Liêu xiêu nơi cuối Việt (2 kỳ)

Kỳ 1: Những ngôi làng vắng bóng phụ nữ

() – Số 59 HOÀNG VĂN MINH – HỮU DANH – 7:36 AM, 16/03/2015
Ngày càng có nhiều đàn ông miền Tây ở nhà chăm con, làm việc nhà… để vợ đi làm xí nghiệp. Ảnh: H.V.M

 
Sau khi báo Lao Động số ra ngày 8.10.2014 đăng loạt phóng sự “Đi làm từ 3h sáng”, kể về thân phận những người phụ nữ ở nhiều địa phương miền Tây phải thức dậy từ khuya để đón xe lên Sài Gòn làm công nhân, nhiều bạn đọc hỏi đầy bức xúc: Vậy chồng của những phụ nữ đó làm gì trong khi vợ vắng nhà? Chúng tôi ngược về miền Tây cuối Việt. Câu hỏi “đang làm gì” hóa ra không dễ trả lời trước thực trạng “liêu xiêu” từ con người cho đến kết cấu xã hội…

Kết cấu xã hội ở miền Tây đã và đang bị phá vỡ từ những gia đình. Bây giờ ở Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, Trà Vinh, Tây Ninh…, đến đâu chúng tôi cũng gặp những ngôi làng ban ngày chỉ toàn đàn ông bởi phụ nữ bận “đi làm xí nghiệp” để kiếm tiền, tức làm công nhân cho một công ty nào đó ở Long An, Sài Gòn, Tây Ninh… Trong lúc ngược lại các ông chồng cam chịu ở nhà đi chợ, nấu cơm, chăm lo nhà cửa…

Đi chợ nấu cơm…

9h sáng, nhưng dưới gốc sanh trước sân nhà anh Bí (ấp Phước Hưng, xã Phước Chỉ, Tràng Bảng, Tây Ninh) đã bày cuộc nhậu. Ba người, tất nhiên là đàn ông, ngồi trấn 3 góc chễm chệ, trên bàn đá là 10 ngàn rượu gạo đựng trong chai nhựa trắng xỉn màu đặt cạnh con cá rô rán bằng 3 ngón tay tơi tả trên đĩa. Trong 3 người đó không có anh Bí, bởi anh bận cắt cỏ ở trước sân cho bò. “Anh em ở quanh đây cả thôi”- anh Bí trả lời thắc mắc của chúng tôi về lai lịch bạn nhậu. “Nhưng sao giờ này đã nhậu?”. Anh Bí gãi đầu, như thể mình là người trong cuộc: “Vợ đi làm xí nghiệp cả. Giờ không có việc gì làm nên tụ lại uống trà nói chuyện, rồi nhạt mồm nên lai gai (lai rai) một tí”. “Thế sao anh không lai gai?”. Anh Bí lại gãi đầu: “Cũng có chút đỉnh. Nhưng bận cắt cỏ cho con bò đang đói, nên lâu lâu em mới đứng lên làm một ly”.

Ngôi nhà, chính xác hơn là cái chòi lá của anh Bí bên trong huơ hoác, không có vật dụng gì đáng giá ngoài cái tivi đời cũ phủ đầy mạng nhện. Bếp núc lạnh, chén đũa chỏng chơ; trên giường chăn chiếu bừa bộn, ngay cả màn chủ nhân cũng không thèm vén lên khi thức dậy. Nhìn qua là biết nhà này có phụ nữ cũng như không. Anh Bí thanh minh: “Hơn 6 năm nay rồi, vợ em đi làm xí nghiệp ở Mộc Bài từ sáng sớm đến tối mịt mới về. Ngày nào cũng như ngày nào, vợ em bị bệnh tim, về tới nơi nằm vật ra thở vì mệt, có khi thân thể đau nhức, em còn phải đấm lưng, bóp chân nên nhà cửa mới bừa bộn thế này”. Anh Súng, hàng xóm anh Bí đang nhậu ngoài sân góp chuyện: “Vợ em không đau ốm gì nhưng về nhà nó cũng nằm, không chịu dọn dẹp nấu nướng gì cả. Phụ nữ đi làm xí nghiệp sau một thời gian toàn vậy, sướng quá nên quên hết cách làm việc nhà”.

Anh Bí kể, nhà không có ruộng, nên mọi chi tiêu trong gia đình 4 người gồm vợ chồng và 2 con nhỏ chủ yếu dựa vào đồng lương xí nghiệp hơn 3 triệu đồng một tháng của vợ. Đã thế 2 con của anh, đứa lớn bị bệnh liên quan đến thận đã một lần phẫu thuật nên sức khoẻ rất yếu; đứa nhỏ 3 tuổi hòn dái bên phải bỗng dưng sưng to như quả trứng ngỗng. “Bệnh viện ngày nào cũng hối lên phẫu thuật nhưng chưa có tiền nên em cứ khất. Ngay cả bản thân em hình như cũng bị bệnh gì đó nhưng không dám đi khám…”- giọng Bí nghèn nghẹn. Thấy hoàn cảnh gia đình anh Bí khó khăn, chính quyền xã Phước Chỉ cho anh mượn một con bò cái, nhưng không hiểu sao nuôi đã hơn năm, nhảy đực cả chục lần mà vẫn chưa mang thai.

Anh Bí, cũng như các anh Năm Tài, anh Súng, anh Sanh, những người đang “lai gai” dưới gốc cây sanh và hàng trăm ngàn đàn ông có vợ “đi làm xí nghiệp” khác ở những ngôi làng ban ngày chỉ toàn đàn ông khắp các tỉnh miền Tây mà chúng tôi khảo sát, gần như có công thức chung về công việc: Đi chợ nấu cơm, đưa đón con đi học, xử lý vài việc vặt trong nhà, ngoài ruộng (nếu có ruộng) và nhậu…

Không tuyển công nhân nam

Những người đàn ông có vợ “đi làm xí nghiệp” thường là không có ruộng, hoặc nếu có thì cũng chẳng bao nhiêu, lại “máy móc làm là chủ yếu” nên phần lớn rơi vào cảnh thất nghiệp, trông chờ vào lương công nhân của vợ. Anh Súng than thở sau khi uống ực một ly rượu: “Làm thằng đàn ông mà ăn bám vợ cũng nhục lắm. Hôm nào nó đi làm về đúng giờ thì không sao. Những hôm phải tăng ca về muộn, thấy tui nhậu là nó chửi té tát như chửi con, thậm chí còn xỉa xói, nói tục, ức lắm nhưng phải cắn răng không dám nói lại một tiếng vì vợ là người làm ra tiền”. Chúng tôi không nhịn được cười khi nhớ đến câu bình của ông Út Huy – một nông dân làm ăn lớn, mỗi năm đóng thuế cho địa phương hơn 300 tỉ đồng ở huyện Đức Hoà (Long An): “Những thành phần như thế này được cái là biết… sợ vợ, luật bù trừ mà”. Nhưng không phải ai cũng biết sợ vợ như tổng kết của ông Út Huy.

“Cứ 10 người có vợ đi làm xí nghiệp thì có đến 2-3 người suốt ngày ghen tuông bóng gió, thậm chí còn hành hạ, đánh đập… vì không hiểu sao vợ mình đi làm xí nghiệp kiểu gì mà ngày càng trắng da, dài tóc, lại có nhiều biểu hiện lạ, chồng đòi chuyện ấy thì tránh như tránh hủi” như lời của anh Tiến, người có vợ “đi làm xí nghiệp” ở xã Phước Lu (huyện Phước Chỉ, tỉnh Tây Ninh) nói với chúng tôi.

“Nhưng vì sao không xin đi làm xí nghiệp như vợ để kiếm thêm thu nhập mà lại cam chịu cảnh ở nhà đi chợ nấu cơm và nhậu giết thời gian?”- chúng tôi thắc mắc. “Cũng đã đi xin, nhưng người ta nói chỉ nhận nữ chứ không nhận nam. Mà không chỉ dân thường như chúng tôi đâu, ngay cả bộ đội xuất ngũ người ta cũng không nhận”- anh Súng giải thích. “Thật ra”- anh Năm Tài ngập ngừng: “Cách đây mấy năm bên Mộc Bài người ta cũng có nhận công nhân nam. Tuy nhiên sau đó liên tục xảy ra đình công, đánh nhau đến mức Công an tỉnh Tây Ninh phải điều lực lượng cơ động xuống giải quyết. Nguyên nhân chủ yếu do những nam công nhân là người địa phương cầm đầu, xúi giục gây ảnh hưởng, thiệt hại lớn đến việc sản xuất của người ta nên từ đó họ không nhận nam vào làm công nhân nữa”.

Lời anh Năm Tài làm chúng tôi nhớ đến ông Nguyễn Văn Út – Chủ tịch UBND huyện Đức Hoà, tỉnh Long An, nơi có hàng chục ngôi làng vắng bóng đàn bà do bận “đi làm xí nghiệp”. Chính ông Nguyễn Văn Út cũng thừa nhận một thực tế đau lòng là huyện ông có hơn 40.000 công nhân đang làm việc trong các nhà máy trên địa bàn, nhưng chỉ có 1/3 là người địa phương, trong đó hầu hết là công nhân nữ, còn công nhân nam thì gần như không bởi “không ai dám nhận do tư tưởng ỷ lại là người địa phương nên quậy phá, đánh nhau, dẫn đầu và kích động đình công…”. Lý do nữa theo ông Út là đàn ông người Đức Hoà huyện ông thường không chịu khó như phụ nữ. “Lấy ví dụ hằng ngày làm đến 18h nghỉ, nhưng nếu ông chủ dù có năn nỉ hôm nay tăng ca đến 21h để kịp giao hàng cho ngày mai thì họ cũng không thèm làm vì bận về… đi nhậu”- ông Út thở dài.

Chuyện không nhận đàn ông địa phương vào làm công nhân giờ không còn là việc riêng của huyện Tràng Bảng (Tây Ninh) hay Đức Hoà (Long An) mà đã và đang trở thành vấn đề của toàn vùng ĐBSCL, sau “phong trào” nói không với người Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh… ở các khu công nghiệp Bình Dương mà báo Lao Động đã đề cập. Trong những ngày chúng tôi đi qua các tỉnh miền Tây để thu thập tư liệu cho loạt bài này đúng lúc dư luận xôn xao về thông tin “không tuyển công nhân người Cà Mau” đăng trên báo Lao Động. “Không tuyển công nhân người Cà Mau” – đó là chỉ thị từ lãnh đạo đến các nhân viên, khi tuyển dụng công nhân vào làm việc tại Cty TNHH kỹ nghệ gỗ Hoa Nét (Wanek, 100% vốn Hoa Kỳ, trụ sở tại Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore 2, Bình Dương).

Cụ thể hơn, trưởng phòng nhân sự của công ty này đã gởi thư điện tử hàng loạt cho cấp dưới để truyền đạt nội dung: “không tuyển các công nhân tóc dài, đầu trọc, xăm mình, tóc nhuộm loè loẹt, tay chân có nhiều sẹo nghi ngờ dùng chất kích thích. Không tuyển công nhân người Cà Mau. Không tuyển công nhân không làm được ca đêm”. Lý do mà lãnh đạo công ty này đưa ra để giải thích cho việc không nhận người Cà Mau (thời điểm đầu năm 2013) vì “tình hình công nhân thời điểm đó rất phức tạp; công an đã theo dõi nhiều thành phần công nhân có các hành vi phạm pháp, gây rối…; nhằm bảo đảm an toàn cho công ty, không để công nhân kết bè phái quậy phá…”.

*****

LIÊU XIÊU NƠI CUỐI VIỆT (KỲ II):
Không còn động lực làm giàu

Một ngày công của lao động miền Tây giờ chỉ còn 4 tiếng. Ảnh: H.V.M

 
TS Trần Hữu Hiệp – Vụ trưởng Vụ Kinh tế – Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ – nhận xét thú vị về chuyện nghèo ở miền Tây: Ở vựa lúa miền Tây, đã từ lâu không còn “nghèo đói” mà chỉ có “nghèo khó”. Không có ai chết đói vì nghèo, nhưng “nghèo đều”, hiện còn 6,5% số hộ cận nghèo, cao hơn cả Tây Nguyên…

Một ngày làm… 3 tiếng

TS Trần Hữu Hiệp bảo, bây giờ vấn đề việc làm và nạn thất nghiệp ở nông thôn khu vực miền Tây đang nan giải. Ông kể: “Anh em tôi ở quê, nhiều người cũng không có việc làm, khổ lắm. Làm ruộng cả năm không dư được 2 triệu đồng, nên khi lên thành phố làm công nhân, kiếm được 3 triệu một tháng, mừng lắm…”. Đem chuyện này kể với “điền chủ” Út Huy – người đang sở hữu hơn 500ha đất, ông trả lời bằng một cách nhìn khác: “Nói người nông dân ở miền Tây không có việc làm cũng đúng, nhưng chưa đủ. Bởi không có việc làm, sao chỗ tôi vào bao nhiêu nhận bấy nhiêu, lại thuê không ra người, mặc dù họ đang ở không và ruộng đất bỏ hoang – nhiều vô kể? Nói chính xác, hiện họ không có động lực để sản xuất, làm việc, cũng như vươn lên, làm giàu. Người ta hay nói mùa nông nhàn, nhưng thực tế, nông thôn bây giờ không còn mùa nông nhàn, bởi công việc lúc nào cũng có. Nông thôn bây giờ chỉ có những người không chịu làm việc”.

Ông Út Huy nhắc chúng tôi nhớ, anh Lê Văn Bình ở ấp 2, xã Bình Đức (huyện Bến Lức, tỉnh Long An) cứ thấp thỏm đứng ngồi không yên bởi những ruộng mía nhà anh đã sắp trổ bông, mà những người đốn mía thuê (chủ yếu là người Khmer) đã đặt cọc trước ở dưới Sóc Trăng, Trà Vinh… vẫn chưa thấy lên. Hỏi sao không thuê người địa phương cho khoẻ mà phải dài cổ ngóng chờ lao động ở xa đến mấy trăm cây số? Anh Bình bức xúc: “Người địa phương họ không chịu làm. Mà có làm cũng làm kiểu công tử, không ai chịu thấu”. Anh Bình kể 7 năm về trước, người đốn mía thuê ở Bến Lức chủ yếu là người địa phương. Lúc đó, họ làm công một ngày 8 tiếng, nhưng dần dần bớt thời gian xuống và đến thời điểm này, ngày công của họ chỉ còn… 4 tiếng. Trong khoảng 4 tiếng đó, họ có đến 3 quãng nghỉ giải lao, mỗi quãng mất… 15 phút để thuốc men, trà nước. “Việc đang cần gấp, tui đề nghị họ làm thêm 4 tiếng nữa và chấp nhận trả công gấp đôi, nhưng họ lắc đầu vì buổi chiều đã có độ nhậu!” – anh Bình lắc đầu. Đáng nói, một ngày công 4 tiếng, trong đó có 45 phút giải lao không phải là chuyện riêng của Bến Lức mà đã trở thành “luật lao động” của toàn vùng ĐBSCL, kiểu như công chức thì phải làm việc ngày 8 tiếng vậy.

Với câu hỏi “Vì sao không đi làm?”, ở xã Phước Chỉ (Tràng Bảng, Tây Ninh) chúng tôi còn nghe được câu trả lời khó tin hơn từ những người nông dân ngày chỉ dám ăn hai bữa vì không có tiền: “Ở đây không có việc gì làm cả nên nhậu giết thời gian. Chẳng lẽ bây giờ đi hái ớt thuê cho người ta để lấy công 5.000đ/kg? Làm vậy coi sao được?”. Và tất nhiên, “làm vậy coi sao được” cũng không phải là chuyện riêng của Phước Chỉ. Đến đây lại nhớ câu nói, nhiều người miền Tây không thực sự cảm thấy “cái nhục nghèo”, coi nghèo khó của bản thân, gia đình là chuyện bình thường của TS Trần Hữu Hiệp và ví von rất hình tượng của ông Út Huy: “Người miền Bắc, miền Trung chịu cực rất giỏi nhưng họ quyết không chịu khổ nên họ luôn tìm cách vươn lên trong cuộc sống, còn người miền Tây, ngược lại, họ chịu khổ giỏi nhưng lại rất yếu trong chịu cực, nên sống chây ì, mặc kệ”. Ông Út Huy nói thêm: “Phần lớn lao động nông nghiệp hiện nay đang hứng lao động đào thải từ công nghiệp – tức những người đã hết tuổi làm công nhân. Những đối tượng này quen ở trong mát, nên rất ngại lội ruộng và không đủ sức khoẻ để làm việc nặng nhọc”.

U ám…

Vì sao nông dân miền Tây nghèo, không có động lực sản xuất với ruộng vườn đang bỏ hoang của mình mà lại lũ lượt di cư đi Sài Gòn, Bình Dương làm công nhân (ĐBSCL là vùng có số dân di cư cao nhất nước) trong trong điều kiện thiếu kiến thức, chủ yếu là lao động phổ thông và một bộ phận lao động nữ hành nghề “nhạy cảm”? Ông Út Huy trả lời: “1ha đất trồng lúa một năm không thu lãi được 30 triệu đồng, trong khi đi làm công nhân một năm thu được hơn 30 triệu mà không lo lỗ lãi, nắng mưa, sâu bệnh… nên họ chọn phương án lên thành phố làm công nhân cho khoẻ”.

TS Trần Hữu Hiệp chi tiết hơn: Nghèo có nhiều loại: Nghèo do không có đất, thiếu đất sản xuất; người có đất thì thiếu vốn, kiến thức, do bí lối làm ăn; nghèo do thiếu phấn đấu vươn lên, do chính sách hỗ trợ của Nhà nước chưa hợp lý, thiếu lồng ghép giữa phát triển kinh tế với giải quyết vấn đề xã hội… Theo ông, nhiều chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tín dụng chính sách, xây dựng nông thôn mới, đào tạo nghề lao động nông thôn… ở ĐBSCL đã được thực thi hiệu quả. Nhưng cũng cần thẳng thắn nhìn nhận, còn nhiều bất cập trong cơ chế, chính sách và công tác giảm nghèo. Ngay cả đào tạo nghề cũng có tình trạng “ngồi nhầm lớp” nên chưa gắn được với tạo việc làm bền vững. “Ngồi nhầm lớp” – một thực trạng cười ra nước mắt chúng tôi từng chứng kiến: Nguyên một ấp mấy trăm phụ nữ ở Cà Mau được vận động đi học nghề… nấu ăn! “Cả ấp ai cũng có nghề nấu ăn, nên chúng tôi học xong chỉ biết hành nghề bằng cách… làm đồ nhậu cho chồng” – một học viên vừa tốt nghiệp ca thán. Có nơi, người ta “lùa” đàn ông cả ấp đi học… “trồng cây gì, nuôi con gì” như kiểu khuyến nông, chủ yếu gom cho đủ lớp để giải ngân…

Một kết quả nghiên cứu về “Chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo” của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL cho thấy, bình quân đất sản xuất 0,4ha/hộ, quy mô nhỏ lẻ nên thu nhập chia cho số nhân khẩu trong hộ thuần nông còn thấp hơn mức thu nhập 1 USD/người/ngày. Có người ví, chưa đủ mua nửa tô phở! Bức xúc đang nổi lên của toàn vùng ĐBSCL hiện nay là hạt gạo bị cắn chia làm “tám phần”; con cá tra, cây mía bị chặt làm nhiều khúc nhưng phần của người nông dân được nhận lại quá nhỏ và bất hợp lý, không tương xứng với công sức họ bỏ ra. Ví dụ con cá tra. Nếu bán có lời – hết 70% tiền lời là những người trung gian hưởng. Nhưng nếu lỗ thì người dân chịu hoàn toàn. TS Trần Hữu Hiệp cay đắng: “Câu chuyện sản xuất ở ĐBSCL hiện nay như cái đòn gánh. Một bên là đầu vào nặng trĩu giá vật tư, phân bón, tiền lãi vay; một bên là đầu ra với giá cả bấp bênh, phập phù theo giá thị trường sớm nắng chiều mưa, nên người nông dân ở giữa cứ bước liêu xiêu, liêu xiêu rất tội nghiệp”.

Những gì đã kể, cùng hình ảnh bước chân nông dân liêu xiêu làm chúng tôi nhớ đến một thực tế báo động khác: Số người tự tử ở miền Tây ngày càng tăng cao. Chỉ riêng tỉnh Long An, thống kê chưa đầy đủ năm 2014 đã có hơn 1.053 ca tự tử! Thạc sĩ Lê Thanh Liêm – Giám đốc Sở Y tế tỉnh Long An – lý giải đó là “trạng thái tâm lý xã hội” do thực tế nghèo khó, bí bách, không lối thoát… Còn nhà nghiên cứu văn hoá Nguyễn Hữu Thông – nguyên Phân Viện trưởng Phân Viện Văn hoá – nghệ thuật VN tại Huế – lý giải, đó là hệ luỵ của “nền văn hoá rượu cồn”. Ông nói: “Rượu nhiều cộng với cuộc sống bức bách, lại không bị chi phối bởi những ràng buộc gia đình, dòng họ như miền Bắc, miền Trung nên họ rất dễ chọn cái chết để giải thoát bản thân…”.

Từ những mảnh đất xanh – vùng đất hứa của cả nước, giờ đây, sau mấy chục năm, miền Tây cuối Việt đang trở thành “túi nghèo” của cả nước với một nền nông nghiệp bị “bỏ hoang” cùng những kết cấu xã hội và các giá trị đạo đức bị xáo tung, đảo lộn… Bất lực trước thực trạng người dân “vựa lúa” đang nghèo khó và thiếu động lực làm ăn – cảm nhận của TS Hiệp. Ông nói: “Tôi không muốn nói là u ám, nhưng đúng là là rất… u ám”. Và chúng tôi ám ảnh mãi bởi câu hỏi – tự trả lời của ông trước khi chia tay: “Người dân có muốn làm giàu, muốn nâng cao thu nhập trên ruộng vườn của mình không? Họ có muốn cũng không được với cơ chế như hiện nay”.

Để người dân ĐBSCL có động lực sản xuất, vươn lên thoát nghèo, thay đổi thực trạng “liêu xiêu”, cần có sự vào cuộc nghiêm túc của hệ thống hoạch định chính sách từ địa phương đến T.U. Trước hết, cần có những sửa đổi cực kỳ mạnh dạn để chuyển đổi nông nghiệp sang một mô hình khác, chứ cứ lắt nhắt một ít chính sách trợ giúp tạm trữ, một ít chính sách hỗ trợ vốn, một vài dự án hỗ trợ KH-KT… có tính đối phó, theo đuôi thiệt hại như vừa qua, rõ ràng không ăn thua. Quan trọng nhất, phải khắc phục tư tưởng “làm chơi ăn thiệt”, “chơi xả láng, sáng về sớm”. Mỗi người dân phải thực sự cảm thấy “cái nhục nghèo” để phấn đấu vươn lên.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Tư duy tích cực mỗi ngày

%d bloggers like this: