Trọn đời khơi giấc mơ “đèn đom đóm”

() – Số 118 THANH TÂM – 8:0 AM, 27/05/2015

Nhiêu lứa con em vạn đò đã được thắp lên giấc mơ đèn đom đóm từ những “lớp cô Hạnh”.

Nếu “đèn đom đóm” là hình ảnh tượng trưng tinh thần vượt khó hiếu học của người xưa, thì cô Ngọc Hạnh là tấm lòng chắt chiu những đóm sáng lắt lay ấy trên dòng Hương 40 năm nay. 16 tuổi cô đã tất bật đi làm giấy khai sinh cho con em vạn đò và cần mẫn mang cái chữ đến cho chúng, hết lứa này đến lứa khác; gặp đứa sáng dạ cô chạy vạy khắp nơi xin cho chúng được học nghề… Nay sắp bước vào tuổi 60, cô vẫn làm tất cả những việc mà cô gọi là “bé mọn” ấy với một mong muốn: “Những đứa trẻ sông nước sẽ sống bằng nghề được học chứ không dừng lại với kiếp vạn đò thất học truyền đời…”.

Đêm đêm đèn sáng

19h, duy nhất phòng học số 3 của trường Tiểu học số 1, cơ sở 2 Kim Long (khu vực 6, phường Kim Long, TP.Huế) sáng đèn. Đó là lớp học bình dân của cô Bạch Ngọc Hạnh và lũ trẻ xóm vạn đò. Mấy chục đứa trẻ ngồi theo từng nhóm, mỗi nhóm là một lớp – từ lớp 1 đến lớp 5. Cô Hạnh dạy từng nhóm rồi giao bài tập, mỗi nhóm có một nhóm trưởng – đứa học khá nhất để giúp các bạn học và làm bài. Lớp học gần như không có nghỉ hè, vì nếu nghỉ thì không ít đứa sẽ lênh đênh theo bố mẹ kiếm ăn trên dòng Hương mà quên mất ngày về, mà thả cả những con chữ còn sót trôi theo dòng nước. Nhưng “những kỳ lễ hội hay tết thì phải cho các em nghỉ học một tuần. Lễ hội thì hầu hết bọn trẻ đi bán hàng, tết đến lại phải đi làm thuê để kiếm tiền phụ giúp gia đình. Những ngày ấy, các em phải lao động từ sáng đến tận nửa đêm. Tất cả đều đang tuổi ăn, tuổi lớn… thế mà cực và tội lắm…” cô Hạnh ngậm ngùi chia sẻ.

Phan Thị Thanh Thủy theo học “lớp cô Hạnh” đã 4 năm, hai đứa em Phan Thị Thanh Nga, Phan Văn Pháp cũng học chung với chị. Thủy kể: “Mẹ con làm nhang, ba con đạp xích lô, nhà con có 6 anh chị em lận.” Phạm Thị Sáng (11 tuổi), nói: “Con học lớp cô Hạnh 5 năm rồi. Ban ngày con ở nhà giữ em, làm việc nhà giúp ba mẹ.” Phan Thị Thảo có 5 anh chị em, “ba con đi đạp xích lô, mẹ con ở nhà giữ em. Hằng ngày ba mang tiền về cho mẹ mua thức ăn, nhưng ba con hay uống rượu lắm. Con học ở đây được 5 năm rồi, con mới học lớp 3 thôi. Đi học, con vui lắm, con thích học môn toán nhất, cô Hạnh chưa bao giờ mắng con cả…”. Tôi ngồi cạnh cô giáo Hạnh, lặng nghe từng đứa trẻ hồn nhiên kể về cuộc sống lênh đênh của chúng. Cô Hạnh cho biết chưa bao giờ quở mắng bọn trẻ, bởi cô biết chúng rất dễ bị tổn thương: “Thậm chí tôi còn không dám khen trước cả lớp, vì khen đứa này thì đứa kia tủi hổ mà bỏ học…”.

Tuổi xuân gửi lại Bến Me

40 năm trước, cô Bạch Ngọc Hạnh phải bỏ dở cấp 3 vì những biến động của cuộc sống. Vừa bán hàng giúp mẹ, cô vừa tham gia hoạt động thanh niên ở phường Phú Thuận (TP.Huế). Ngày đó khu vực Bến Me trước kinh thành nổi tiếng với đủ các tệ nạn xã hội và… nạn mù chữ. Cô Hạnh cùng thanh niên đoàn phường và các anh bộ đội đi vận động bà con đến lớp học xóa mù, rồi một mình đứng lớp dạy chữ cho bà con. “Bốn năm thì cơ bản xóa được mù chữ, cứ tưởng thế là xong, vậy mà đến tận bây giờ, tôi vẫn dạy chữ cho con cháu họ mỗi tối”.

Nhà cô Hạnh ở bờ thành Đại Nội (bấy giờ chưa giải tỏa khu dân cư ở đây), chiều nào cô cũng thấy lũ trẻ con Bến Me nhảy từ dưới sông lên bờ chơi. Cô bắt chuyện rồi sững người khi không đứa nào biết đọc, biết viết. Hóa ra không chỉ người lớn, mà tất cả trẻ con xóm vạn đò chưa từng biết đến hai từ “đi học” bao giờ. Rồi cái sững sờ trở thành đau đáu – “không thể để bọn trẻ mù chữ được”. Cô chọn cách vừa chơi, vừa dụ bọn trẻ đi học. Nhưng việc này khó khăn hơn cô nghĩ rất nhiều, dạy chúng hát múa, chơi trò chơi thì chúng nghe, nhưng cứ nói đến học chữ là đứa nào cũng lắc đầu. Vừa thiếu sách vở, bọn trẻ vừa chưa muốn học nên cô chọn việc đầu tiên là lấp đi những khuyết thiếu mà trẻ con vạn đò đứa nào cũng có: Học cách làm người. Cô Hạnh dạy cho chúng biết vệ sinh cá nhân, biết lễ nghĩa, biết sống có ích để không bị người đời khinh miệt; vừa kiên nhẫn rèn người, vừa “dụ dỗ”, lôi kéo chúng đến gần con chữ. Phải mất 2 năm, lớp học xóa mù cho con em xóm vạn đò mới thực sự được mở. Lớp ban đầu có 24 em, sau lên 40 em. Cô cứ dạy mãi, dạy mãi mà không hết đám trẻ thất học. Đến lúc dành cho mình một khoảnh khắc ngơi nghỉ thì cô giật mình, tuổi 30 đã đến tự bao giờ.

Đôi khi cô Hạnh nghĩ “có lẽ đời này, kiếp này mình không có hạnh phúc riêng tư…”. Nhưng rồi một ngày, anh Trần Văn Đấu bỗng mang trầu cau đến nhà cô Hạnh sau mười mấy năm âm thầm “theo dõi” và cảm phục đức hy sinh của cô. Cô nhớ lại: “Anh là người vạn đò, lại kém tôi đến 6 tuổi nên ba mẹ tôi không đồng ý. Chúng tôi lấy nhau, cả hai đều tay trắng”. Vợ chồng cô Hạnh dựng một gian nhà mái lá chỗ công viên Phu Văn Lâu bây giờ. Chồng ngày ngày dong xe cải tiến chở hàng thuê, vợ vừa trồng rau vừa lạch xạch đạp máy may.

 Cô Hạnh luôn đau đáu chăm lo từng đứa trẻ vạn đò. Ảnh: T.T

Một đời tận hiến

Sau khi lập gia đình, cô Hạnh nghỉ dạy chừng một năm thì có người đàn ông tay cầm mái chèo, tay cắp rổ cá, dẫn theo sau một đàn trẻ con lít nhít đến nhà cô. Người đàn ông vạn đò đen sạm ấy nói như van nài: “O phải dạy chữ cho tụi nhỏ nhà tui chớ, không lẽ để chúng thất học mãi?”. Mấy đứa trẻ xúm quanh: “O dạy chữ cho tụi con đi”. Câu nói người làm cha và những ánh nhìn con trẻ một lần nữa khiến cô mềm lòng. Lớp học miễn phí lại được mở, lại bắt đầu xóa mù chữ cho trẻ con xóm vạn đò.

Năm 1995, Bến Me giải tỏa để phục vụ cho trùng tu, tôn tạo di tích. Gia đình cô cùng bà con vạn đò tái định cư ở khu vực 6 – phường Kim Long. Vừa dựng tạm được gian nhà lá che mưa che nắng, người dân vạn đò đã lại kéo đến nhà cô, xin cô mở lớp tiếp tục dạy chữ cho con họ. Lớp học tổ chức ngay ở nhà cô, vẫn tuềnh toàng như hơn 20 năm trước. Đến lúc nhà tạm của cô không đủ chỗ cho bọn trẻ ngồi học, cô lại đi khắp khu vực 6, nhà nào xây mà chưa ở là cô mượn làm lớp. Và cô thêm một lần tá hỏa khi biết đã “lên bờ” rồi mà bà con vẫn chưa có khái niệm đi làm giấy khai sinh cho con. Thế là cô vừa lo đi làm giấy khai sinh cho bọn trẻ, vừa vận động, tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình…

Bao nhiêu năm đứng lớp, cô chưa hề được ai trả một đồng tiền công. Cha mẹ bọn trẻ thấy cô vừa phải nuôi con, vừa dạy học không lương nên cũng ý tứ góp nhau lại gọi là “học phí cho con”, nhưng cô Hạnh chưa bao giờ nỡ nhận những đồng tiền thấm đẫm mồ hôi lao nhọc phận nghèo. Chỉ đến khi PLAN (một tổ chức phi chính phủ quốc tế về phát triển cộng đồng, lấy trẻ em làm trung tâm) tìm đến, hỗ trợ trẻ em xóm vạn đò, cô Hạnh mới được nhận mức lương 350.000 đồng/tháng, nhưng chỉ được 2 năm. Mãi gần đây, Trung tâm GDTX Huế mới hỗ trợ cho cô 500.000 đồng mỗi tháng. Số tiền vốn đã ít ỏi ấy lại được cô chia làm ba phần, một phần cho xăng xe đi lại, một phần cho bọn trẻ và một phần cho những người già neo đơn trong khu vực. Cũng may, chồng cô luôn sát cánh chia sẻ với vợ, nuôi nấng các con. Khi các con trưởng thành, chúng lại chung tay góp sức với mẹ.

Bọn trẻ vạn đò của cô Hạnh, nhiều đứa học rất khá, nhưng vì nghèo khó mà chỉ có ít đứa theo được lên cấp 2. Những đứa theo được thì cố lắm đến lớp 7, lớp 8 rồi phải nghỉ để đi học nghề. Mà học nghề, cũng là cô Hạnh đôn đáo khắp nơi trình bày, năn nỉ để các em có thể vừa học vừa làm… Sắp 60 tuổi rồi, cô vẫn đứng lớp, vẫn lăn đi làm tất cả vì bọn trẻ, vì những số phận thiệt thòi của xóm vạn đò chênh vênh kia. Nhìn cô cặm cụi bên những mái đầu con trẻ, tôi lại nghĩ: Những tấm lòng nhân ái trong thiên hạ vẫn còn nhiều, nhưng để biến nhân ái thành hành động, thành đức hy sinh bền bỉ như cô Hạnh thì mấy ai làm được…

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s