to determine unwillingness in a particular case, the Court shall consider, having regard to the principles of due process recognized by international law, whether one or more of the following exist, as applicable:

(a) The proceedings were or are being undertaken or the national decision was made for the purpose of shielding the person concerned from criminal responsibility for crimes within the jurisdiction of the Court referred to in article 5;

(b) There has been an unjustified delay in the proceedings which in the circumstances is inconsistent with an intent to bring the person concerned to justice;

(c) The proceedings were not or are not being conducted independently or impartially, and they were or are being conducted in a manner which, in the circumstances, is inconsistent with an intent to bring the person concerned to justice.
2. Để xác định việc không muốn thụ lý một vụ kiện cụ thể, Tòa sẽ xem xét, với quan tâm về các nguyên tắc trình tự công bằng được luật quốc tế thừa nhận, một hay nhiều điều sau đây có hiện diện hay không, áp dụng tùy trường hợp:

(a) Các thủ tục tố tụng đã hoặc đang được tiến hành hoặc quyết định quốc gia được đưa ra nhằm mục đích che chắn cho người có liên quan khỏi trách nhiệm hình sự đối với các hình tội trong phạm vi thẩm quyền tài phán của Tòa được đề cập trong điều 5;

(b) Có sự trì hoãn vô cớ trong quá trình tố tụng mà trong tình trạng thực tế không phù hợp với ý định đưa đương sự ra công lý;

(c) Các thủ tục tố tụng đã không hoặc đang không được tiến hành một cách độc lập hoặc không thiên vị, và chúng đã hoặc đang được tiến hành theo cách, trong tình trạng thực tế, không phù hợp với mục đích đưa đương sự ra trước công lý.
3. In order to determine inability in a particular case, the Court shall consider whether, due to a total or substantial collapse or unavailability of its national judicial system, the State is unable to obtain the accused or the necessary evidence and testimony or otherwise unable to carry out its proceedings.3. Để xác định việc không có khả năng trong một vụ kiện cụ thể, Tòa sẽ xem xét liệu, do sự sụp đổ hoàn toàn hoặc đáng kể hoặc sự không khả dụng của hệ thống tư pháp quốc gia, Quốc gia không thể có được bị can hoặc chứng cứ và lời khai cần thiết hoặc mặt khác, Quốc gia không thể thực hiện các thủ tục tố tụng.
Article 18
Preliminary rulings regarding admissibility
Điều 18
Các phán quyết sơ bộ về thụ lý
1. When a situation has been referred to the Court pursuant to article 13 (a) and the Prosecutor has determined that there would be a reasonable basis to commence an investigation, or the Prosecutor initiates an investigation pursuant to articles 13 (c) and 15, the Prosecutor shall notify all States Parties and those States which, taking into account the information available, would normally exercise jurisdiction over the crimes concerned. The Prosecutor may notify such States on a confidential basis and, where the Prosecutor believes it necessary to protect persons, prevent destruction of evidence or prevent the absconding of persons, may limit the scope of the information provided to States.

2. Within one month of receipt of that notification, a State may inform the Court that it is investigating or has investigated its nationals or others within its jurisdiction with respect to criminal acts which may constitute crimes referred to in article 5 and which relate to the information provided in the notification to States. At the request of that State, the Prosecutor shall defer to the State’s investigation of those persons unless the Pre-Trial Chamber, on the application of the Prosecutor, decides to authorize the investigation.

3. The Prosecutor’s deferral to a State’s investigation shall be open to review by the Prosecutor six months after the date of deferral or at any time when there has been a significant change of circumstances based on the State’s unwillingness or inability genuinely to carry out the investigation.

4. The State concerned or the Prosecutor may appeal to the Appeals Chamber against a ruling of the Pre-Trial Chamber, in accordance with article 82. The appeal may be heard on an expedited basis.

5. When the Prosecutor has deferred an investigation in accordance with paragraph 2, the Prosecutor may request that the State concerned periodically inform the Prosecutor of the progress of its investigations and any subsequent prosecutions. States Parties shall respond to such requests without undue delay.

6. Pending a ruling by the Pre-Trial Chamber, or at any time when the Prosecutor has deferred an investigation under this article, the Prosecutor may, on an exceptional basis, seek authority from the Pre-Trial Chamber to pursue necessary investigative steps for the purpose of preserving evidence where there is a unique opportunity to obtain important evidence or there is a significant risk that such evidence may not be subsequently available.

7. A State which has challenged a ruling of the Pre-Trial Chamber under this article may challenge the admissibility of a case under article 19 on the grounds of additional significant facts or significant change of circumstances.
1. Khi một vụ kiện được chuyển đến Tòa theo điều 13 (a) và Công tố viên đã xác định rằng sẽ có cơ sở hợp lý để bắt đầu điều tra hoặc Công tố viên khởi xướng một cuộc điều tra theo điều 13 (c) và 15, Công tố viên sẽ thông báo cho tất cả các Quốc gia Thành viên và những Quốc gia mà, theo các thông tin sẵn có, thường sẽ hành xử thẩm quyền tài phán đối với các hình tội liên quan. Công tố viên có thể thông báo cho các Quốc gia đó trên cơ sở bí mật và, khi Công tố viên tin rằng cần bảo vệ người, ngăn chặn việc tiêu hủy chứng cứ hoặc ngăn chặn việc người bỏ trốn, thì có thể giới hạn phạm vi thông tin cung cấp cho các Quốc gia.

2. Trong vòng 1 tháng kể từ khi nhận được thông báo đó, một Quốc gia có thể thông báo cho Tòa rằng họ đang điều tra hoặc đã điều tra công dân của mình hoặc những người khác trong thẩm quyền tài phán của Quốc gia đó về các hành vi phạm tộicó thể cấu thành hình tội được đề cập trong điều 5 và liên quan đến thông tin được cung cấp trong thông báo cho các Quốc gia. Theo yêu cầu của Quốc gia đó, Công tố viên sẽ nhượng bước cho cuộc điều tra của Quốc gia đó đối với những người đó, trừ khi Phòng Tiền-xét-xử, theo đơn của Công tố viên, quyết định cho phép điều tra.

3. Việc nhượng bước của Công tố viên đối với một cuộc điều tra của một Quốc gia sẽ được mở ra để Công tố xem xét lại sáu tháng sau ngày nhượng bước hoặc bất cứ lúc nào khi có sự thay đổi hoàn cảnh đáng kể dựa trên việc Quốc gia không muốn hoặc không có khả năng thực sự thực hiện cuộc điều tra.

4. Quốc gia có liên quan hoặc Công tố viên có thể kháng cáo lên Phòng kháng cáo chống lại phán quyết của Phòng Tiền-xét-xử, theo điều 82. Kháng cáo có thể được xét xử nhanh chóng.

5. Khi Công tố viên nhượng bước một cuộc điều tra theo khoản 2, Công tố viên có thể yêu cầu Quốc gia liên quan thông báo định kỳ cho Công tố viên về tiến độ điều tra của Quốc gia và bất kỳ cuộc truy tố nào sau đó. Các quốc gia Thành viên sẽ trả lời các yêu cầu như vậy mà không chậm trễ không lý do.

6. Trong khi chờ phán quyết của Phòng Tiền-xét-xử, hoặc vào bất kỳ lúc nào khi Công tố viên đã nhượng bước một cuộc điều tra theo điều 18 này, Công tố viên có thể, trên cơ sở ngoại lệ, xin thẩm quyền từ Phòng Tiền-xét-xử để theo đuổi các bước điều tra cần thiết cho mục đích bảo tồn chứng cứ khi có cơ hội duy nhất để có được chứng cứ quan trọng hoặc có nguy cơ đáng kể là chứng cứ đó sau này có thể không còn có sẵn.

7. Một Quốc gia đã thách thức phán quyết của Phòng Tiền-xét-xử theo điều 18 này có thể thách thức việc thụ lý vụ kiện theo điều 19 trên cơ sở các tình tiết quan trọng được bổ sung hoặc có thay đổi hoàn cảnh đáng kể.
Article 19
Challenges to the jurisdiction of the Court or the admissibility of a case
Điều 19
Những thách thức đối với thẩm quyền tài phán của Tòa hoặc việc thụ lý một vụ kiện
1. The Court shall satisfy itself that it has jurisdiction in any case brought before it. The Court may, on its own motion, determine the admissibility of a case in accordance with article 17.

2. Challenges to the admissibility of a case on the grounds referred to in article 17 or challenges to the jurisdiction of the Court may be made by:

(a) An accused or a person for whom a warrant of arrest or a summons to appear has been issued under article 58;

(b) A State which has jurisdiction over a case, on the ground that it is investigating or prosecuting the case or has investigated or prosecuted; or

(c) A State from which acceptance of jurisdiction is required under article 12.

3. The Prosecutor may seek a ruling from the Court regarding a question of jurisdiction or admissibility. In proceedings with respect to jurisdiction or admissibility, those who have referred the situation under article 13, as well as victims, may also submit observations to the Court.

4. The admissibility of a case or the jurisdiction of the Court may be challenged only once by any person or State referred to in paragraph 2. The challenge shall take place prior to or at the commencement of the trial. In exceptional circumstances, the Court may grant leave for a challenge to be brought more than once or at a time later than the commencement of the trial. Challenges to the admissibility of a case, at the commencement of a trial, or subsequently with the leave of the Court, may be based only on article 17, paragraph 1 (c).

5. A State referred to in paragraph 2 (b) and (c) shall make a challenge at the earliest opportunity.

6. Prior to the confirmation of the charges, challenges to the admissibility of a case or challenges to the jurisdiction of the Court shall be referred to the Pre-Trial Chamber. After confirmation of the charges, they shall be referred to the Trial Chamber. Decisions with respect to jurisdiction or admissibility may be appealed to the Appeals Chamber in accordance with article 82.

7. If a challenge is made by a State referred to in paragraph 2 (b) or (c), the Prosecutor shall suspend the investigation until such time as the Court makes a determination in accordance with article 17.

8. Pending a ruling by the Court, the Prosecutor may seek authority from the Court:

(a) To pursue necessary investigative steps of the kind referred to in article 18, paragraph 6;

(b) To take a statement or testimony from a witness or complete the collection and examination of evidence which had begun prior to the making of the challenge; and

(c) In cooperation with the relevant States, to prevent the absconding of persons in respect of whom the Prosecutor has already requested a warrant of arrest under article 58.

9. The making of a challenge shall not affect the validity of any act performed by the Prosecutor or any order or warrant issued by the Court prior to the making of the challenge.

10. If the Court has decided that a case is inadmissible under article 17, the Prosecutor may submit a request for a review of the decision when he or she is fully satisfied that new facts have arisen which negate the basis on which the case had previously been found inadmissible under article 17.

11. If the Prosecutor, having regard to the matters referred to in article 17, defers an investigation, the Prosecutor may request that the relevant State make available to the Prosecutor information on the proceedings. That information shall, at the request of the State concerned, be confidential. If the Prosecutor thereafter decides to proceed with an investigation, he or she shall notify the State to which deferral of the proceedings has taken place.
1. Tòa sẽ tự quyết định rằng Tòa có thẩm quyền tài phán trong bất kỳ vụ kiện nào được đưa ra trước Tòa. Tòa có thể, theo chính đề nghị của Tòa, xác định việc thụ lý vụ kiện theo điều 17.

2. Những thách thức đối với việc thụ lý vụ kiện trên cơ sở được đề cập trong điều 17 hoặc những thách thức đối với thẩm quyền tài phán của Tòa có thể được thực hiện bởi:

(a) Bị can hoặc người đã có lệnh bắt hoặc lệnh triệu tập theo điều 58;

(b) Một Quốc gia có thẩm quyền tài phán đối với một vụ kiện, trên cơ sở Quốc gia đó đang điều tra hoặc truy tố vụ kiện hoặc đã điều tra hoặc truy tố; hoặc

(c) Một Quốc gia mà sự chấp nhận [của Quốc gia đó] đối với thẩm quyền tài phán cùa Tòa cần phải có theo điều 12.

3. Công tố viên có thể yêu cầu Tòa phán quyết về vấn đề thẩm quyền tài phán hoặc thụ lý. Trong các thủ tục tố tụng liên quan đến thẩm quyền tài phán hoặc thụ lý, những người đã giới thiệu vụ kiện theo điều 13, cũng như các nạn nhân, cũng có thể gởi đến Tòa các quan sát của họ.

4. Việc thụ lý một vụ kiện hoặc thẩm quyền tài phán của Tòa chỉ có thể bị thách thức một lần bởi bất kỳ người nào hoặc Quốc gia nào được đề cập trong khoản 2. Việc thách thức sẽ diễn ra trước hoặc khi bắt đầu phiên tòa. Trong những trường hợp đặc biệt, Tòa có thể cho phép thách thức được đưa ra nhiều hơn một lần hoặc tại một thời điểm sau khi phiên tòa đã bắt đầu. Những thách thức đối với việc thụ lý vụ kiện, khi bắt đầu xét xử, hoặc sau đó với phép của Tòa, có thể chỉ dựa trên điều 17, khoản 1 (c).

5. Một Quốc gia được đề cập trong khoản 2 (b) và (c) sẽ đưa ra thách thức trong thời gian sớm nhất.

6. Trước khi xác nhận các cáo buộc, những thách thức đối với việc thụ lý vụ kiện hoặc những thách thức đối với thẩm quyền tài phán của Tòa sẽ được chuyển đến Phòng Tiền-xét-xử. Sau khi xác nhận các cáo buộc, chúng sẽ được chuyển đến Phòng Xét-xử. Các quyết định liên quan đến thẩm quyền tài phán hoặc thụ lý có thể được kháng cáo lên Phòng kháng cáo theo điều 82.

7. Nếu một thách thức được thực hiện bởi một Quốc gia như được đề cập trong khoản 2 (b) hoặc (c), Công tố viên sẽ hoãn điều tra cho đến khi Tòa đưa ra quyết định theo điều 17.

8. Trong khi chờ đợi phán quyết của Tòa, Công tố viên có thể yêu cầu thẩm quyền từ Tòa:

(a) Để theo đuổi các bước điều tra cần thiết thuộc loại được đề cập trong điều 18, khoản 6;

(b) Để lấy lời nói hoặc lời khai của một nhân chứng hoặc hoàn thành việc thu thập và kiểm tra chứng cứ đã bắt đầu trước khi có thách thức; và

(c) Trong hợp tác với các Quốc gia có liên quan, để ngăn chặn việc bỏ trốn của những người mà Công tố viên đã yêu cầu lệnh bắt theo điều 58.

9. Việc đưa ra thách thức sẽ không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của bất kỳ hành vi nào do Công tố viên thực hiện hoặc bất kỳ lệnh hoặc trát nào do Tòa ban hành trước khi có thách thức.

10. Nếu Tòa đã quyết định rằng một vụ kiện là không thể thụ lý theo điều 17, Công tố viên có thể gửi yêu cầu xem xét lại quyết định khi họ hoàn toàn hài lòng rằng các sự kiện mới đã phát sinh và phủ nhận căn cứ mà trên đó vụ kiện đã được xác nhận là không thể được thụ lý theo điều 17.

11. Nếu Công tố viên, có quan tâm đến các vấn đề được đề cập trong điều 17, nhượng bước một cuộc điều tra, thì Công tố viên có thể yêu cầu Quốc gia liên quan cung cấp cho Công tố viên thông tin về quá trình tố tụng. Thông tin đó, theo yêu cầu của Quốc gia liên quan, sẽ được bảo mật. Nếu sau đó Công tố viên quyết định tiến hành điều tra, họ sẽ thông báo cho Quốc gia mà việc nhượng bước tố tụng đã diễn ra.
Article 207 
Ne bis in idem
Điều 207 
Ne bis in idem (Không xử hai lần cùng một tội)
1. Except as provided in this Statute, no person shall be tried before the Court with respect to conduct which formed the basis of crimes for which the person has been convicted or acquitted by the Court.

2. No person shall be tried by another court for a crime referred to in article 5 for which that person has already been convicted or acquitted by the Court.

3. No person who has been tried by another court for conduct also proscribed under article 6, 7, 8 or 8 bis shall be tried by the Court with respect to the same conduct unless the proceedings in the other court:

(a) Were for the purpose of shielding the person concerned from criminal responsibility for crimes within the jurisdiction of the Court; or

(b) Otherwise were not conducted independently or impartially in accordance with the norms of due process recognized by international law and were conducted in a manner which, in the circumstances, was inconsistent with an intent to bring the person concerned to justice

7: As amended by resolution RC/Res.6 of 11 June 2010 (inserting the reference to article 8 bis).
1. Trừ khi được quy định trong Đạo luật này, không có ai bị xét xử trước Tòa về hành vi tạo cơ sở cho hình tội mà người đó đã bị Tòa kết án hoặc cho trắng án.

2. Không ai bị tòa khác xét xử về một tội được đề cập trong điều 5 mà người đó đã bị Tòa kết án hoặc cho trắng án.

3. Không ai đã bị một tòa khác xét xử về hành vi cũng bị cấm theo điều 6, 7, 8 hoặc 8 bis sẽ bị Tòa xét xử cùng hành vi đó, trừ khi các thủ tục tại tòa khác:

(a) Là nhằm mục đích che chắn cho đương sự khỏi trách nhiệm hình sự về những hình tội thuộc thẩm quyền tài phán của Tòa; hoặc

(b) Mặt khác, đã không được tiến hành một cách độc lập hoặc khách quan theo các chuẩn mực của thủ tục tố tụng được luật quốc tế thừa nhận và được tiến hành theo cách, trong hoàn cảnh thực tế, không phù hợp với mục đích đưa đương sự ra trước công lý.

7: Được sửa đổi theo Nghị quyết RC/Res.6 ngày 11-6-2010 (tham khảo thêm điều 8 bis).
Article 21
Applicable law
Điều 21
Luật áp dụng
1. The Court shall apply:

(a) In the first place, this Statute, Elements of Crimes and its Rules of Procedure and Evidence;

(b) In the second place, where appropriate, applicable treaties and the principles and rules of international law, including the established principles of the international law of armed conflict;

(c) Failing that, general principles of law derived by the Court from national laws of legal systems of the world including, as appropriate, the national laws of States that would normally exercise jurisdiction over the crime, provided that those principles are not inconsistent with this Statute and with international law and internationally recognized norms and standards.

2. The Court may apply principles and rules of law as interpreted in its previous decisions.

3. The application and interpretation of law pursuant to this article must be consistent with internationally recognized human rights, and be without any adverse distinction founded on grounds such as gender as defined in article 7, paragraph 3, age, race, colour, language, religion or belief, political or other opinion, national, ethnic or social origin, wealth, birth or other status.
1. Tòa sẽ áp dụng:

(a) Trước hết, Đạo luật này, Các yếu tố cấu thành Hình tội và các Quy tắc về Thủ tục và Chứng cứ;

(b) Thứ hai, khi thích hợp, các hiệp ước và các nguyên tắc và quy tắc của luật quốc tế, kể cả các nguyên tắc đã được thiết lập của luật quốc tế về xung đột vũ trang, có thể áp dụng ;

(c) Nếu vẫn chưa đủ, thì các nguyên tắc chung của luật do Tòa lấy ra từ luật quốc gia của các hệ thống luật thế giới, kể cả, nếu thích hợp, luật quốc gia của các Quốc gia mà khi bình thường có thể thực hiện thẩm quyền tài phán đối với hình tội, miễn là các nguyên tắc đó không trái với Đạo luật này và với luật quốc tế và các chuẩn mực và tiêu chuẩn được quốc tế công nhận.

2. Tòa có thể áp dụng các nguyên tắc và quy tắc của luật đã được diễn giải trong các quyết định trước đây của Tòa.

3. Việc áp dụng và diễn giải luật theo điều 21 này phải phù hợp với các quyền con người được quốc tế công nhận, và không có bất kỳ sự phân biệt bất lợi nào dựa trên các cơ sở như giới tính được định nghĩa trong điều 7, khoản 3, tuổi tác, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc tín ngưỡng, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia, dân tộc hoặc xã hội, giàu nghèo, dòng tộc, hoặc các tình trạng khác.
…….…….

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s