Rì rầm tiếng vọng từ ngàn xưa

Hà Nội mới

“Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về”

Hai câu trong bài “Đất nước” của thi sĩ Nguyễn Đình Thi, không hiểu sao, cứ văng vẳng tâm trí chúng tôi khi tỉ mẩn ở cụm di chỉ Vườn Chuối (thôn Lai Xá, Kim Chung, Hoài Đức, Hà Nội). Từ Vườn Chuối, dấu tích của một làng cổ, dấu tích sự có mặt của con người từ rất sớm trên địa bàn Hà Nội, chúng tôi nghĩ về di tích Cổ Loa (xã Cổ Loa, huyện Đông Anh) – di tồn kinh đô cổ nhất của người Việt, về Hoàng thành Thăng Long – những nơi cùng với quá trình khảo cổ, xuất lộ rất nhiều hiện vật “kể” những câu chuyện ông cha tự ngàn xưa. Và để những câu chuyện tự ngàn xưa vọng đến mai sau hẳn là nỗi niềm nhiều khơi gợi…

***

Ảnh: Ngô Vương Anh

Mới già buổi sáng, trời đã như đổ lửa. Ấy thế mà nói đến chuyện ra cụm di chỉ Vườn Chuối giữa bãi hoang, ông Nguyễn Văn Thắng (thôn Lai Xá), ngoài bảy mươi, tóc đã phơ bạc, hào hứng lắm, líu ríu đi cùng là cháu ngoại. Lục tục mấy người, từ nhà ông Thắng ra đó mất mươi phút đi xe.

Gò Vườn Chuối ngày trước vốn chỉ để trồng cải muối dưa. Ngày nhỏ, cậu bé Thắng thường theo bà ngoại ra đó làm đồng. Giúp bà chẳng được mấy việc, cậu chỉ lui cui nhặt nhạnh những mảnh sành, mảnh gốm hoa văn lạ mắt để nghịch. Bữa nào mà lấy được mảnh hình tròn, có thể là cái trôn bát, trôn đĩa sót lại thì cậu vui lắm vì có thể chơi đánh đáo.

Suy nghĩ của cậu lúc đó thật đơn giản: Những mảnh vỡ vứt đi.

Đấy là quãng những năm 1960. Chẳng riêng cậu bé Thắng. Người làng, từ cao niên như bà ngoại cậu đến anh thanh niên Đặng Tích (nay đã tám mươi sáu) đều không hay cụm di chỉ Vườn Chuối chính là dấu tích một làng cổ thuộc văn hóa Đồng Đậu, là chứng cứ lịch sử về sự có mặt của con người từ rất sớm trên địa bàn Hà Nội.

Những di vật cổ xưa cậu bé Thắng hoặc liệng đi, hoặc lượm lặt về có niên đại khoảng 3.000-4.000 năm.

Cải gò Vườn Chuối ngon có tiếng. Dân Lai Xá có thành ngữ: “Dưa cải Vườn Chuối”. Ký ức về món ăn vẫn còn đậm nét và những ngày cuốc đất, tưới nước trồng dưa hằn trong tâm khảm. Cụ Đặng Tích, hay ông Thắng, nhiều người Lai Xá đều nhớ những lần è cổ gánh nước từ dưới chân gò để tưới cải. Mảnh sành, mảnh gốm cuốc phải thì gom lại để làm bờ ruộng…

Cụ Đặng Tích hồn hậu, ngày chưa ý thức được giá trị của di chỉ Vườn Chuối, có lần cụ đi tham quan Bảo tàng Lịch sử quốc gia. Khi đi đến gian trưng bày hiện vật thời Đông Sơn, sau khi nghe hướng dẫn viên giới thiệu, cụ buột miệng: “Mấy cái mảnh giống như thế này, ông cứ về Lai Xá, tôi cho cả xe cải tiến”.

Di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối được khai quật lần đầu tiên vào năm 1969. Ngay sau lần khai quật đó, giới khảo cổ học đã nhận định đây là một di chỉ quý giá. Những hiện vật xuất lộ cùng với các lần khai quật tiếp theo đã xác tín đây là một cụm di chỉ thời đại kim khí, một trong số rất ít di tích có sự phát triển liên tục qua nhiều giai đoạn văn hóa từ tiền Đông Sơn đến Đông Sơn.

Tuy nhiên, phần do chiến tranh, phần do kinh tế còn eo hẹp nên một thời gian dài, di chỉ khảo cổ Vườn Chuối tiếp tục giấc ngủ dài hàng ngàn năm qua. Ngày trước, người làng Lai Xá truyền tai nhau thông tin vỏn vẹn: “Có người cổ ở Vườn Chuối”.

Ông Thắng lưu giữ những mẩu di vật qua nhiều năm.

Chàng trai làng Nguyễn Văn Thắng, mấy mươi năm trước, nhập ngũ như bao chàng trai khác. Cho đến khi xuất ngũ về làng, ông cũng chưa biết được rằng, trên mảnh đất “chôn nhau, cắt rốn” của mình lại có di chỉ quý giá đến nhường ấy.

Mãi đến khi làm Trưởng thôn Lai Xá, suốt mười năm từ 2000 đến 2010, ông Thắng dần mới hiểu được giá trị thực sự của Vườn Chuối. “Đấy, cũng phải mất đến 40 năm, nửa đời người, tôi mới vỡ ra được. Tuy muộn còn hơn không”, ông Thắng bộc bạch.

Và kể từ đó, ông dồn hết tâm trí vào việc lưu giữ hình ảnh, bảo tồn những mẩu di vật mà người dân làng vô tình gom góp được qua nhiều năm. Thậm chí, các thành viên trong Câu lạc bộ Nhiếp ảnh Lai Xá do ông Thắng làm Chủ nhiệm cũng được huy động cùng lưu giữ hình ảnh, cùng bảo vệ di chỉ Vườn Chuối. Bảo tàng Nhiếp ảnh Lai Xá được sử dụng để trưng bày những hiện vật quý.

Cũng kể thêm đây, nghề nhiếp ảnh ở Lai Xá nổi tiếng khắp cả nước kể từ khi cụ Nguyễn Đình Khánh (còn được gọi là cụ Khánh Ký) truyền nghề cho nhiều người trong làng để rồi sau này họ tỏa ra khắp Trung – Nam – Bắc mở hiệu ảnh. Người làng Lai Xá trước đây mưu sinh bằng nhiếp ảnh và nổi tiếng cũng bằng nhiếp ảnh..

“Vừa rồi, Câu lạc bộ Nhiếp ảnh Lai Xá định mở “triển lãm” nho nhỏ giới thiệu một số di vật tại di chỉ Vườn Chuối nhưng vướng nhiều nỗi. Thế nên mong mỏi ấy chưa thành”, ông Thắng tâm sự.

Từ đường nhánh, phải đi bộ quãng trăm mét mới đến được cụm di chỉ. Chuối vẫn mọc rải từ phía ngoài vào. Lán khu vực khai quật có cậu sinh viên đang đo đạc, kẻ vẽ. Đúng ngày Một, lễ hoa quả, nhang nghi ngút chỗ có mộ táng.

Oi nồng, nhưng đứng bên hố khai quật, ông Thắng hào hứng lắm. Chỗ này chỉ có các hiện vật, chỗ này là mộ táng kèm theo đồ tùy táng. Song nhìn sang kế bên, chung cư “cấy” thẳng đứng, ông Thắng lại chùng giọng.

Đúng là ông Thắng, cụ Tích, nhiều người Lai Xá tâm tư thật. Gò Vườn Chuối còn khá nguyên vẹn nhưng gò Mỏ Phượng, Dền Rắn cùng cụm di chỉ hoặc gần như không còn, hoặc bị “thu hẹp” phần lớn. Khu đô thị mọc lên rồi đường 3,5 lại có nguy cơ sấn vào…Cụ Tích và ông Thắng cùng những hình ảnh cổ vật.

Nhiều ngày, những người như cụ Tích, ông Thắng, đại diện cho hai lớp người trong làng Lai Xá, cùng những người dân Lai Xá sử dụng nghề nhiếp ảnh truyền thống 100 năm của làng để lưu giữ hình ảnh cổ vật, “đấu tranh” với những hành vi xâm hại di chỉ qua việc lưu lại hình ảnh, clip rồi báo với cơ quan “có tiếng nói”.

PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học, người làng Lai Xá, nói về cụm di chỉ mà có lúc giọng như nghèn nghẹn, mắt đỏ ậng: “Tôi cho rằng, di chỉ Vườn Chuối chính là cái gạch nối giữa huyền sử với lịch sử thành văn. Từ trước đến nay, chúng ta còn phải ước đoán hoặc tranh luận về thời kỳ Hùng Vương. Với Vườn Chuối, giai đoạn huyền sử này trở nên sáng tỏ”.

“Vườn Chuối là một di chỉ khảo cổ vô giá! Chúng ta cần bảo tồn cho con cháu”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh.

Ở góc độ khác, lại nhiều cái vướng. Địa phương có nhiều khó khăn trong việc quản lý, xác định diện tích khu di chỉ một cách cụ thể. May mắn thay, thành phố đã vào cuộc, yêu cầu khảo sát, xác định vị trí, ranh giới, diện tích chính xác ba khu di chỉ gò Vườn Chuối, gò Dền Rắn và gò Mỏ Phượng. Trên cơ sở này, các đơn vị đề xuất phạm vi khảo cổ, phương án bảo tồn, khai quật di dời thích hợp từng địa điểm, bảo đảm vừa bảo tồn di sản vừa phát triển bền vững.

Những người như cụ Tích, ông Thắng mong lắm. Giờ đô thị hóa hết. Đường làng thảm nhựa. Nhà trong làng cũng tinh 2-3 tầng, chen chúc những người. Hết ruộng thì con cháu lấy gì mà sống? Nghề nhiếp ảnh cũng đã không còn được như trước nữa. Cụm di chỉ Vườn Chuối như báu vật trong tay. Giữ gìn, bảo tồn báu vật mà tổ tiên ngàn đời truyền lại sẽ giúp chúng ta hôm nay, con cháu mai này biết được mình là ai, từ đâu tới. Bốn ngàn năm cách ngày nay, đến ngày nay là một nhịp thời gian trội vượt, phương trưởng của dân tộc. Và từ đó, người Việt thêm định rõ căn cước của riêng mình trước cả thế giới.

PGS.TS Nguyễn Văn Huy thì mạnh dạn đề xuất xây dựng nơi đây trở thành công viên di sản, một điểm nhấn cho bản đồ di sản Hà Nội. Cùng với giá trị văn hóa mang lại, đó cũng là cách làm kinh tế.

***

Ảnh: Tiến Dũng

Thục từ dứt nước Văn Lang/ Cải tên Âu Lạc, dời sang Loa thành (Đại Nam quốc sử diễn ca).


Câu ca ấy nói về Cổ Loa, “một trong những tòa thành đắp bằng đất cùng các cấu kiện ngói và đá sớm nhất, quy mô to lớn nhất ở Việt Nam và Đông Nam Á”. Nếu như di chỉ Vườn Chuối còn đang trong giai đoạn khảo cổ, đề xuất, tìm kiếm và thống nhất phương án bảo tồn thì Cổ Loa đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Ấy vậy nhưng cả người dân lẫn người làm công tác quản lý di tích đều có nỗi niềm trước thực trạng hiện nay.

Tiếp chúng tôi trong căn nhà 5 gian lợp ngói mũi hài, trang trọng hoành phi, câu đối ở gian chính, cụ Hoàng Văn Lộc (86 tuổi, ở thôn Nhồi Dưới, xã Cổ Loa) say sưa kể về những lần lễ hội Cổ Loa được bố cho đi dự từ bé (quãng những năm 1940, 1941), đến khi là thanh niên và lúc làm thủ từ Đền Thượng. Ví ông là pho sử của làng cũng không quá. Ký ức cũ nơi ông đan xen nỗi niềm đau đáu về một lễ hội thờ vua hoành tráng và càng giống xưa càng tốt.Cụ Hoàng Văn Lộc.

Nhịp sống ngày càng hiện đại. “Phố làng” rộng, nhà cửa các thôn mỗi lúc một đông. Thành Nội, Thành Trung và Thành Ngoại, ba vòng Loa thành xưa giờ khuất lấp. Cụ Lộc giãi bày: “Điểm đặc thù của di tích Cổ Loa là người dân ở trong thành và trên thành từ bao đời nay. Ngay như nhà tôi đây cũng nằm trong khu vực Thành Trung. Con cháu lớn lên, dựng vợ gả chồng, cũng phải có căn nhà cho đôi trẻ chứ”.

Đi một vòng quanh di tích Cổ Loa, đâu có thành là ở đó có vi phạm, nếu nhìn khắt khe. Hầu hết mọi gia đình ở Cổ Loa đều giống hoàn cảnh nhà cụ Lộc. Sống trong di tích, sống… trên di tích theo đúng nghĩa đen, những xung đột giữa không gian cư trú, sinh hoạt rồi sản xuất rất vật chất, rất cụ thể với không gian, di sản cần bảo tồn cũng vừa đo đếm được, vừa phi vật thể là khó tránh khỏi.

Anh Vũ, một người làng (đã thay tên theo yêu cầu của nhân vật – PV) dẫn chúng tôi đi khảo sát khắp các vòng thành. Chỗ thì đã được “khoanh” để trồng cây, “mất nửa so với hồi tôi còn ngồi trên thành tán gái làng” quãng 25 năm trước. Rồi đứng ngay cạnh hố khai quật Ụ hỏa hồi trên mặt Thành Nội phía đông bắc (khai quật năm 2014), nhưng chúng tôi không thể nhận ra đây là di chỉ khảo cổ bởi người dân đã để nhiều thứ ngay trên mặt hố cho đến khi anh Vũ chỉ rõ.Ụ hỏa hồi khai quật năm 2014 và khu vực Ụ hỏa bị lấn chiếm để đồ đạc năm 2020.

Ông Nguyễn Văn Xuân, Trưởng phòng Quản lý (Ban Quản lý Khu di tích Cổ Loa) cho biết: “Trong năm 2019, ghi nhận 26 trường hợp vi phạm. Trong 6 tháng đầu năm 2020, con số này là 18”. Cá biệt, có trường hợp vi phạm ở khu vực thành và hào thuộc xã Việt Hùng năm 2019 vừa rồi lại cố tình tái phạm. Hộ dân này lợi dụng việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã san thành và lấp hào để lấn chiếm.

Vi phạm như thế kể thì nhiều. Có đoạn Thành Trung, “đề án” trồng mít và trám trên thành khiến mặt thành bị san ủi rồi rào lại với cái cớ là để bảo vệ cây con. Thực tế, nhiều đoạn thành được rào lại và có cổng khóa như vườn riêng.

Nguồn tư liệu khảo cổ học và cổ sử khẳng định, thành Cổ Loa là tòa thành đắp bằng đất cùng các cấu kiện ngói và đá sớm nhất, quy mô to lớn nhất ở Việt Nam và Đông Nam Á. Tòa thành này do An Dương Vương đắp vào khoảng thế kỷ III-II trước Công nguyên. Đây là tòa thành vừa bảo vệ kinh đô, nhà vua và hoàng gia, vừa là căn cứ quân sự có tính phòng thủ vững chắc.

Tiến sĩ Trịnh Hoàng Hiệp, Trưởng phòng Nghiên cứu khảo cổ học Tiền sử, Viện Khảo cổ học, đánh giá: “Nghiên cứu kỹ thuật đắp thành, quy mô và hình dáng của thành thấy rằng, đó là truyền thống đắp thành của người Việt, rất khác với kỹ thuật, những quy định cụ thể trong cách xây dựng thành của nhà Hán”.Tiến sĩ Trịnh Hoàng Hiệp báo cáo kết quả khai quật Thành Ngoại trên hiện trường.

Giá trị nhất của khu di tích Cổ Loa ở chỗ, đây là di tồn văn hóa của kinh đô cổ nhất khu vực Đông Nam Á. Cách xây đắp thành mang truyền thống xây dựng triệt để lợi dụng điều kiện tự nhiên có sẵn trong khu vực để đắp thành, đào hào. Hệ thống sông được dùng làm hào tự nhiên cho Thành Ngoại và cung cấp nước cho cả hệ thống hào của tòa thành. Nhiều gò, đống, doi đất cao được đắp nối lại và đắp cao thêm làm thành một bộ phận hữu cơ của tòa thành. Thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước, chống giặc ngoại xâm.

Dù vậy, di sản này vẫn phải chịu cảnh “chèn ép” bởi chiếc áo phát triển kinh tế – xã hội ngày một chật thêm. Bảo tồn di sản là một chuyện nhưng bức bách không gian cư trú, nhu cầu làm ăn mỗi lúc một thúc ép lại là chuyện khác…

Tiến sĩ Trịnh Hoàng Hiệp cho rằng, làm tốt vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa liên quan khu di tích Cổ Loa cùng đồng nghĩa với việc giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay về tinh thần độc lập dân tộc, chống kẻ thù xâm lược, phát huy truyền thống lịch sử – văn hóa của cha ông. Khai thác tốt vấn đề lịch sử – văn hóa liên quan tới di tích Cổ Loa, xây dựng một không gian văn hóa lịch sử, không gian văn hóa tâm linh phù hợp với truyền thống, văn hóa đương đại, sẽ chắc chắn góp phần tích cực vào việc giáo dục, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của mọi tầng lớp nhân dân hôm nay và mai sau.Lễ hội Cổ Loa Canh Tý 2020.

Nhìn ra các nước, bảo tồn di sản, biến di sản trở thành sản phẩm du lịch thì đó cũng là một cách để di sản “đẻ ra tiền”… Tỷ như, trong năm 2019, tổng số du khách tham quan khu di tích Cổ Loa là hơn 214.000 lượt. Trong 6 tháng đầu năm 2020, con số này khoảng 100.000. Đấy là còn như ông Nguyễn Văn Xuân phân tích: “Thực ra, hầu hết số khách này đều tập trung vào đợt lễ hội chính kéo dài từ ngày 30 tháng Chạp đến rằm tháng Giêng”.

Kể ra một năm không chỉ có mười lăm ngày ấy…

PGS.TS Nguyễn Văn Huy đánh giá, di tích Loa thành có hai thứ đặc biệt quý giá, đó là thành và hào. Ông mong ước, nếu giữ gìn được nguyên trạng, rồi mai này kinh tế khấm khá, có điều kiện khôi phục thì Loa thành sẽ trở thành vàng, thành kim cương của thành phố. Dân gắn với thành, dân làm du lịch từ Loa thành…

Chính cụ Hoàng Văn Lộc cũng khẳng định: “Dù biết bảo tồn thứ quý giá nhất là thành và hào sẽ gặp nhiều khó khăn nhưng mọi người đều thống nhất cần phải bảo tồn”.

Nhưng đó hẳn là câu chuyện xa xôi.

Ông Nguyễn Văn Xuân.

Nhìn thẳng vào thực tế, ông Nguyễn Văn Xuân, Trưởng phòng Quản lý, cho rằng: “Di dời hết người dân ra khỏi di tích là điều không thể. Trước mắt, các cấp chính quyền cùng nhân dân phải giữ cho bằng được những đoạn thành, hào đang còn. Về lâu dài, cần có một quy hoạch rõ ràng để căn cứ vào đó, các cấp chính quyền và nhân dân cùng nhau quản lý và bảo tồn di tích”.

Tiến sĩ Trịnh Hoàng Hiệp thì đề xuất, để bảo tồn và phát huy những di sản ở thành Cổ Loa, vấn đề đặt ra là phải lựa chọn một khu tiêu biểu, các di tích tiêu biểu nhất của khu di tích Cổ Loa để quy hoạch, bảo tồn, phục hồi, nghiên cứu, giúp du khách trong và ngoài nước có thể nhận diện toàn bộ khu di tích.

Phải chăng đó chính là tầm nhìn cho Cổ Loa hôm nay!

Mặc dù có ý kiến cho rằng, mô hình Ban Quản lý Khu di tích Cổ Loa trong Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội sẽ không phát huy được những tiềm năng của Cổ Loa nhưng ông Hoàng Công Huy, Phó Trưởng ban phụ trách Ban Quản lý Khu di tích Cổ Loa khẳng định: “Mô hình hiện nay là phù hợp và không cần thay đổi”.

***

Ảnh: Hữu TiệpSớm nay, trời vẫn mây mù vần vũ nhưng không mưa sầm sập như sáng qua. Nghe xong bản tin về dịch Covid-19, anh Đồng Phú Bình, người làng Phương Trạch, xã Vĩnh Ngọc, Đông Anh, cẩn thận đeo khẩu trang rồi dắt chiếc xe máy cà tàng đi sang 18 Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội. Những viên gạch cổ phủ rêu phong đang chờ anh cọ rửa, lau chùi. Đã gần chục năm nay, anh gắn bó với công việc giản dị ấy ở Khu di tích Hoàng thành Thăng Long.

Từ đợt dịch Covid-19 hoành hành đến nay, anh Bình chỉ còn làm 10 ngày mỗi tháng. Công việc chính của anh là cọ rửa, lau chùi những viên gạch, hiện vật khảo cổ ở khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long hoặc phía đối diện 18 Hoàng Diệu. Mặc dù việc thưa hơn, lương thấp hơn nhưng anh vẫn cặm cụi.

Đối với anh, công việc này không chỉ là để mưu sinh…

Anh Bình kể: “Ngày bé, tôi vẫn cùng các bạn đạp xe qua bên Cổ Loa để chơi lễ hội vào những ngày Tết. Nhưng tôi thực sự không biết đến giá trị của di tích Cổ Loa. Mãi cho đến khi được thuê làm ở Hoàng thành, tiếp xúc với các hiện vật và được nghe các nhà khoa học giảng giải tôi dần mới hiểu được giá trị của những cổ vật”.

Giờ đây, mỗi ngày được đụng, chạm vào những di vật là một ngày vui đối với anh, nhất là những lúc nhìn thấy đoàn khách du lịch nước ngoài trầm trồ hoặc những đoàn học sinh đến đây tham quan. “Chắc tôi sẽ theo nghề này mãi thôi! Làm ruộng không vui, không thích bằng”, anh Bình tâm sự.

Trong lúc anh Bình vẫn đang cặm cụi với công việc của mình, đoàn cựu chiến binh xã Chu Phan, huyện Mê Linh, đi tham quan Hoàng thành Thăng Long. Ông Nguyễn Văn Đức – Phó Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam xã, đi cùng 29 hội viên, “kèm” hai đứa cháu nội, cho biết: “Mỗi một cổ vật là một số phận chứa đựng nhiều thông điệp từ ngàn xưa. Tôi dặn hai cháu nội lắng nghe, ghi nhớ để thêm hiểu về lịch sử cha ông”.Đoàn cựu chiến binh xã Chu Phan, huyện Mê Linh, tham quan Hoàng thành Thăng Long.

Chiều buông chầm chậm trên Hoàng thành. Bóng đoàn cựu chiến binh, ông Đức với hai đứa cháu nội khuất sau cánh cổng số 9 Hoàng Diệu. Anh Bình cũng thu dọn dụng cụ, đồ đạc để về với gia đình.

Hoàng thành trở lại với dáng vẻ trầm mặc, u tịch chôn giấu trong mình biết bao những biến cố, thăng trầm của lịch sử dân tộc.

Tiến sĩ Bùi Thị Thu Phương, Phó Trưởng phòng Nghiên cứu, sưu tầm di sản (Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội) tự hào: “Trong dòng chảy lịch sử chung của Thăng Long – Hà Nội, Hoàng thành Thăng Long là một địa điểm không thể bỏ qua của du khách khi đến Hà Nội”. Trong thời gian qua, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội đã có nhiều nỗ lực quảng bá hình ảnh khu di sản và nâng cao chất lượng phục vụ du khách. Nhiều nội dung hoàn thiện, nâng cấp điểm đến đã được Trung tâm triển khai và được du khách đánh giá cao…

Giá trị của Hoàng thành Thăng Long chính là những “tiếng nói từ lòng đất”. Đó là khu di tích khảo cổ học độc đáo, có nhiều tầng lớp văn hóa đan xen, chồng xếp, đã phát lộ hàng ngàn di vật hấp dẫn, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.

Sơ bộ kết quả khai quật thăm dò khu vực chính điện Kính Thiên năm 2019 đã cho thấy những “chắp mối”, những mảnh ghép của nhiều trăm năm trong dòng chảy hàng nghìn năm lịch sử. Theo PGS.TS Tống Trung Tín, các kết quả nghiên cứu đã đem lại thêm những nhận thức mới, những giá trị mới.

Chẳng hạn, thời Lý phát hiện di vật tượng rồng đất nung kích thước rất lớn (có phần lớn hơn tượng rồng ở khu 18 Hoàng Diệu) cho thấy, có thể có kiến trúc quy mô lớn, quan trọng thời Lý ở đây. Thời Trần các dấu tích kiến trúc ở đây có quy mô nhỏ. Hiện tượng dấu vết cháy rất nhiều (than tro) gợi đến việc sử sách chép về các cuộc chiến tranh vào cuối thời Trần thế kỷ XIV khiến cho kinh thành bị cháy nhiều lần thành tro bụi. Thời Lê sơ có hai dấu tích bó nền, một dấu tích kiến trúc có móng cột. Các dấu tích này phản ánh thời Lê sơ xây dựng ở đây nhiều công trình quan trọng (dấu tích đất nền màu gạch đỏ và dấu tích dải nền trang trí hoa chanh được gia cố rất cẩn thận)…

Giả thiết khoa học mới chỉ bước đầu, cần được kiểm chứng, song dù đi nữa những manh mối từ lòng đất cho thấy phần giá trị của Di sản thế giới khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long mà mỗi ngày sẽ một xuất lộ nhiều hơn.

Những mảnh ghép từ lòng đất, những chắp mối đó cũng là gợi mở cho chúng ta về việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy giá trị di sản.

Ngoảnh đi, ngoảnh lại, thoáng cái đã 10 năm kể từ năm 2010, người Hà Nội cũng như người dân cả nước cùng hướng về Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội để kỷ niệm 1.000 năm ngày Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long.

Trong bài hát “Người Hà Nội”, một Nguyễn Đình Thi nhạc sĩ đã viết: “Đây lắng hồn núi sông ngàn năm…”.

Nếu Hà Nội là nơi lắng hồn núi sông thì Vườn Chuối – nơi ghi dấu ấn về sự có mặt sớm nhất của người cổ trên địa bàn Hà Nội, thì Loa thành xưa, Cổ Loa nay, thì Hoàng thành Thăng Long chính là những nơi “lắng hồn” Hà Nội, nơi âm vang tiếng vọng tự ngàn xưa, nơi rì rầm kể với chúng ta hôm nay, con cháu mai sau chuyện ông cha ngàn thuở.

PGS.TS Nguyễn Văn Huy mong mỏi cân bằng được giữa gìn giữ, phát huy giá trị di sản với những nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Tiến sĩ Trịnh Hoàng Hiệp đã nhận định: “Mỗi cố đô đều có giá trị riêng. Việc tìm hiểu mối quan hệ giữa kinh đô Cổ Loa với kinh đô hình thành trước và sau nó như Văn Lang, Hoa Lư, Thăng Long sẽ khẳng định giá trị truyền thống, những nét văn hóa đặc biệt ở mỗi giai đoạn lịch sử”.

Những di chỉ, di tích như những mảnh ghép, định hình căn cước của một dân tộc. Có căn cước văn hóa, các thế hệ người Việt sau này biết mình là ai, từ đâu, đi qua những dặm trường lịch sử nào… Ở góc độ nào đó, nói như các nhà nghiên cứu, bảo tồn di sản văn hóa là một trong những cách thức trước tiên để phát triển kinh tế bền vững và để một dân tộc trường tồn.

Vì thế, bảo tồn và gắn với bảo tồn là để những di chỉ, di tích Vườn Chuối, Cổ Loa, Hoàng thành Thăng Long sống, phát huy cao nhất giá trị của nó trong đời sống hiện đại là câu chuyện cần thiết cho không chỉ hôm nay.

Cho đến lúc này, hội thảo đầu bờ về Di chỉ khảo cổ Vườn Chuối vẫn chưa “chốt” được lịch. Những người dân làng Lai Xá, những người quan tâm kết quả khảo cổ mới nhất đang trông mong từng ngày. Họ hy vọng rằng, những phát hiện có giá trị độc nhất vô nhị tại mộ táng và đồ tùy táng ở hố H1 sẽ góp thêm sở cứ cho việc bảo tồn di chỉ vô giá này đến muôn đời sau…


Bài viết: Đức Trường – Nguyên An
Video clip: Quang Thái
Kỹ thuật: Nguyễn Tuấn

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s