Nhạc cụ cổ truyền VN – Đàn Nhị/Cò

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Đàn Tam, mình giới thiệu đến các bạn Đàn Nhị/Cò hôm nay.

Đàn Nhị/Cò là nhạc cụ thuộc bộ dây có cung vĩ, do đàn có 2 dây nên gọi là Đàn Nhị (二). Đàn xuất hiện ở Việt Nam khoảng thế kỷ 10. Ngoài người Kinh, nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam cũng sử dụng rộng rãi nhạc cụ này như Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Giáy, H’Mông v.v.

“Theo tài liệu khảo cổ đã phát hiện ở chùa Vạn Phúc (Phật Tích – Thanh Sơn – Hà Bắc) có khắc chạm một dàn nhạc ở bệ đá kê chân cột chùa Phật Tích, với những nhạc cụ có xuất xứ từ ấn Độ và Trung Hoa. Dàn nhạc đó gồm 10 nhạc công ăn mặc giống như người Chăm và chơi các loại nhạc cụ trong đó có một nhạc cụ gần giống như Đàn Hồ 2 dây và là tiền thân của cây Đàn Nhị bây giờ.

“Căn cứ vào đó người ta đã ước đoán Đàn Nhị có thể du nhập vào Việt Nam theo con đường của người Chăm và cũng có thể du nhập theo con đường Trung Hoa tùy theo từng thời gian địa điểm khác nhau.” (Theo lịch sử âm nhạc của giáo sư Trần Văn Khê và Văn Thương).

Tuy phổ biến tên gọi “Đàn Nhị”, nhiều dân tộc tại Việt Nam còn gọi đàn bằng các tên khác nhau. Người Kinh gọi là “Líu” (hay “Nhị Líu” để phân biệt với “Nhị Chính”), người Mường gọi là “Cò Ke”, người miền Nam gọi là “Đờn Cò”. Hình dáng, kích cỡ và nguyên liệu làm Đàn Nhị cũng khác nhau đôi chút tùy theo tộc người sử dụng nó.

Đàn Nhị.
Đàn Nhị.

Loại Đàn Nhị thông dụng hiện nay có những bộ phận chính như sau:

1. Bát nhị (còn gọi là ống nhị): là bộ phận tăng âm (bầu vang) rỗng ruột, hình hoa muống, làm bằng gỗ cứng. Bát nhị có 2 đầu, đầu này bịt da rắn hay kỳ đà, còn đầu kia xòe ra không bịt gì cả. Ngựa đàn nằm ở khoảng giữa mặt da.

2. Dọc nhị (còn gọi là cần nhị, cán nhị): dáng thẳng đứng, đầu hơi ngả về phía sau, gốc cắm xuyên qua lưng bát nhị, gần phía mặt da.

3. Trục dây: trục trên và trục dưới đều gắn xuyên qua đầu dọc nhị nằm cùng hướng với bát nhị.

4. Dây nhị: Trước đây dây đàn được làm bằng sợi tơ se, ngày nay làm bằng nilon hoặc kim loại. Dây kim loại cho âm thanh chuẩn hơn nhưng không ngọt ngào bằng dây tơ hay dây nilon. Dây đàn chỉnh theo quãng 4 đúng, quãng 5 đúng, quãng 7 thứ… nhưng phổ biến nhất là quãng 5 đúng.

5. Cử nhị (hay Khuyết nhị): là một sợi dây tơ se neo 2 dây đàn vào gần sát dọc nhị, nơi dưới hai trục dây. Có khi cử nhị là một khung áo buộc gần sát dọc nhị, hai dây đàn xỏ qua hai lỗ khung này. Cử nhị là bộ phận để điều chỉnh cao độ âm thanh. Nếu kéo cử nhị xuống, 2 dây đàn sẽ ngắt quãng hơn, tạo ra âm thanh cao hơn. Nếu đẩy cử nhị lên khi đàn 2 dây sẽ phát ra âm thanh trầm hơn vì quãng dây dài hơn. Tuy nhiên để lên dây đàn các nghệ nhân còn vặn trục dây nữa.

6. Cung vĩ: làm bằng cành tre, cành lớp hay gỗ có mắc lông đuôi ngựa. Những lông đuôi ngựa nằm giữa hai dây đàn để kéo đẩy, cọ xát vào dây đàn tạo ra âm thanh. Do những lông đuôi ngựa kẹt hai dây đàn nên ta không thể tách rời cung vĩ khỏi thân đàn.

dannhi5

Đàn Nhị có âm vực rộng hơn 2 quãng tám, âm thanh trong sáng, rõ ràng, mềm mại gần với giọng hát cao (giọng kim). Muốn thay đổi âm sắc hoặc giảm độ vang các nghệ nhân dùng đầu gối trái bịt một phần miệng loa xòe của bát nhị (khi ngồi trên ghế kéo đàn) hay dùng ngón chân cái chạm vào da của bát nhị (khi ngồi trên phản kéo đàn, trên chiếu). Nhờ những cách này âm thanh sẽ xa vẳng, mơ hồ, tối tăm và lạnh lẽo diễn tả tâm trạng thầm kín, buồn phiền…

Đàn Nhị giữ vai trò chủ đạo trong Hát Xẩm, là thành viên trong nhạc phường bát âm, dàn nhã nhạc, ban nhạc chầu văn, tài tử và dàn nhạc tổng hợp. Ngày nay thỉnh thoảng nó xuất hiện cả trong dàn nhạc pop, rock hiện đại để tăng màu sắc trong cách phối âm.

Kỹ thuật đàn khá phong phú, bao gồm từ ngón vuốt, ngón nhấn, ngón láy, ngón chuyền đến cung võ liền, cung vĩ ngắt, cung vĩ rời và cung vĩ rung, v.v.

dannhi8

 

Nhị Chính

Còn có tên gọi khác là Nhị Một. Đây là một biến thể của Nhị Líu. Bát Nhị vẫn có hình dáng như Nhị Líu nhưng lớn hơn. Nhạc cụ này cũng có hai dây nhưng dây ngoài bằng thép, có âm cao. Dây trong bằng tơ có âm trầm. Vì không phải là cây đàn chủ yếu trong bộ dây của dàn nhạc dân tộc nên Nhị Chính thường dùng để đi bè cho giai điệu chính khi viết hòa thanh hoán vị. Cách định âm khi lên dây đàn của Nhị Chính giống như Nhị Líu.

dannhi_Tầm âm của Đàn Nhị

Dưới đây mình có các bài:

– ĐÀN NHỊ, nhạc cụ cung kèo của dân tộc Việt
– Ðàn Cò (Nhị)

Cùng với 31 clips độc tấu, hòa tấu Đàn Nhị/Cò do các nghệ nhân ưu tú khắp nơi trên thế giới diễn tấu để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

dannhi3

ĐÀN NHỊ, nhạc cụ cung kèo của dân tộc Việt

(Theo Giai điệu xanh)

Đàn nhị có hai dây, thuộc bộ dây chi cung kéo. Ngoài tên gọi đàn nhị còn có các tên gọi là đàn cò líu, cò lòn, nhị líu, nhị lòn.

Đàn nhị có hai loại là đàn làm bằng tre và đàn làm bằng gỗ

Đàn tre: Thân đàn (cần đàn) được làm bằng ống trúc hay cật của cây tre già dài khoảng 75,5 cm, loa đàn làm bằng gáo dừa (một nửa quả dừa khô), mặt đàn bịt bằng da trăn hay da kỳ đà, trục lên dây bằng tre, dây đàn bằng tơ se hay nilon, cung kéo bằng tre được uốn cong.

Đàn gỗ: Thân đàn (cần đàn) làm bằng gỗ cứng và chắc tiện theo hình khối tròn hay khối lục giác, dài khoảng 75,5 cm, có thể để trơn hay khảm trai.

– Bầu đàn (bát đàn) là hộp cộng hưởng có hình hoa rau muống dài khoảng 13,8 cm được làm bằng gỗ cứng.

– Mặt đàn có đường kính khoảng 6,8 cm được bịt bằng da trăn hay da kỳ đà. Trên mặt đàn có ngựa đàn làm bằng tre hay gỗ đặt ở giữa mặt đàn.

– Cần đàn (thân đàn) làm bằng gỗ cứng có thể để trơn hay khảm trai, phía đầu hình chữ nhật được uốn ngửa về phía sau. Trên cần đàn có khuyết đàn (cữ đàn) được làm từ sợi tơ se buộc trùm lên hai dây và cần đàn, kéo sát dây vào cần đàn, thường ở vị trí 1/3 tính từ đầu đàn. Khuyết đàn có thể di chuyển để tạo được âm thanh như mong muốn, nếu muốn âm thanh cao đẩy khuyết đàn gần về phía bầu đàn, ngược lại nếu muốn âm thanh trầm đẩy khuyết đàn gần về phía đầu đàn.

– Dây đàn được làm bằng sợi tơ se, nilon hay kim loại. Tuy nhiên ngày nay thường dùng dây kim loại.

– Trục lên dây làm bằng gỗ cứng cắm xuyên qua đầu cần đàn.

– Cung vĩ làm bằng gỗ được uốn cong theo hình cánh cung dài khoảng 74 cm được mắc túm lông đuôi ngựa và lồng vào giữa hai dây.

– Đàn nhị có âm vực ba quãng 8

– Tư thế diễn tấu: có thể ngồi xếp chân trên chiếu hay ngồi trên ghế hoặc đứng kéo đàn

Màu âm Ðàn Nhị thanh, trong, rõ ràng, mềm mại gần giống như giọng hát cao. Muốn thay đổi màu âm và làm giảm độ vang, người ta dùng đầu gối bên trái bịt một phần miệng loe của bát nhị (trong tư thế ngồi trên ghế kéo Nhị) hoặc dùng ngón chân cái chạm vào mặt da ở bát Nhị (nếu ngồi trên sàn, chiếu). Ngày nay có thể sử dụng bộ hãm tiếng (sourdine) ở Ðàn Violon. Bằng cách hãm tiếng như trên, màu âm có thể thay đổi sự biểu hiện tình cảm sâu kín, xa lắng, sự mơ hồ, huyền bí… Nếu dùng bộ hãm tiếng cần có thời gian vài ba phách nghỉ và ghi chú trên đoạn nhạc.

Tầm âm – khoảng âm: Tầm âm của Ðàn Nhị rộng hơn hai quãng tám. Trong trường hợp độc tấu, có thể đánh tới những âm cao (nếu là Ðàn nhị tốt) nhưng trong dàn nhạc hòa tấu, chỉ nên dùng những âm trong vòng hai quãng tám tính từ âm thấp nhất: âm thanh tốt diễn tấu ít khó khăn. Tầm âm của Ðàn Nhị có thể chia ra 4 khoảng âm với đặc tính như sau:

– Khoảng âm dưới và khoảng âm giữa: tiếng đẹp, rõ ràng, đều đặn.

– Khoảng âm cao và khoảng âm cao nhất: tiếng đàn trong sáng, những âm cao quá tiếng đàn đanh, gay gắt, có thể sạn tiếng. Diễn tấu những âm này trong nét nhạc nhanh tốt hơn để ngân dài hay đánh chậm và chỉ nên dùng trong độc tấu.

Kỹ thuật diễn tấu

Âm thanh Ðàn Nhị rất đẹp, gần giống như tiếng người do những ngón vuốt, ngón nhấn, những thủ pháp cung vĩ liền, cung vĩ ngắt… tạo nên. Do thay đổi sắc thái, đo mạnh nhẹ tương đối dễ dàng nên Ðàn Nhị có nhiều khả năng diễn tả các mặt tình cảm con người, tình cảm trữ tình, sâu lắng, hoặc sinh động, nhiệt tình… Ðàn Nhị còn có thể mô phỏng tiếng gió rít, tiếng chim hót….

Kỹ thuật tay phải

Kỹ thuật tay phải chủ yếu là sử dụng cung vĩ, cung vĩ ở Ðàn Nhị có tầm quan trọng đặc biệt: điều khiển khéo léo sẽ làm cho tiếng đàn mềm mại, ngọt ngào hoặc khoẻ mạnh, chắc chắn. Hướng chuyển động của cung vĩ là đẩy từ phải sang trái và kéo từ trái sang phải.

Cách ghi: chữ V hoa trên nốt nhạc: cung đẩy (đẩy từ đầu đến gốc cung vĩ) âm thanh không được mạnh bằng kéo cung vĩ, do đó muốn có âm mạnh, không nên dùng cung đẩy. Chữ U trên nốt nhạc: cung kéo (kéo từ gốc đến đầu cung vĩ).

Tốc độ kéo cung vĩ nhanh, âm thanh vang lớn hơn kéo, đẩy cung vĩ chậm. Miết mạnh vĩ vào dây âm phát ra khoẻ, chắc hơn miết nhẹ. Cung vĩ có thể chia làm 3 phần : Phần đầu vĩ tạo ra âm thanh bay, nhỏ nhẹ (ở bản nhạc ghi bằng chữ “đầu vĩ”). Phần gốc vĩ tạo ra âm thanh mạnh, khoẻ, chắc đôi lúc hơi thô (ở bản nhạc ghi bằng chữ “gốc vĩ”). Ðối với một số khoảng cao trở lên, không nên dùng cung vĩ thể hiện độ mạnh (f) mà chỉ nên mạnh vừa (mf) trở xuống, có những âm chỉ có thể đạt được hơi nhỏ (mp) hoặc nhỏ (p). Ngoài ra do vĩ đặt trong hai dây đàn nên khi chạy nhanh nhiều âm liên tiếp giữa hai dây (từ dây nọ nhảy sang dây kia nhiều lần) sẽ gây khó khăn cho nghệ sĩ, người viết nhạc cần chú ý.

Kỹ thuật ở Ðàn Nhị có 3 loại: Cung vĩ rời, Cung vĩ liền, Cung vĩ ngắt.

Cung vĩ rời: Là cách dùng mỗi đường cung vĩ (kéo hay đẩy) để tấu một âm (độ dài âm đó không cố định) vĩ không tách khỏi dây đàn. Cung vĩ rời gồm có hai kiểu

Cung vĩ rời lớn: Là cách kéo hay đẩy cả cung vĩ (từ gốc đến ngọn hay từ ngọn đến gốc) để diễn tấu những âm mạnh, đầy đặn, nhiệt tình, rắn rỏi, dứt khoát. Ðánh cung vĩ rời lớn ở Ðàn Nhị khó dùng tất cả một hướng cung để tấu các âm liền nhau (tức là khó dùng liên tiếp nhiều cung đẩy cả, hay nhiều cung kéo cả) mà phải phối hợp với cung vĩ kéo, cung vĩ đẩy xen kẽ nhau, vì vĩ bị kẹp giữa hai dây đàn, khó nhấc nhanh như cung vĩ của Ðàn Violon.

Cung vĩ rời nhỏ: Là cách kéo hay đẩy 1/2 hay 1/3 cung vĩ một âm. Ðể diễn tấu những âm diễn tả sự linh hoạt nhẹ nhàng thường dùng phần đầu vĩ và những âm mạnh biểu thị tình cảm khoẻ, chắc, thường dùng gốc vĩ.

Cung vĩ liền: là cách dùng mỗi đường cung vĩ kéo hay đẩy để tấu nhiều âm. Sử dụng cung vĩ liền, âm thanh phát ra luyến với nhau, do đó còn gọi là cung luyến. Cung vĩ liền ở Ðàn Nhị bị hạn chế bởi cung vĩ ngắn, nên không thể tấu được quá nhiều âm trên một đường kéo hay đẩy. Tuy vậy nếu tấu những âm nhẹ có thể còn được nhiều âm hơn là tấu những âm mạnh. Trong diễn tấu cổ truyền, nghệ sĩ ít chú ý đến sự ưu thế của cung vĩ liền, thông thường chỉ sử dụng từ 2 đến 4 âm (ít thấy 6 âm) trong một đường cung vĩ. Ngày nay các nghệ sĩ đã sử dụng cung vĩ liền với số âm nhiều hơn trong một cung vĩ. Ký hiệu để ghi cung vĩ liền là dấu luyến đặt trên các nốt nhạc. Khi tấu hết các nốt nhạc đặt trong dấu luyến, đường cung vĩ mới đổi hướng. Trong khi cung vĩ rời biểu hiện những âm thanh khoẻ, dứt khoát, nhẹ nhàng…

Cung vĩ ngắt: Trước kia ở Ðàn Nhị ít đánh các loại cung vĩ ngắt. Gần đây các loại cung vĩ ngắt có nhiều kết quả tốt. Ðánh những âm ngắt, ngắn với nhiều kiểu khác nhau như:

Cung vĩ ngắt rời: Là lối đánh ngắt từng âm, mỗi âm do một đường cung vĩ hay kéo ngắn gọn, vĩ không nhấc khỏi dây đàn. Có thể dùng phần đầu, phần giữa hay phần cuối cùng vĩ để đánh ngắt rời, nhưng thường là dùng phần đầu để đánh hơn. Âm thanh cung vĩ ngắt rời phát ra dứt khoát, gọn, nhanh. Thực tế sắc thái của những âm thanh này lại dịu, nhẹ hơn là mạnh mẽ, thường dùng trong nhịp độ nhanh vừa trở lên. Ký hiệu dấu chỉ cung vĩ ngắt rời là một chấm nhỏ ghi trên hay dưới nốt nhạc.

Cung vĩ ngắt liền: Ðánh ngắt âm thanh nhưng các âm tiến hành trong một đường cung vĩ. Mỗi âm chiếm một đoạn ngắn của cung vĩ, thường là từ phần đầu đến giữa. Âm thanh phát ra ngắn gọn nhưng không rời nhau. Kỹ thuật này thường dùng cho những âm có độ dài nhỏ trong nhịp độ từ vừa đến rất nhanh. Diễn tả được tâm trạng lâng lâng nhưng tinh tế, thoải mái nhưng không phóng túng. Ký hiệu cung vĩ ngắt liền được ghi bằng dấu chấm nhỏ đặt trên hay dưới nốt nhạc kèm theo dấu luyến bao chùm.

Cung vĩ nhấn liền: Ðánh như cung vĩ ngắt liền, các âm tiến hành trong một đường cung vĩ như đánh miết vĩ, nhấn từng âm và các âm vẫn luyến với nhau. Biểu hiện trạng thái đấu tranh gay gắt, có thể diễn tả sự say đắm, nặng nề. Nhịp độ bản nhạc thường là vừa và chậm. Ký hiệu cung nhấn liền ta dùng những gạch ngang đặt trên nốt nhạc và gạch đó nằm trong một dấu luyến.

Cung vĩ nẩy rời: Ðánh ngắt từng âm, mỗi âm một đường cung vĩ (như đánh cung vĩ ngắt rời) nhưng sau mỗi âm lại nhấc vĩ một lần (ở nhịp độ nhanh, cung vĩ nhảy trên dây đàn).

Cung vĩ nẩy liền: Ðánh ngắt từng âm, nhiều âm chung một đường cung vĩ (như đánh cung ngắt liền) nhưng sau mỗi âm lại nhấc vĩ một lần. Nhịp độ bản nhạc thường là nhanh (cung vĩ nhảy liên tục trên dây đàn).

Hiệu qủa của các loại cung vĩ nẩy làm cho ta thấy những âm thanh vừa gọn, vừa nẩy thể hiện được không khí vui tươi, sáng sủa, nhẹ nhàng.

Cung vĩ rung: Cũng là một thứ cung vĩ rời nhỏ tiến hành với tốc độ rất nhanh trên một âm nào đó, dùng cổ tay điều khiển cung vĩ (thường là đầu cung) kéo, đẩy liên tiếp thật nhanh để phát ra nhiều lần một âm nào đó. Cung vĩ rung nghe như tiếng vê ở các đàn gảy dây. Thực hiện cung vĩ rung ở các nốt nhạc kéo dài hoặc ở các nốt nhạc ngân ngắn, ở các nốt nhạc khẩn trương, cao trào hay làm nền trong hoà tấu đều được vì nó diễn tả nhiều tình cảm, nhiều hình tượng khác nhau. Ký hiệu đặt 3 gạch chéo ở đuôi nốt, nếu là nốt không có đuôi thì đặt 3 gạch chéo ở dưới.

Kỹ thuật tay trái: Trước kia nghệ nhân thường dùng lòng đốt ngón tay trái để bấm vào dây đàn, nay hầu hết các nghệ sĩ đều bấm bằng đầu ngón tay. Bấm bằng đầu ngón tay, âm thanh chuẩn xác hơn, ngón bấm nhanh nhẹn, linh hoạt hơn, nhất là khi bấm những cung phím trong các thế tay phía dưới. Kỹ thuật tay trái bao gồm các thế tay và các ngón bấm dây, bật dây.

Thế tay: các nghệ sĩ chuyển thế tay bằng cách thay đổi cữ tay theo một qui tắc riêng, ít chạy các âm cao và chưa tận dụng triệt để khả năng các ngón tay. Ngày nay ở Ðàn Nhị có thể dùng đến 9 thế tay. Ngoài ra trong độc tấu, đôi khi sử dụng đến thế 10, thế 11… những thế tay này chỉ nên đánh ở dây cao. Ký hiệu chữ số các ngón tay : số O chỉ dây buông, số 1 chỉ ngón giữa, số 3 chỉ ngón áp út, số 4 chỉ ngón út.

Các ngón bấm: ngoài mục đích bấm độ cao của âm thanh, các kỹ thuật tay trái còn góp phần quan trọng trong việc thể hiện tính chất của âm thanh. Ðiều này gắn liền ở mức độ nhiều hay ít làm cho nét nhạc mang tính Dân tộc đậm đà hay mờ nhạt.

Trong bản nhạc, nếu ta không chú ý ghi đầy đủ các ký hiệu cho kỹ thuật tay trái, tức là tay trái chỉ bấm những nốt nhạc đơn thuần, lập tức những giai điệu sẽ giảm đi rất nhiều tính chất phong phú của Ðàn Nhị làm ảnh hưởng không ít đến tính chất Dân tộc trong nội dung biểu hiện. Các ngón bấm chủ yếu của Ðàn Nhị.

Ngón rung: làm tiếng đàn ngân vang mà không khô, cứng. Ngón rung là ngón tay bấm, nhấn nhẹ liên tiếp ở một âm nào đó khiến âm thanh phát ra như làn sóng nhỏ. Ngón rung sử dụng ở hầu hết các âm có độ ngân dài. Người ta có thể rung cả ở dây buông bằng cách dùng ngón tay cái nhấn nhẹ liên tiếp vào cái khuyết (cái cữ của dây đàn), cần chú ý không để cái khuyết tụt xuống sẽ ảnh hưởng đến độ cao của dây đàn.

Ngón vuốt: là cách di ngón trên dây đàn từ dưới lên trên hay từ trên xuống dưới. Âm vuốt làm tiếng đàn thêm mềm mại, uyển chuyển gần giống giọng hát, giọng nói dân tộc. Có hai lối vuốt

– Vuốt để chuyển thế tay, lối vuốt này nên tiến hành nhanh và chỉ nên chạm ngón rất nhẹ trên dây, hết sức tránh âm thanh nghe phát ra nghe nhõng nhẽo. Vuốt để chuyển thế tay không cần ghi ký hiệu mà chỉ cần ghi thế tay và ngón bấm.

– Vuốt làm âm thanh dịu ngọt, mềm mại, ký hiệu ngón vuốt như gạch nối giữa các nốt nhạc, đặt trước hoặc sau một nốt nhạc tùy theo từng trường hợp.

Ngón nhấn: ngón nhấn làm âm thanh cao lên, bằng cách nhấn vào cung phím nào đó rồi nhấn từ dây căng ra, làm âm thanh cao lên thường là một cung.

Ngón láy: (còn gọi là ngón vỗ) trong khi một ngón tay (thường là ngón 1) bấm vào một cung phím nào đó, ngón 2 (hay ngón 3), đập vào một cung phím có âm cao liền bậc. Ngón láy diễn tả tình cảm lưu luyến, ngậm ngùi.

Ngón nhấn láy: (còn gọi là ngón nhún) là cách bấm vào một cung phím nào đó rồi nhấn nhanh tạo ra sự căng, trùng dây đàn liên tiếp, nghe ra nhiều lần hai âm cao thấp liền bậc trong phạm vi độ ngân của nốt nhạc. Âm nhấn láy nghe tương tự âm láy về độ cao nhưng tính chất âm thanh luyến mềm, dịu và đều đặn hơn. Ký hiệu chữ M hoa có vòng cung, đặt trên nốt nhạc.

Ðối với trường hợp ngón nhấn láy cần đánh vào một cung cách xa, người soạn nhạc có thể ghi thêm nốt nhạc nhỏ gạch chéo. Dùng nhiều ngón láy liên tiếp có thể diễn tả sự xúc động cao, bình thường ngón nhấn láy làm tiếng đàn mềm mại, tình tứ, duyên dáng.

Ngón láy rền (còn gọi là đổ hột): đây là kiểu láy nhưng láy nhanh hơn để âm chính và âm cao liền bậc (hay cách bậc) phát ra như làn sóng rền. Âm chính cũng có thể là từ âm của dây buông. Ký hiệu chữ “trille” trên nốt nhạc viết tắt là “tr” đi liền với đoạn sóng ngắn. Ngón láy rền có giá trị bằng độ dài của nốt nhạc (tr).

Ngón láy rền có nhiều sức diễn tả các mặt tình cảm, với độ nhanh nhỏ, đó là những tiếng lòng thổn thức, nhớ thương, hoặc một cảnh tượng tiêu điều buồn bã… Với tốc độ nhanh, lớn và dùng liên tiếp nhiều lần, ngón láy rền lôi cuốn người nghe, có thể biểu hiện một tình cảm sôi nổi, thiết tha hoặc một không khí khẩn trương, thúc bách hoặc một quang cảnh thiên nhiên vui tươi có ánh mặt trời rực rỡ.

Bật dây: làm cho hiệu quả màu sắc ở Ðàn Nhị thêm phong phú. Do Ðàn Nhị không có bàn phím trơn, chỉ nên bật âm ở dây buông, cụ thể là hai âm Rê, La. Bật những âm khác khó và nghe không rõ. Có thể bật từng dây, có thể bật một lúc cả hai dây. Muốn bật dây, tay phải nghệ sĩ giữ cung vĩ không cho chạm vào dây, còn ngón tay trái bật dây. Có thể kết hợp tay phải vẫn kéo cung vĩ trên một dây buông, tay trái bật trên dây buông kia (thường là bật dây La, kéo dây Rê dễ hơn). Ký hiệu âm bật dây được ghi bằng dấu cộng trên hay dưới nốt nhạc. Nếu bật cả hai dây nên ghi cả 2 nốt nhạc và chữ pizz phía trên hay dưới hoặc hai dấu “+” cả trên cả dưới. Chữ Pizz có thể còn có gía trị trong cả một đoạn nhạc bật dây cho tới khi có chữ arco (kéo cung vĩ), trường hợp này ít gặp. Nếu kéo một dây, bật một dây, cần viết tách hai bè, những nốt bật dây ghi dấu “+” những nốt không bật dây để bình thường.

Vị trí Ðàn Nhị trong các Dàn nhạc

Đàn Nhị tham gia nhiều tổ chức Dàn nhạc như Phường Bát âm, Dàn Nhã nhạc Ban nhạc Tài Tử, Dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp. Các Dàn nhạc Ca kịch Dân tộc như Tuồng, Chèo, Cải Lương… Ðàn Nhị có thể độc tấu, song tấu, hoà tấu… và đã được công nhận là nhạc khí có tác dụng quan trọng trong dàn nhạc, đặc biệt trong Dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp.

Nghệ sĩ ưu tú Huy Diệu (Nhà hát Chèo Việt Nam) diễn tấu Đàn Nhị.
Nghệ sĩ ưu tú Huy Diệu (Nhà hát Chèo Việt Nam) diễn tấu Đàn Nhị.

Ðàn Cò (Nhị)

1. Giới thiệu sơ lược:

Đàn Cò (còn gọi là Ðàn Nhị) là nhạc khí dây kéo (bằng cung vĩ) có ở Việt Nam hàng ngàn năm nay. Ðàn Cò(Nhị) là nhạc khí phổ biến của Dân tộc Việt và nhiều Dân tộc khác như Dân tộc Mường (Cò ke), Tày (Cửa), Thái (Xixơló), GiêTriêng (Ong eng), Khmer(T’rôchéi) … Ở mỗi dân tộc Ðàn Cò(Nhị) được gọi bằng các tên khác và hình thức, kích thước, chất liệu cũng có thay đổi chút ít.

2. Xếp loại:

Đàn Cò (Nhị) là nhạc khí dây kéo (cung vĩ) ở một số nước Châu Á cũng có, Ðàn Cò (Nhị) nhập vào Việt Nam và trở thành đàn Việt Nam.

3. Hình thức cấu tạo:

a)- Bầu cộng hưởng: là bầu vang, hình hoa muống rỗng lòng, làm bằng gỗ cứng, dài khoảng 13,8cm, 1 đầu bịt da trăn hay da Kỳ đà. Ðường kính vòng ngoài khoảng 6,8cm, chỗ uốn cong của bầu có chu vi khoảng 13,4cm.

b)- Dọc Nhị (cần đàn): làm bằng gỗ cứng, gụ hay trắc để có sức chịu khi lên dây, cần đàn thân tròn hoặc vuông (15mmx15mm) chiều dài khoảng 75,5cm, phần đầu giống hình cổ cò, phía dưới cần đàn xuyên thủng bầu cộng hưởng khoảng 2cm về phía mặt da.

c)- Trục đàn: dùng để lên dây còn gọi là trục dây, cả hai trục đều cắm xuyên qua đầu cần đàn, nằm theo hướng của bầu cộng hưởng. Trục đàn dài khoảng 14cm hình gỗ tròn (một đầu lớn, một đầu nhỏ) trục được gọt thành những múi hình lục lăng để lên dây, có khi được chạm bằng xương hay xà cừ.

d)- Ngựa đàn: giống như phím Ðàn Nguyệt nhưng nhỏ hơn, làm bằng tre hay gỗ dài khoảng 1cm, cao khoảng 0,7cm và dày khoảng 0,4cm, ngựa đàn đặt trên khoảng giữa mặt da.

e)- Dây đàn: có 2 dây nên còn gọi là Nhị, trước kia làm bằng sợi tơ xe, ngày nay hay dùng dây nylông nhưng tốt nhất là dây kim khí vì dây kim khí tiếng đàn bảo đảm chuẩn xác tuy nhiên tiếng đàn hơi kém mềm mại nhưng bảo đảm chuẩn xác âm thanh.

Ví dụ (222-1)

dannhi11

f)- Khuyết đàn (nơ đàn): còn gọi là “cữ đàn” là một sợi tơ xe néo 2 dây đàn vào gần sát cần đàn ở đoạn phía dưới các trục dây. Có người dùng khuy nút áo, xỏ 2 dây đàn vào 2 lỗ khuy rồi buộc khuy vào gần sát cần đàn làm cái khuyết đàn. Tác dụng của bộ phận này là để điều chỉnh độ cao thấp của âm thanh của đàn. Khi đưa khuyết đàn (nơ đàn) xuống làm ngắn quãng dây phát âm (do đó dây đàn có âm thanh cao) Khi đẩy nơ đàn lên, làm dài quãng phát âm (do đó dây đàn có âm thanh trầm).

g)- Cung vĩ (Archet): làm bằng tre hay bằng gỗ, có mắc lông đuôi ngựa, cung vĩ uốn cong hình cánh cung, tương xứng với cần đàn dài khoảng 74,2cm, được nằm giữa hai dây đàn (không lấy cung vĩ ra ngoài được). Khi đàn, cọ sát vào dây và kéo, đẩy để phát ra âm thanh.

Vị trí nốt trên dọc (cần đàn):

Ðàn Cò (Nhị) cổ truyền lên dây rất linh động, hai dây có khi theo quãng 4 đúng, quãng 5 đúng, quãng 7 thứ nhưng phổ biến nhất là cách lên dây theo quãng 5 đúng.

Ví dụ:

Bài Bắc: (tính chất vui) hai dây tương ứng với Sol 1- Rê2 (g1-d2)

Bài Nam: (tính chất buồn) hai dây tương ứng với Fa 1- Ðô2 (f1-c2)

Nhạc Chèo: hai dây tương ứng với Ðô1- Sol 1 (c1-g1)

Hiện nay Ðàn Nhị (Cò) lên dây tương ứng với hai âm Rê1-La1 (d1-a1) thuận lợi cho diễn tấu, độ căng thích hợp và màu âm đẹp.

dannhi12

4. Màu âm, Tầm âm:

Màu âm Ðàn Cò (Nhị) thanh, trong, rõ ràng, mềm mại gần giống như giọng hát cao. Muốn thay đổi màu âm và làm giảm độ vang, người ta dùng đầu gối bên trái bịt một phần miệng loe của bát nhị (trong tư thế ngồi trên ghế kéo Nhị) hoặc dùng ngón chân cái chạm vào mặt da ở bát Nhị (nếu ngồi trên sàn chiếu). Ngày nay có thể sử dụng bộ hãm tiếng (sourdine) ở Ðàn Violon. Bằng cách hãm tiếng như trên, màu âm có thể thay đổi sự biểu hiện tình cảm sâu kín, xa lắng, sự mơ hồ, huyền bí… Nếu dùng bộ hãm tiếng cần có thời gian vài ba phách nghỉ và ghi chú trên đoạn nhạc.

Tầm âm – khoảng âm: Tầm âm của Ðàn Cò (Nhị) rộng hơn hai quãng tám. Trong trường hợp độc tấu, có thể đánh tới những âm cao (nếu là Ðàn Cò tốt) nhưng trong dàn nhạc hòa tấu, chỉ nên dùng những âm trong vòng hai quãng tám tính từ âm thấp nhất: âm thanh tốt diễn tấu ít khó khăn. Tầm âm của Ðàn Cò (Nhị) có thể chia ra 4 khoảng âm với đặc tính như sau: Khoảng âm dưới và khoảng âm giữa: tiếng đẹp, rõ ràng, đều đặn. Khoảng âm cao và khoảng âm cao nhất: tiếng đàn trong sáng, những âm cao quá tiếng đàn đanh, gay gắt, có thể sạn tiếng. Diễn tấu những âm này trong nét nhạc nhanh tốt hơn để ngân dài hay đánh chậm và chỉ nên dùng trong độc tấu.

Ví dụ: (224-2)

dannhi13

Ví dụ: (225-16)

dannhi14

Ví dụ: (226-10)

dannhi15

Ví dụ: (227-4)

dannhi16

Ví dụ: (228-7)

dannhi17)

Ví dụ: (229-13)

dannhi18

Ví dụ (223-29) Bài Trung thu dạ khúc

dannhi19

dannhi20

Tư thế đàn: có 3 tư thế khi biểu diễn:

Tư thế ngồi: Hai ống chân dựng thẳng, úp hai bàn chân xuống đất, bầu cộng hưởng để ngang, mặt bầu cộng hưởng để lọt xuống giữa hai đùi khoảng hai phần mười, phần còn lại nằm phía trên đùi, lỗ loa bầu cộng hưởng phải để hở: khi cần tiếng nhỏ thì kẹp đùi chân phải vào dây đàn dưới con ngựa.

dannhi21

Tư thế ngồi giường ván: Ngồi xếp bàn tròn, bàn chân bên phải để ngữa, ống chân bên trái đè lên giữa bầu cộng hưởng, cần đàn để thẳng, bầu cộng hưởng để ngang, mặt bịt da của đàn để lên bàn chân về phía ngón chân, ngón chân cái để sát dưới con ngựa để điều khiển tiếng: bằng cách ấn nhẹ ngón chân vào con ngựa.

Tư thế đứng: bầu cộng hưởng đàn được tì ngang thắt lưng.

5. Kỹ thuật diễn tấu:

Âm thanh Ðàn Cò (Nhị) rất đẹp, gần giống như tiếng người do những ngón vuốt, ngón nhấn, những thủ pháp cung vĩ liền, cung vĩ ngắt,… tạo nên. Do thay đổi sắc thái, đo mạnh nhẹ tương đối dễ dàng nên Ðàn Cò (Nhị) có nhiều khả năng diễn tả các mặt tình cảm con người, tình cảm trữ tình, sâu lắng, hoặc sinh động, nhiệt tình… Ðàn Cò (Nhị) còn có thể mô phỏng tiếng gió rít, tiếng chim hót….

Kỹ thuật tay phải: Kỹ thuật tay phải chủ yếu là sử dụng cung vĩ, cung vĩ ở Ðàn Cò (Nhị) có tầm quan trọng đặc biệt: điều khiển khéo léo sẽ làm cho tiếng đàn mềm mại, ngọt ngào hoặc khoẻ mạnh, chắc chắn. Hướng chuyển động của cung vĩ là đẩy từ phải sang trái và kéo từ trái sang phải.

Cách ghi: chữ V hoa trên nốt nhạc: cung đẩy (đẩy từ đầu đến gốc cung vĩ) âm thanh không được mạnh bằng kéo cung vĩ, do đó muốn có âm mạnh, không nên dùng cung đẩy. Chữ II trên nốt nhạc: cung kéo (kéo từ gốc đến đầu cung vĩ)

Tốc độ kéo cung vĩ nhanh, âm thanh vang lớn hơn kéo, đẩy cung vĩ chậm. Miết mạnh vĩ vào dây âm phát ra khoẻ, chắc hơn miết nhẹ. Cung vĩ có thể chia làm 3 phần: Phần đầu vĩ tạo ra âm thanh bay, nhỏ nhẹ (ở bản nhạc ghi bằng chữ “đầu vĩ”)

Phần gốc vĩ tạo ra âm thanh mạnh, khoẻ, chắc đôi lúc hơi thô (ở bản nhạc ghi bằng chữ “gốc vĩ”). Ðối với một số khoảng cao trở lên, không nên dùng cung vĩ thể hiện độ mạnh (f) mà chỉ nên mạnh vừa (mf) trở xuống, có những âm chỉ có thể đạt được hơi nhỏ (mp) hoặc nhỏ (p). Ngoài ra do vĩ đặt trong hai dây đàn nên khi chạy nhanh nhiều âm liên tiếp giữa hai dây (từ dây nọ nhảy sang dây kia nhiều lần) sẽ gây khó khăn cho nghệ nhân, người viết nhạc cần chú ý. Các loại kỹ thuật ở Ðàn Cò (Nhị) có 3 loại:

Cung vĩ rời, Cung vĩ liền, Cung vĩ ngắt.

I. Cung vĩ rời:

Là cách dùng mỗi đường cung vĩ (kéo hay đẩy) để tấu một âm (độ dài âm đó không cố định) vĩ không tách khỏi dây đàn. Cung vĩ rời gồm có hai kiểu:

Ia). Cung vĩ rời lớn:
Là cách kéo hay đẩy cả cung vĩ (từ gốc đến ngọn hay từ ngọn đến gốc) để diễn tấu những âm mạnh, đầy đặn, nhiệt tình, rắn rỏi, dứt khoát. Ðánh cung vĩ rời lớn ở Ðàn Cò (Nhị) khó dùng tất cả một hướng cung để tấu các âm liền nhau (tức là khó dùng liên tiếp nhiều cung đẩy cả, hay nhiều cung kéo cả) mà phải phối hợp với cung vĩ kéo, cung vĩ đẩy xen kẽ nhau, vì vĩ bị kẹp giữa hai dây đàn, khó nhấc nhanh như cung vĩ của Ðàn Violon.

Ib. Cung vĩ rời nhỏ:
Là cách kéo hay đẩy 1/2 hay 1/3 cung vĩ một âm. Ðể diễn tấu những âm bay diễn tả sự linh hoạt, nhẹ nhàng thường dùng phần đầu vĩ và những âm mạnh biểu thị tình cảm khoẻ, chắc, thường dùng gốc vĩ.

II. Cung vĩ liền:

Là cách dùng mỗi đường cung vĩ kéo hay đẩy để tấu nhiều âm. Sử dụng cung vĩ liền, âm thanh phát ra luyến với nhau, do đó còn gọi là cung luyến. Cung vĩ liền ở Ðàn Cò (Nhị) bị hạn chế bởi cung vĩ ngắn, nên không thể tấu được quá nhiều âm trên một đường kéo hay đẩy. Tuy vậy nếu tấu những âm nhẹ có thể còn được nhiều âm hơn là tấu những âm mạnh. Trong diễn tấu cổ truyền, nghệ nhân ít chú ý đến sự ưu thế của cung vĩ liền, thông thường chỉ sử dụng từ 2 đến 4 âm (ít thấy 6 âm) trong một đường cung vĩ. Ngày nay các nghệ nhân đã sử dụng cung vĩ liền với số âm nhiều hơn trong một cung vĩ.

Ký hiệu để ghi cung vĩ liền là dấu luyến đặt trên các nốt nhạc. Khi tấu hết các nốt nhạc đặt trong dấu luyến, đường cung vĩ mới đổi hướng. Trong khi cung vĩ rời biểu hiện những âm thanh khoẻ, dứt khoát, nhẹ nhàng, tình cảm chan chứa, triền miên, có khi bay bổng phơi phới…

III. Cung vĩ ngắt:

Trước kia ở Ðàn Cò (Nhị) ít đánh các loại cung vĩ ngắt. Gần đây các loại cung vĩ ngắt có nhiều kết quả tốt. Ðánh những âm ngắt, ngắn với nhiều kiểu khác nhau như:

IIIa. Cung vĩ ngắt rời:
Là lối đánh ngắt từng âm, mỗi âm do một đường cung vĩ hay kéo ngắn gọn, vĩ không nhấc khỏi dây đàn. Có thể dùng phần đầu, phần giữa hay phần cuối cùng vĩ để đánh ngắt rời, nhưng thường là dùng phần đầu để đánh hơn. Âm thanh cung vĩ ngắt rời phát ra dứt khoát, gọn, nhanh. Thực tế sắc thái của những âm thanh này lại dịu, nhẹ hơn là mạnh mẽ, thường dùng trong nhịp độ nhanh vừa trở lên. Ký hiệu dấu chỉ cung vĩ ngắt rời là một chấm nhỏ ghi trên hay dưới nốt nhạc.

IIIb. Cung vĩ ngắt liền:
Ðánh ngắt âm thanh nhưng các âm tiến hành trong một đường cung vĩ. Mỗi âm chiếm một đoạn ngắn của cung vĩ, thường là từ phần đầu đến giữa. Âm thanh phát ra ngắn gọn nhưng không rời nhau. Kỹ thuật này thường dùng cho những âm có độ dài nhỏ trong nhịp độ từ vừa đến rất nhanh. Diễn tả được tâm trạng lâng lâng nhưng tinh tế, thoải mái nhưng không phóng túng. Ký hiệu :cung vĩ ngắt liền được ghi bằng dấu chấm nhỏ đặt trên hay dưới nốt nhạc kèm theo dấu luyến bao chùm.

IIIc. Cung vĩ nhấn liền:
Ðánh như cung vĩ ngắt liền, các âm tiến hành trong một đường cung vĩ như đánh miết vĩ, nhấn từng âm và các âm vẫn luyến với nhau. Biểu hiện trạng thái đấu tranh gay gắt, có thể diễn tả sự say đắm, nặng nề. Nhịp độ bản nhạc thường là vừa và chậm. Ký hiệu cung nhấn liền: ta dùng những gạch ngang đặt trên nốt nhạc và gạch đó nằm trong một dấu luyến.

IIId. Cung vĩ nẩy rời:
Ðánh ngắt từng âm, mỗi âm một đường cung vĩ (như đánh cung vĩ ngắt rời) nhưng sau mỗi âm lại nhấc vĩ một lần (ở nhịp độ nhanh, cung vĩ nhảy trên dây đàn). Ký hiệu: đặt dầu đinh nhỏ trên hay dưới các nốt nhạc để chỉ âm nẩy rời.

IIIe. Cung vĩ nẩy liền:
Ðánh ngắt từng âm, nhiều âm chung một đường cung vĩ (như đánh cung ngắt liền) nhưng sau mỗi âm lại nhấc vĩ một lần. Nhịp độ bản nhạc thường là nhanh (cung vĩ nhảy liên tục trên dây đàn). Ký hiệu là các dấu đinh nhỏ kèm dấu luyến đặt trên hay dưới các nốt nhạc. Hiệu quả của các loại cung vĩ nẩy này làm cho ta thấy những âm thanh vừa gọn, vừa nẩy thể hiện được không khí vui tươi, sáng sủa, nhẹ nhàng.

IIIf. Cung vĩ rung:
Cũng là một thứ cung vĩ rời nhỏ tiến hành với tốc độ rất nhanh trên một âm nào đó: dùng cổ tay điều khiển cung vĩ (thường là đầu cung) kéo, đẩy liên tiếp thật nhanh để phát ra nhiều lần một âm nào đó. Cung vĩ rung nghe như tiếng vê ở các đàn gảy dây. Thực hiện cung vĩ rung ở các nốt nhạc kéo dài hoặc ở các nốt nhạc ngân ngắn, ở các nốt nhạc khẩn trương, cao trào hay làm nền trong hoà tấu đều được vì nó diễn tả nhiều tình cảm, nhiều hình tượng khác nhau. Ký hiệu: đặt 3 gạch chéo ở đuôi nốt, nếu là nốt không có đuôi thì đặt 3 gạch chéo ở dưới.

Kỹ thuật tay trái:

Trước kia nghệ nhân thường dùng lòng đốt ngón tay trái để bấm vào dây đàn, nay hầu hết các nghệ nhân đều bấm bằng đầu ngón tay. Bấm bằng đầu ngón tay, âm thanh chuẩn xác hơn, ngón bấm nhanh nhẹn, linh hoạt hơn, nhất là khi bấm những cung phím trong các thế tay phía dưới. Kỹ thuật tay trái bao gồm các thế tay và các ngón bấm dây, bật dây.

Thế tay: các nghệ nhân chuyển thế tay bằng cách thay đổi cữ tay theo một qui tắc riêng, ít chạy các âm cao và chưa tận dụng triệt để khả năng các ngón tay. Ngày nay ở Ðàn Cò có thể dùng đến 9 thế tay. Ngoài ra trong độc tấu, đôi khi sử dụng đến thế 10, thế 11… những thế tay này chỉ nên đánh ở dây cao.

Ký hiệu chữ số các ngón tay:số O chỉ dây buông, số 1 chỉ ngón giữa, số 3 chỉ ngón áp út, số 4 chỉ ngón út.

Các ngón bấm: ngoài mục đích bấm độ cao của âm thanh, các kỹ thuật tay trái còn góp phần quan trọng trong việc thể hiện tính chất của âm thanh. Ðiều này gắn liền ở mức độ nhiều hay ít làm cho nét nhạc mang tính Dân tộc đậm đà hay mờ nhạt.

Trong bản nhạc, nếu ta không chú ý ghi đầy đủ các ký hiệu cho kỹ thuật tay trái, tức là tay trái chỉ bấm những nốt nhạc đơn thuần, lập tức những giai điệu sẽ giảm đi rất nhiều tính chất phong phú của Ðàn Cò (Nhị) làm ảnh hưởng không ít đến tính chất Dân tộc trong nội dung biểu hiện. Các ngón bấm chủ yếu của Ðàn Cò (Nhị):

Ngón rung: làm tiếng đàn ngân vang mà không khô, cứng. Ngón rung là ngón tay bấm, nhấn nhẹ liên tiếp ở một âm nào đó khiến âm thanh phát ra như làn sóng nhỏ. Ngón rung sử dụng ở hầu hết các âm có độ ngân dài. Người ta có thể rung cả ở dây buông bằng cách dùng ngón tay cái nhấn nhẹ liên tiếp vào cái khuyết (cái cữ của dây đàn), cần chú ý không để cái khuyết tụt xuống sẽ ảnh hưởng đến độ cao của dây đàn.

Ví dụ: (241-19)

dannhi22

Ví dụ: (242-20)

dannhi23

Ngón vuốt: là cách di ngón trên dây đàn từ dưới lên trên hay từ trên xuống dưới. Âm vuốt làm tiếng đàn thêm mềm mại, uyển chuyển gần giống giọng hát, giọng nói dân tộc. Có hai lối vuốt:

a). Vuốt để chuyển thế tay, lối vuốt này nên tiến hành nhanh và chỉ nên chạm ngón rất nhẹ trên dây, hết sức tránh âm thanh nghe phát ra nghe nhõng nhẽo. Vuốt để chuyển thế tay không cần ghi ký hiệu mà chỉ cần ghi thế tay và ngón bấm.

b). Vuốt làm âm thanh dịu ngọt, mềm mại, ký hiệu ngón vuốt như gạch nối giữa các nốt nhạc, đặt trước hoặc sau một nốt nhạc tùy theo từng trường hợp.

Ví dụ: (243-28)

dannhi24

Ngón nhấn: ngón nhấn làm âm thanh cao lên, bằng cách nhấn vào cung phím nào đó rồi nhấn từ dây căng ra, làm âm thanh cao lên thường là một cung. Hiệu quả của âm nhấn nghe mềm mại, nhưng không nên sử dụng quá nhiều ngón tay của Ðàn Cò.

Ví dụ: (244-21)

dannhi25

Ví dụ: (245-22)

dannhi26

Ngón láy: (còn gọi là ngón vỗ) trong khi một ngón tay (thường là ngón 1) bấm vào một cung phím nào đó, ngón 2 (hay ngón 3), đập vào một cung phím có âm cao liền bậc. Ngón láy diễn tả tình cảm lưu luyến, ngậm ngùi.

Ví dụ: (246)

dannhi27

Ngón nhấn láy: (còn gọi là ngón nhún) là cách bấm vào một cung phím nào đó rồi nhấn nhanh tạo ra sự căng, trùng dây đàn liên tiếp, nghe ra nhiều lần hai âm cao thấp liền bậc trong phạm vi độ ngân của nốt nhạc. Âm nhấn láy nghe tương tự âm láy về độ cao nhưng tính chất âm thanh luyến mềm, dịu và đều đặn hơn. Ký hiệu: chữ M hoa có vòng cung, đặt trên nốt nhạc.

Ví dụ: (247)

dannhi28

Ðối với trường hợp ngón nhấn láy cần đánh vào một cung cách xa, người soạn nhạc có thể ghi thêm nốt nhạc nhỏ gạch chéo. Dùng nhiều ngón láy liên tiếp có thể diễn tả sự xúc động cao, bình thường ngón nhấn láy làm tiếng đàn mềm mại, tình tứ, duyên dáng.

Ngón láy rền: (còn gọi là đổ hột): đây là kiểu láy nhưng láy nhanh hơn để âm chính và âm cao liền bậc (hay cách bậc) phát ra như làn sóng rền. Âm chính cũng có thể là từ âm của dây buông. Ký hiệu: chữ “trille” trên nốt nhạc viết tắt là “tr” đi liền với đoạn sóng ngắn. Ngón láy rền có giá trị bằng độ dài của nốt nhạc (tr).

Ví dụ: (249-24)

dannhi29

Ngón láy rền có nhiều sức diễn tả các mặt tình cảm, với độ nhanh nhỏ, đó là những tiếng lòng thổn thức, nhớ thương, hoặc một cảnh tượng tiêu điều buồn bã… Với tốc độ nhanh, lớn và dùng liên tiếp nhiều lần, ngón láy rền lôi cuốn người nghe, có thể biểu hiện một tình cảm sôi nổi, thiết tha hoặc một không khí khẩn trương, thúc bách hoặc một quang cảnh thiên nhiên vui tươi có ánh mặt trời rực rỡ.

Ngón vê: Ví dụ: (248-25)

dannhi30

Ngắt tiếng: Ví dụ: (251-26)

dannhi31

Bật dây: làm cho hiệu quả màu sắc ở Ðàn Cò (Nhị) thêm phong phú. Do Ðàn Cò (Nhị) không có bàn phím trơn, chỉ nên bật âm ở dây buông, cụ thể là hai âm d, a. Bật những âm khác khó và nghe không rõ. Có thể bật từng dây, có thể bật một lúc cả hai dây. Muốn bật dây, tay phải nghệ nhân giữ cung vĩ không cho chạm vào dây, còn ngón tay trái bật dây. Có thể kết hợp tay phải vẫn kéo cung vĩ trên một dây buông, tay trái bật trên dây buông kia (thường là bật dây a, kéo dây d dễ hơn). Ký hiệu: âm bật dây được ghi bằng dấu cộng trên hay dưới nốt nhạc. Nếu bật cả hai dây nên ghi cả 2 nốt nhạc và chữ pizz phía trên hay dưới hoặc hai dấu “+” cả trên cả dưới. Chữ Pizz có thể còn có gía trị trong cả một đoạn nhạc bật dây cho tới khi có chữ arco (kéo cung vĩ), trường hợp này ít gặp. Nếu kéo một dây, bật một dây, cần viết tách hai bè, những nốt bật dây ghi dấu “+” những nốt không bật dây để bình thường.

Ví dụ: (252-27)

dannhi32

Ví dụ: (253-3)

dannhi33

Ví dụ: (254-17)

dannhi34

Ví dụ: (255-18)

dannhi35

Ví dụ: (256-11)

dannhi36

Ví dụ: (257-12)

dannhi37

Ví dụ: (258-5)

dannhi38

Ví dụ: (259-6)

dannhi39

Ví dụ: (260-8)

dannhi40

Ví dụ: (261-9)

dannhi41

Ví dụ: (262-14)

dannhi42

Ví dụ: (263-15)

dannhi43

 

dannhi45

 

dannhi46

 

dannhi47

 

dannhi48

 

6. Vị trí Ðàn Cò (Nhị) trong các Dàn nhạc:

Đàn Cò (Nhị) tham gia nhiều tổ chức Dàn nhạc như: Phường Bát âm, Dàn Nhã nhạc, Ban nhạc Tài Tử, Dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp. Các Dàn nhạc Ca kịch Dân tộc như Tuồng, Chèo, Cải Lương… Ðàn Cò (Nhị) có thể độc tấu, song tấu, hoà tấu… và đã được công nhận là nhạc khí có tác dụng quan trọng trong dàn nhạc, đặc biệt trong Dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp và Dàn nhạc Giao hưởng Dân tộc.

7. Những nhạc khí tương tự ở Ðông Nam Á và các nước:

Ðàn Cò (Nhị) Việt Nam:

Tương tự với Ðàn Cò (Nhị) ở Trung Quốc có Erhu (Nhị hồ) hay Huqin (Hồ cầm) tức là đàn 2 dây, ở Thái Lan có Soduang (Xô-đu-ăng) và Sou (xô-u), ở Lào có So-i vàSo-u, ở Campuchia có Trochey (tờ-ro-chây) và Tro-u (tờ-ro-u), đàn Kamanche của Iran. Tương tự với Ðàn Cò (Nhị) có Ðàn Cò cổ xưa Rebec đến từ Europe ở thế kỷ 12.

dannhi49

oOo

Đàn Cò vs Violin – Cò Ta vs Cò Tây:

 

Đàn Nhị – Phạm Đức Thành:

 

Đàn Nhị Việt Nam – Đua Ngựa Song Tấu:

 

Hana – Hòa tấu Đàn Nhị – NSƯT Thế Dân – NS Xuân Trung:

 

Sambario – Hòa tấu Đàn Nhị – NSƯT Thế Dân – NS Xuân Trung:

 

Top Of The World – NSƯT Thế Dân – NS Xuân Trung:

 

Yêu em bằng cả trái tim – NSƯT Thế Dân – NS Xuân Trung:

 

Hòa Tấu Đàn Nhị – Bèo Dạt Mây Trôi – NSƯT Thế Dân – NS Xuân Trung:

 

Nhạc cụ dân tộc – Dàn nhạc nhà hát chèo – Hòa tấu, song tấu, độc tấu Đàn Nhị:

 

Đàn Nhị – Dự hương hành – Chu Vận:

 

Thần Thoại Đàn Nhị Và Tỳ Bà:

 

Đàn Nhị – Về Quê:

 

Đàn Nhị – Nhị Hồ Bản:

 

Đàn Nhị – Tình Nữ Nhi:

 

Đàn Nhị – Trường Tương Tư:

 

Đàn Nhị – Khang Mỹ Chi Luyến:

 

Đàn Nhị – Nhất Bôi Hoàng Đằng Tửu:

 

Đàn Nhị – Cô Tô Xuân Hiểu:

 

Đàn Nhị – Hồng Nhạn:

 

Đàn Nhị – Mong Uyên Uơng Liền Cành:

 

Đàn Nhị – Vũ Dạ Hoa Đài Loan Dân Dao – Chu Xương Diệu:

 

Đàn Nhị – Mục Dương Nữ – Chu Xương Diệu:

 

Đàn Nhị – Lam Hoa Hoa Tự Sự Khúc – Tống Phi:

 

Hòa tấu ĐÀN NHỊ hay nhất – Best of Erhu:

 

Đàn Cò:

 

Đàn Nhị – Tuyệt phẩm hòa tấu:

 

YU Hongmei – Horse Racing (Erhu Solo):

 

Song tấu Nhị & Piano:

 

Hòa tấu Nhị – Trường Tương Tư:

 

“Uổng Ngưng Mi” trong Hồng Lâu Mộng do Hồ Hồng diễn tấu Nhị:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s