Don’t Trade Away Our Health


By JAN. 30, 2015

Representatives from the United States and 11 other Pacific Rim countries convened to decide the future of their trade relations in the so-called Trans-Pacific Partnership (T.P.P.). Powerful companies appear to have been given influence over the proceedings, even as full access is withheld from many government officials from the partnership countries.

Among the topics negotiators have considered are some of the most contentious T.P.P. provisions — those relating to intellectual property rights. And we’re not talking just about music downloads and pirated DVDs. These rules could help big pharmaceutical companies maintain or increase their monopoly profits on brand-name drugs.

The secrecy of the T.P.P. negotiations makes them maddeningly opaque and hard to discuss. But we can get a pretty good idea of what’s happening, based on documents obtained by WikiLeaks from past meetings (they began in 2010), what we know of American influence in other trade agreements, and what others and myself have gleaned from talking to negotiators.

Trade agreements are negotiated by the office of the United States Trade Representative, supposedly on behalf of the American people. Historically, though, the trade representative’s office has aligned itself with corporate interests. If big pharmaceutical companies hold sway — as the leaked documents indicate they do — the T.P.P. could block cheaper generic drugs from the market. Big Pharma’s profits would rise, at the expense of the health of patients and the budgets of consumers and governments.

There are two ways the office of the trade representative can use the T.P.P. to maintain or raise drug prices and profits.

The first is to restrict competition from generics. It’s axiomatic that more competition means lower prices. When companies have to fight for customers, they end up cutting their prices. When a patent expires, any company can enter the market with a generic version of a drug. The differences in prices between brand-name and generic drugs are mind- and budget-blowing. Just the availability of generics drives prices down: In generics-friendly India, for example, Gilead Sciences, which makes an effective hepatitis-C drug, recently announced that it would sell the drug for a little more than 1 percent of the $84,000 it charges here.

That’s why, since the United States opened up its domestic market to generics in 1984, they have grown from 19 percent of prescriptions to 86 percent, by some accounts saving the United States government, consumers and employers more than $100 billion a year. Drug companies stand to gain handsomely if the T.P.P. limits the sale of generics.

The second strategy is to undermine government regulation of drug prices. More competition is not the only way to keep down the prices of essential goods and services. Governments can also directly restrain prices through law, or effectively restrain them by denying reimbursement to patients for “overpriced” drugs — thus encouraging companies to bring down their prices to approved levels. These regulatory approaches are especially important in markets where competition is limited, as it is in the drug market. If the United States Trade Representative gets its way, the T.P.P. will limit the ability of partner countries to restrict prices. And the pharmaceutical companies surely hope the “standard” they help set in this agreement will become global — for example, by becoming the starting point for United States negotiations with the European Union over the same issues.

We can’t be sure which of these features have made it through this week’s negotiations. What’s clear is that the overall thrust of the intellectual property section of the T.P.P. is for less competition and higher drug prices. The effects will go beyond the 12 T.P.P. countries. Barriers to generics in the Pacific will put pressure on producers of such drugs in other countries, like India, as well.

Of course, pharmaceutical companies claim they need to charge high prices to fund their research and development. This just isn’t so. For one thing, drug companies spend more on marketing and advertising than on new ideas. Overly restrictive intellectual property rights actually slow new discoveries, by making it more difficult for scientists to build on the research of others and by choking off the exchange of ideas that is critical to innovation. As it is, most of the important innovations come out of our universities and research centers, like the National Institutes of Health, funded by government and foundations.

The efforts to raise drug prices in the T.P.P. take us in the wrong direction. The whole world may come to pay a price in the form of worse health and unnecessary deaths.

Joseph E. Stiglitz, a Nobel laureate in economics, a professor at Columbia and a former chairman of the Council of Economic Advisers, is the author of “The Price of Inequality.”

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Don’t Trade Away Our Health”

  1. Hi cả nhà,

    Thuốc generic là loại thuốc cần thiết cho mọi người (đặc biệt là người nghèo) vì vừa rẻ và vừa có hiệu quả gần với thuốc gốc. Thuốc gốc do tốn nhiều tiền vào việc nghiên cứu, quảng cáo… nên cần khoảng 20 năm bản quyền để lấy lại vốn. Sau đó các công ty khác mới được quyền sao chép công thức và tạo ra loại thuốc tương tự, gọi là thuốc generic.

    Nếu VN tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), thì với điều khoản sở hữu trí tuệ trong Hiệp định, thuốc gốc sẽ có thời gian bản quyền lâu hơn 20 năm. Đồng thời, thuốc generic cũng bị hạn chế phát triển.

    Điều đó có nghĩa là mọi người khó có thể mua được thuốc generic. Đối với những bệnh như HIV, ung thư, các loại bệnh điều trị trong thời gian dài…, nếu không có thuốc generic và là nhà nghèo, họ sẽ chết.

    Dưới đây là vài bài báo tiếng Việt có liên quan về thuốc generic. Mời cả nhà cùng đọc.


    Thuốc generic là gì?
    (đọc bài hoàn chỉnh ở đây)

    1. Thuốc brand name

    Một thuốc khi xuất hiện trên thị trường với bản quyền và nhãn hiệu được đăng ký thì đó là một brand name drug [1]. Tên của thuốc này sẽ có chữ ® kèm theo, ví dụ Lipitor®, để chứng tỏ thuốc đã đăng ký và được bảo vệ theo luật lệ của U.S. Patent and Trademark Office (Cơ quan Bản quyền và Thương hiệu Hoa Kỳ).

    2. Thuốc generic

    Bản quyền của dược phẩm thường chỉ được bảo hộ trong khoảng 17 năm. Khi hết hạn, các công ty khác được quyền sao chép công thức và tạo ra loại thuốc tương tự. Loại thuốc “ăn theo” đó có thể mang thương hiệu khác nhưng không có bản quyền, và được gọi chung là generic drug (GD). Ví dụ: Tylenol (thuốc brand-name) và Acetaminophen [2] cùng các thuốc cùng chứa paracetamol khác.

    Thuốc generic

    Sự khác biệt rõ ràng nhất giữa thuốc brand name và thuốc generic là giá tiền. Thuốc generic luôn luôn có giá rẻ hơn thuốc brand name nhiều lần. Nguyên nhân là các công ty dược phẩm phải thu lại những chi phí to lớn cho việc nghiên cứu và thử nghiệm thuốc của họ để đưa ra thuốc brand name.

    Một số thuốc generic cố gắng bắt chước vẻ ngoài của thuốc brand name, vốn đã được đưa ra thị trường trong một thời gian dài và ghi dấu vào trí nhớ người tiêu dùng. Tuy vậy, không hẳn là thuốc generic không tốt bằng thuốc brand name, bởi vì mọi loại thuốc generic đều phải qua sự xét nghiệm và phê chuẩn của FDA trước khi được bày bán. FDA (US Food and Drug Administration – Viện Kiểm nghiệm Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ) quy định rằng thuốc generic phải có cùng phẩm chất, cường độ, vệ sinh, và an toàn như thuốc brand-name cùng loại. [3]

    Để hướng dẫn việc bào chế thuốc generic được bảo đảm, FDA, cơ quan quản trị dược phẩm và thực phẩm của Mỹ, đã có các yêu cầu căn bản mà cơ sở bào chế thuốc generic cần phải tuân thủ như sau:

    Phải sử dung các nguyên liệu như thuốc gốc
    Phải có cùng công hiệu, liều lượng sử dụng và cách thức sử dụng như thuốc gốc
    Phải có cùng các qui định sử dụng như thuốc gốc
    Phải được bào chế dưới qui trình sản xuất nghiêm ngặt GMP (Good Manufacturing Production )
    Với các qui định sản xuất như vậy, FDA còn đòi hỏi thuốc generic cần phải đạt được các tiêu chuẩn căn bản sau đây:

    Có sức công hiệu như thuốc gốc
    Có cùng tính chất, độ tinh khiết và công hiệu như thuốc gốc
    Có cùng thời gian sử dụng công hiệu như thuốc gốc
    Giá bán phải rẻ hơn thuóc gốc
    Phải được sản xuất theo qui định GMP
    Phải có hình thức bên ngoài khác với thuốc gốc (vì hình thức bên ngoài của thuốc gốc thường đã được cầu chứng nên không được làm giống hình thức của thuốc gốc) [4]

    3. So sánh thuốc generic và thuốc brand-name

    Thuốc generic

    Nhiều bệnh nhân đã than phiền về thuốc generic. Đó là vì sau khi uống thuốc, người bệnh bị những phản ứng phụ rất khó chịu như ho, chóng mặt, nổi ngứa, hay lên cân… Hoặc khi cơn bệnh cứ dậm chân tại chỗ, chẳng thuyên giảm, nhưng khi đổi sang thuốc hàng hiệu thì bệnh bớt hẳn.

    Từ đó có dư luận cho rằng các nhà sản xuất thuốc generic đã giảm liều lượng cần thiết, hay không điều chế đúng cách, hay dùng những nguyên liệu kém phẩm chất. Có ý kiến còn nói thuốc brand name được bào chế trong những điều kiện tinh khiết hơn. Điều này rất quan trọng với một số chất hóa học hay dược liệu để chúng có thể giữ vẹn tác dụng chữa trị.

    Nhưng thực tế thì FDA cho phép nhà sản xuất thuốc generic được thay đổi các dược chất phụ (inactive) trong công thức dù dược chất chính (active) vẫn phải giữ nguyên. Điều này có thể là nguyên nhân làm cho nhiều người không đáp ứng tốt với thuốc, hiệu quả điều trị kém hơn thuốc brand name và bị những dị ứng như kể ở trên.

    4. Ưu điểm của thuốc generic

    Dù thuốc generic có những khiếm khuyết như thế nhưng không thể phủ nhận ưu điểm to lớn của chúng là giá cả rất phải chăng. Năm 2008, người tiêu dùng tại Hoa Kỳ đã tiết kiệm 121 triệu đôla nhờ thuốc generic. Với dân số ngày càng nhiều người già, lượng thuốc tiêu thụ sẽ chỉ tăng chứ không giảm, nên chính phủ và các công ty bảo hiểm sức khoẻ khuyến khích người dân cố gắng sử dụng generic drugs nếu như họ có thể làm được. [5]

    Lợi ích từ thuốc generic
    Lợi ích kinh tế từ thuốc generic
    Đối với những người không có bảo hiểm, hay bảo hiểm không trả tiền thuốc thì thuốc generic là vị cứu tinh. Còn những ai may mắn không phải trả tiền thuốc thì sao? Tại sao họ cần xài loại thuốc “hạng hai”?

    Bằng cách này hay cách khác, người mua vẫn tốn tiền hơn. Trong nhiều trường hợp, tiền phụ phí (co-pay) của thuốc brand name nhiều hơn thuốc generic, gom lại cả năm sẽ là một con số khá lớn. Ngoài ra, nếu tiền thuốc trong một năm khá cao, hãng bảo hiểm sẽ tăng lệ phí hàng tháng (premium) cho năm sau vì họ không bao giờ chịu bị lỗ.

    Vì thế dùng thuốc generic sẽ tiết kiệm được một khoảng tiền không nhỏ. Nhưng, để bảo vệ sức khoẻ, người bệnh cần hỏi ý kiến bác sĩ và dược sĩ trước khi quyết định dùng hay đổi từ thuốc brand name qua thuốc generic.

    5. Một số câu hỏi đặt ra với thuốc generic:

    Loại thuốc (brand name) này có loại generic tương đương hay không?
    Thuốc generic có thích hợp với tình trạng của tôi không?
    Thuốc generic này có gây ra phản ứng phụ hay không?
    Thuốc generic này trông bề ngoài có khác loại brand-name tôi thường dùng hay không?
    Tôi có cần làm gì khác khi dùng loại generic hay không? [6]


  2. Khả năng chi trả Y tế: Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương với Mỹ (TPP) đi kèm sự ràng buộc với Việt Nam
    07:43 | 25/08/2014

    Báo điện tử Tầm nhìn – Trong khi Việt Nam đang chờ để được đánh dấu trên bản đồ toàn cầu như một điểm đến thương mại quan trọng khi tham gia hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương với Mỹ (TPP), có một sự phản đối ngày càng tăng về tác động của hiệp định thương mại tự do này.

    Trong khi Việt Nam đang chờ để được đánh dấu trên bản đồ toàn cầu như một điểm đến thương mại quan trọng khi tham gia hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương với Mỹ (TPP), có một sự phản đối ngày càng tăng về tác động của hiệp định thương mại tự do này.

    Ngoài việc nhiều người cảm thấy ngành công nghiệp được bảo hộ trong nước có thể gặp bất lợi khi nền kinh tế mở cửa để cạnh tranh quốc tế một cách khốc liệt, còn có một sự hạn chế rất lớn về các điều khoản sở hữu trí tuệ trong thỏa thuận mà các nhà phân tích nói có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận chăm sóc y tế tại các quốc gia thu nhập thấp trong khối TPP như Việt Nam vì nó có thể làm cho các loại thuốc generic trở nên đắt tiền hơn

    Đối với các bệnh như HIV / AIDS thuốc generic được sử dụng làm thuốc và quá trình điều trị đối với phần lớn người dân ở các nước đang phát triển.

    Theo xác định của Tổ chức Thầy thuốc không biên giới (MSF), các quốc gia sử dụng thuốc generic được đặt dưới một cấu trúc phức tạp của pháp luật giám sát bằng sáng chế trong nước và các quyền sở hữu trí tuệ mà thường có thể bị ảnh hưởng bởi các hiệp ước thương mại và hiệp ước quốc tế, trừ khi chính phủ tấn công sự cân bằng giữa lợi ích y tế công cộng và yêu cầu tài sản trí tuệ (IP).

    Các tiêu chuẩn IP của TPP – chủ yếu là trong đó có Mỹ, Australia, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Nhật Bản, Việt Nam cùng những nước khác, chiếm đến 40 % GDP của thế giới và 26 % thương mại thế giới – có xu hướng nghiêng cán cân về phía lợi ích thương mại trong y tế công cộng ở các nước đang phát triển, các chuyên gia cảm thấy điều này.

    UNITAID cho biết có những quan ngại rằng sẽ có những tác động bất lợi cho việc tiếp cận thuốc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng nói chung khi áp dụng quy định TPP, giống như tiêu chuẩn bằng sáng chế thấp dẫn đến một số lượng lớn các bằng sáng chế được cấp, bao gồm thuốc và công nghệ y tế.

    Sự công kích về tài sản trí tuệ

    Được gọi là “evergreening”, điều khoản này cho phép chủ sở hữu bằng sáng chế tận hưởng thời gian độc quyền về một loại thuốc dài hơn so với thời gian tối thiểu 20 năm theo quy định của Hiệp định TRIPS. Qua đó mở rộng phạm vi có thể được cấp bằng sáng chế dẫn đến sự gia tăng của các bằng sáng chế thứ cấp được cấp, ngăn chặn cạnh tranh lành mạnh trong thời gian dài.

    Tiến sĩ Matthew Rimmer, Hội đồng Nghiên cứu Úc trong tương lai làm việc về Sở hữu trí tuệ và biến đổi khí hậu và là giáo sư tại ANU College of Law nói: “Với tiêu chuẩn sở hữu trí tuệ cao và ưu đãi đặc biệt cho các nhà đầu tư, TPP đặt ra những thách thức nghiêm trọng và sâu sắc đối với sức khỏe cộng đồng , giá thuốc, và tiếp cận các loại thuốc thiết yếu. Như đã nhấn mạnh bởi UNITAID, có một mối quan tâm đặc biệt về việc tiếp cận thuốc thiết yếu đối với các bệnh truyền nhiễm như HIV / AIDS. Việt Nam đã phải đấu tranh với sự phức tạp của các cuộc đàm phán thương mại. Trong tất cả các quốc gia đàm phán, Việt Nam có vẻ là dễ bị tổn hại nhất đối với gánh nặng y tế công cộng, và hầu hết các trang bị chữa bệnh để thích ứng với các tiêu chuẩn sở hữu trí tuệ và thương mại đó. ”

    Độc quyền dữ liệu cho sinh học cũng là một điều khoản mà sẽ cho kết quả trong thời gian dài hơn của vấn đề không đáp ứng của phiên bản của các loại thuốc generic công nghệ sinh học cần thiết để điều trị các bệnh như ung thư và viêm gan. Shihoko Goto, Thành viên cao cấp của khu vực Đông Bắc Á, Chương trình châu Á tại Trung tâm Woodrow Wilson nói, “Mở rộng và kéo dài phạm vi bằng sáng chế của thuốc được các nhà phê bình coi là đặc biệt nguy hiểm. Mở rộng quyền bảo vệ bằng sáng chế chắc chắn sẽ có lợi cho các nhà sản xuất thuốc và có thể làm tăng động lực cho nghiên cứu, nhưng có thể ảnh hưởng khả năng chi trả chăm sóc sức khỏe và tiếp cận. ”

    Tổn hại

    Đối với Việt Nam, với khoảng hơn 280.000 người nhiễm HIV dương tính, và bệnh ung thư nằm trong top 5 vấn đề sức khỏe hàng đầu của quốc gia, sẽ có những tác động nghiêm trọng về quản lý giá thuốc nếu TPP được thông qua. “Vấn đề về việc tiếp cận chăm sóc sức khỏe và khả năng chi trả là một trong những vấn đề lớn nhất thách thức sự hỗ trợ của Việt Nam cho TPP. Là một quốc gia thành viên của hiệp định thương mại đa phương lớn nhất, đạt tiêu chuẩn cao nhất đặt nền kinh tế của Việt Nam trên bản đồ thế giới, và sẽ cung cấp cho Việt Nam một lợi thế khác biệt giữa các nước láng giềng như khả năng cạnh tranh cho các khoản đầu tư trong các lĩnh vực quan trọng và có khả năng phát triển ngành dệt may quan trọng của mình. Tuy nhiên, đang dấy lên sự phản đối từ công chúng xuất phát từ những lo ngại về việc phân chia khả năng chăm sóc sức khỏe ngày càng lớn hơn, “Shihoko Goto nói.

    Việt Nam phải đối mặt với một đại dịch lớn của bệnh HIV và viêm gan C do tiêm chích ma túy. Một số loại thuốc mới cho bệnh viêm gan C được cấp bằng sáng chế cực kỳ đắt tiền – lên đến $ 80,000 mỗi lần điều trị.

    `Ngay từ đầu năm 2005, Liên Hợp Quốc ước tính có 8,2 % các ca tử vong ở Việt Nam liên quan đến bệnh ung thư, và có 1,5 triệu trường hợp mới mỗi năm. Tuy nhiên, chỉ có 3 % thị trường dược phẩm cho các loại thuốc ung thư theo Oxfam. Điều gì xảy ra với phần còn lại? Làm thế nào để họ có đủ khả năng điều trị?

    Trong khi khoảng 170.000 người vẫn cần điều trị cơ bản ở Việt Nam, gần 2,7% công dân Việt Nam dựa vào các loại thuốc tuyến hai và tuyến ba khi điều trị bệnh, đặc biệt là HIV / AIDS, hầu hết trong số đó là theo bằng sáng chế và đắt hơn 5-10 lần các loại thuốc tuyến đầu.

    Mỹ đã đề xuất miễn thuế giới hạn thời gian cho một vài nước trong số các nước có thu nhập thấp, trong đó bao gồm Việt Nam, nơi một số quy định sẽ không được thực hiện cho đến một thời hạn nhất định hoặc các điều kiện được đáp ứng. Các chuyên gia cảm thấy nó sẽ chỉ trì hoãn việc thực hiện các quy định như vậy và không hạn chế thách thức trong việc tiếp cận chăm sóc y tế mà các hiệp ước TPP hiện nay đặt ra.

    Goto nói: “Trong khi Hoa Kỳ đã đề xuất các biện pháp miễn thuế cho một số quốc gia, cụ thể là Malaysia, Mexico, Peru và Việt Nam khỏi một số các bằng sáng chế quy định nghiêm ngặt hơn trong một thời gian hạn chế, các bên đối lập lo ngại rằng các biện pháp đó vẫn không đủ để giữ giá thuốc hợp lý cho tất cả những người cần nó, bất kể họ sống ở đâu.”

    Bà nói thêm rằng đề xuất của Mỹ cho các nước thu nhập cao và thu nhập thấp được dựa trên phân loại của Ngân hàng Thế giới, mà chính nó đã bị tấn công từ nhiều tổ chức phi lợi nhuận. Cụ thể, có những mối quan tâm mà xảy ra ngay cả ở các quốc gia giàu có như Hoa Kỳ; vẫn có tỷ lệ lớn dân số Mỹ vẫn phải vật lộn để trả tiền cho các loại thuốc cần thiết. Thách thức của giá thuốc phải chăng và nhu cầu đối với các thuốc generic là toàn cầu, không chỉ giới hạn đơn giản là cho các quốc gia nghèo hơn. Như vậy, động thái tăng giá thuốc tiếp tục được cho là bất hợp lý.

    Rohit Malpani, Giám đốc Chính sách & Phân tích, Tổ chức Thầy thuốc không biên giới (MSF) – Chiến dịch tiếp cận, chỉ ra rằng TPP là một sản phẩm từ những nỗ lực của các công ty dược đa quốc gia đã không chỉ thuyết phục Mỹ để đảo ngược ‘Hiệp định mùng 10 tháng Năm” dưới TPP, nhưng cũng đã thuyết phục được Đại diện Thương mại Hoa Kỳ để giới thiệu một loạt các TRIPS khác cộng với các quy tắc mà sẽ có tác động tiêu cực về cạnh tranh chung và tiếp cận với thuốc.

    “Liên quan đến sở hữu trí tuệ và tiếp cận với các loại thuốc, Mỹ đã quyết định loại bỏ hai TRIPS cộng với quy tắc mở rộng bảo hộ độc quyền cho các loại thuốc, giữ thuốc generic giá rẻ ra thị trường. Cụ thể, Mỹ đã quyết định loại bỏ nghĩa vụ xung quanh mở rộng hạn bằng sáng chế và bằng sáng chế liên kết. Ngoài ra, Mỹ đã quyết định giảm mức độ nghiêm trọng các quy tắc liên quan đến dữ liệu độc quyền. Ngành công nghiệp dược phẩm đa quốc gia đã rút hỗ trợ cho ba hiệp định thương mại tự do, và đã dành nỗ lực đáng kể để giúp Mỹ đảo ngược chính sách này. ”

    Tuy nhiên, David Brown, một chuyên gia tại Việt Nam cảm thấy tác động có thể của TPP về giá dược phẩm hoặc tính sẵn dùng dường như không phải là một chủ đề cộng đồng quan tâm tại Việt Nam.

    “Tôi không thấy có những câu chuyện về viễn cảnh của giá dược phẩm (trên phương tiện truyền thông đại chúng). Một phần rất lớn thông tin đại chúng đã theo quan điểm cho rằng TPP, nếu nó có hiệu lực, sẽ là một lợi ích rất lớn đối với thương mại của Việt Nam, nếu không phải là một điều tốt không đủ tiêu chuẩn. ”

    Những gì ở Việt Nam hiện nay dường như đang tập trung vào là các ưu đãi khi là một phần của TPP. Triển vọng tăng trưởng kinh tế dường như được ưu tiên hơn các vấn đề “khác”.

    Theo các chuyên gia, nếu ký hiệp ước có thể làm tăng GDP của Việt Nam tới 37.5 tỷ $ với giá trị xuất khẩu đạt 307 tỷ $ vào năm 2025 thông qua TTP. Đã có 50% của giá trị đầu tư nước ngoài của Việt Nam bắt nguồn từ các nước TPP. Năm 2013 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng 21,3%.

    Như Goto nói: “Đối với Hà Nội, câu hỏi là liệu những lợi ích sẽ thấy từ việc trở thành một đối tác đầy đủ và bình đẳng hơn trong nền kinh tế toàn cầu tích hợp cao có thể sẽ bù đắp một số thỏa hiệp phải thực hiện không. Theo ước tính, kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng tới 10% trong năm năm tiếp theo như một kết quả trực tiếp của việc gia nhập TPP. Điều đó rõ ràng sẽ là một sự khích lệ cho Đảng Cộng sản cầm quyền trong việc tập trung vào giải quyết vấn đề đói nghèo và nâng cao hiệu quả kinh tế. ”

    Vì vậy, trong khi thỏa thuận này có thể mang lại kết quả có lợi cho Việt Nam, vân còn những bằng chứng khá rõ ràng về chi phí cao và khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Vẫn còn phải chờ xem Việt Nam sẽ quản lý như nào để cân bằng lợi ích của sức khỏe cộng đồng và lợi ích kinh tế.

    Hải Huy


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập: Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s