Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 4 (PHẦN 3)

Người dịch: Nguyễn Thùy Dương
Biên tập: Đào Thu Hằng

MỆNH LỆNH NĂNG LƯỢNG BẮT BUỘC: 
100% TÁI TẠO NGAY BÂY GIỜ  

CHƯƠNG 4:  TĂNG TỐC (Phần 3) 

4A. NHỮNG LÀN SÓNG CỦA HỆ THỐNG:
Tiềm năng phát triển công nghệ cho tự chủ về năng lượng (tiếp)

Tiềm năng mới trong tích trữ và dự trữ

Một số lựa chọn công nghệ trong số này cho phép tái tạo năng lượng kết hợp với tích trữ năng lượng. Còn có một số lượng lớn những lựa chọn khác. Trong nhiều thập kỉ, rất ít cải tiến được thực hiện để cải thiện hiệu suất của pin bởi vì sự rõ ràng là thiếu nhu cầu. Điều này chỉ thay đổi với nhu cầu tăng cao về những hệ thống tích trữ năng lượng vi mô dành cho điện thoại di dộng, máy tính cá nhân và ô tô chạy trên động cơ lai tạo (hybrid cars). Những thiết bị truyền thông không dây mạnh mẽ đã không bao giờ thành công đến như vậy nếu không có sự phát triển của các cơ chế tích trữ năng lượng điện hóa mật độ cao cực nhẹ và bền. Việc sản xuất hàng loạt ô tô điện sắp tới đảm bảo những bước nhảy vọt xa hơn nữa trong quá trình phát triển công nghệ. Pin ion Lithium nhận được sự quan tâm gần đây không phải là công nghệ tích trữ điện hóa mới duy nhất; những công nghệ khác bao gồm pin dòng chảy oxi hóa khử (redox flow battery) và pin sodium-sulphur. Một số loại pin đạt tới dung lượng 100 megawatt.

Đứng trên quan điểm thực tế, thật vô lý khi đòi hỏi các công suất tích trữ toàn diện phải được lắp đặt trước khi khả thi hoặc là có trách nhiệm để mở rộng sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo: những khoản đầu tư vào các công suất tích trữ điện sẽ chỉ phản ánh các cấp độ thực tế của sản xuất điện và được thiết kế chỉ để đáp ứng những điều kiện của hệ thống tích trữ có sẵn – mà không phải ngược lại. Khi có một nhu cầu cụ thể về kích cỡ công suất tích trữ, đầu tư sẽ đi theo đó. Đây là quá trình ẩn phía sau mọi phát triển công nghệ: nhu cầu tuyệt đối khuyến khích đầu tư và kích thích sáng tạo hơn nữa.

Những người tham gia trong hội nghị hàng năm về tích trữ năng lượng tái tạo quốc tế (IRES), một hội nghị được điều hành bởi EUROSOLAR và Hội đồng quốc tế về năng lượng tái tạo 59  đã chỉ ra rằng những công nghệ tích trữ năng lượng mới đã sẵn sàng ra thị trường: pin cỡ lớn cho phép cung cấp điện năng liên tục cho toàn bộ vùng, điện năng này được sản xuất hoàn toàn từ năng lượng mặt trời và năng lượng gió; bình chứa nhiệt dùng cho đốt nóng ở nhiệt độ cao và thấp; lưu trữ dưới lòng đất; các bánh xe quay với số lần quay vòng nhiều hơn; sử dụng theo mục đích quá trình đồng phát cho các nhu cầu điện. Một trong những phương pháp đơn giản nhất của tích trữ năng lượng đang được thực hiện ở Đan Mạch dưới dạng nước nóng được sử dụng trong động cơ Stirling để sản xuất điện và chỉ yêu cầu  ở 70°C.

Sự sáng tạo đằng sau những phát triển trong các công nghệ tích trữ năng lượng được minh chứng bởi một công nghệ lần đầu được trình diễn tại IRES năm 2009: Khí Mêtan – CH4 tổng hợp được sản xuất từ hydrogen và carbon dioxide. Khác với hydrogen nguyên chất, khí Mêtan  có thể dễ dàng được đưa vào các mạng lưới khí ga hiện hành để phân phối. Khí Mêtan có thể được chuyển dạng thành điện năng và nhiệt năng bởi cách đồng phát và cũng được sử dụng để cung cấp năng lượng cho xe hơi. Một công nghệ thú vị tương tự thêm vào phổ ứng dụng rộng rãi của khí Mêtan là: khí Mêtan cũng phù hợp cho ổn định mạng lưới ngắn hạn cũng như tích trữ theo mùa, điều mà phải được đảm bảo khi các nguồn cung dựa duy nhất vào năng lượng tái tạo. Các nhà máy đồng phát vi mô có thể cung cấp năng lượng dự trữ, và đây là mục tiêu của chương trình 100 000 nhà máy đồng phát vi mô được thiết lập bởi Volkswagen và LichtBlick, một công ty điện sinh thái của Đức. Tương tự là ứng dụng cho các hệ thống lai kết hợp sử dụng năng lượng gió, khí biogas và năng lượng mặt trời – các nhà máy năng lượng đồng vận (synergy power plants) được vận hành nhờ năng lượng tái tạo.

Năng lượng mặt trời được sản xuất từ các tòa nhà và các mái nhà đứng tự do, và năng lượng gió được sản xuất dọc theo các đường cao tốc và đường xe lửa có thể được sử dụng để sạc pin cho cả ô tô điện và tàu hỏa chạy điện. Sự phát triển của ô tô điện đồng thời mang lại công suất tích trữ khổng lồ và miễn phí một cách hiệu quả, với hệ thống tích trữ đã bao gồm trong chi phí thành phần của ô tô. Do đó ô tô điện có thể sinh lợi cả khi đang đỗ. Lựa chọn ứng dụng đôi này sẽ đặt ra một tiền lệ và châm ngòi cho việc thay đổi văn hóa cũng giống như việc sản xuất máy tính xách tay: hệ thống năng lượng mặt trời trên mái nhà được tính vào chi phí của mái nhà, và tích trữ năng lượng được tính vào chi phí của ô tô. Ai muốn dừng sự bùng nổ thị trường mà công nghệ này mang lại, và bằng các biện pháp chính trị nào? Những khoản đầu tư vào các nhà máy năng lượng cỡ lớn liệu có còn giá trị nữa không?

Các công nghệ năng lượng tái tạo là những “làn sóng phá vỡ hệ thống”. Quy mô càng nhỏ và công suất tích trữ càng lớn thì càng cần ít cơ sở hạ tầng cùng với tất cả những chi phí và hệ lụy liên quan. Những ứng dụng định dạng nhỏ hấp dẫn hơn đối với nhiều người tiêu dùng mà với họ  nền kinh tế năng lượng không khi nào lại  là một động cơ duy nhất, và những điều này kích thích một làn sóng đầu tư. Những phân tích về hiệu suất năng lượng hội tụ mọi thắc mắc về câu hỏi liệu mỗi dạng năng lượng có “trả giá” xứng đáng hay không, khi chúng ta đều áp dụng những tính toán và giá trị như nhau. Rõ ràng cách phân tích này không phản ánh thực tế. Hãy nhìn vào công nghiệp xe hơi: nếu tất cả lái xe đều chỉ được quan tâm đến giá trị của tiện ích, ví dụ nhìn vào chất lượng khi lái xe trong so sánh với giá bán và chi phí bảo trì, nếu như vậy thì giờ đây sẽ chỉ có một mẫu xe hơi trên thị trường. Toàn bộ nền công nghiệp xe hơi sẽ tiết kiệm được hàng tỉ tiêu phí trong quảng cáo sản phẩm và giới hạn các hoạt động chỉ trong phạm vi các thông số kỹ thuật công khai và các danh sách giá thành sản phẩm. Cả ngành công nghiệp quảng cáo lẫn các nhà thiết kế sẽ đều mất việc. Mặc cho những khác biệt cơ bản giữa năng lượng truyền thống và năng lượng tái tạo, không có cách hợp lý nào để mà lập luận rằng khi lựa chọn nguồn năng lượng, các quyết định được hình thành chỉ đơn thuần dựa trên  giá thành hiện tại. Lý lẽ này thể hiện những hạn chế về mặt khái niệm mà nhiều nhà kinh tế năng lượng đang vận dụng.

Từ xã hội năng lượng thụ động đến chủ động

Ngược lại, điều mà tất cả chúng ta muốn là tiếp cận với các nguồn cung cấp năng lượng được đảm bảo. Ở những nước đang phát triển có hàng tỉ người mà quan tâm của họ chỉ là đảm bảo  việc tiếp cận tới bất kì dạng năng lượng nào, đặc biệt là điện năng. Khi những tiếp cận năng lượng tái tạo này trở thành khả thi, kể cả qua các phương pháp  mà khác với cách truyền thống, thì sẽ làm gia tăng số lượng những người sẽ nắm bắt cơ hội này – và chi phí càng rẻ thì sự tiếp cận này càng được thực hiện nhanh. Nơi mà nơi năng lượng tái tạo có thể trở nên thích hợp nhờ những cách tự chủ, có sự biến đổi từ dạng hàng hóa thuần túy về mặt kinh tế và tiêu thụ thành dạng hàng hóa văn hóa. Đây là logic xã hội của năng lượng tái tạo: kích thích sự chuyển biến từ một “xã hội năng lượng thụ động”, thậm chí với số lượng ít hơn các nhà cung cấp có quy mô ngày càng lớn phục vụ cho một thị trường hợp nhất gồm những người tiêu thụ năng lượng có hoạch định, sang một “xã hội năng lượng chủ động”, ở đó việc cung cấp năng lượng đang ngày càng trở nên tự chủ và xuất hiện trong vô số các hình hài mới.

Sự chuyển đổi này được hỗ trợ  bởi các nhân tố kinh tế khác. Khi năng lượng sơ cấp là miễn phí và sẵn có vĩnh viễn thì giá thành của sản xuất điện năng sử dụng năng lượng tái tạo dễ tính toán hơn so với các năng lượng truyền thống với mức giá nhiên liệu đang không ngừng tăng cao. Lợi thế về mặt toán học này cũng mở rộng cho sự sẵn sàng về mặt tiêu chuẩn của các công nghệ: nơi mà việc sử dụng những công nghệ này là phi tập trung, khi đó nhu cầu năng lực địa phương có thể được tính toán chính xác, tránh sai sót trong việc đầu tư vượt mức năng lực. Ở nơi có nhu cầu phát triển công suất, những tiêu chuẩn bổ sung có thể được đặt vào hệ thống dễ dàng và nhanh chóng. Và bởi vì thời gian lắp đặt trong các hệ thống phi tập trung rất ngắn và sản lượng có thể bắt đầu thu được  ngay sau đó, việc thu hồi vốn cũng bắt đầu ngay lập tức.

Tất cả những điều này chỉ rõ tại sao tiềm năng mọc như nấm mà các công nghệ năng lượng tái tạo mang lại đang làm cản trở những kế hoạch năng lượng lâu dài, dù là cho năng lượng truyền thống hay năng lượng tái tạo. Những khoản đầu tư dài hạn trở thành sự rủi ro không thể tránh khỏi, sự rủi ro có thể chỉ bị hạn chế nhờ việc tiếp tục cố tình ngăn chặn các công nghệ năng lượng tái tạo bằng cách như là cự tuyệt sự công nhận cấp phép, và cấm đoán sử dụng, bắt buộc liên kết và sử dụng, hay những khoản trợ cấp trực tiếp và gián tiếp cho các nhà cung cấp trong các cấu trúc tập trung hóa, ngay chính trong những hạn chế việc nhập khẩu các công nghệ năng lượng mới ở những nước mà các công nghệ này không được sản xuất. Những rủi ro trong việc đối mặt với các nhà đầu tư lớn chỉ có thể được giảm bớt nhờ những cách can thiệp về mặt chính trị. Nếu các công nghệ năng lượng tái tạo được chấp nhận cho tự do phát triển, những khoản đầu tư vào các nhà máy cỡ lớn và các cơ sở hạ tầng trên diện rộng sẽ trở thành thảm họa ở tầm nhìn trung hạn, bởi vì các mức độ công suất sử dụng sẽ tiếp tục sụt giảm.

Sự thật rằng những nhà máy năng lượng sẽ trở thành không có hiệu quả kinh tế khi vận hành và cần phải ngừng hoạt động thực ra chỉ là một vấn đề tương đối nhỏ, bởi vì chỉ chính các trung tâm vận hành của nhà máy năng lượng mới bị ảnh hưởng. Một vấn đề mang tính tổng quát hơn đó là ở những cơ sở hạ tầng trên diện rộng, từ các đường ống dẫn khí ga và dầu qua những hệ thống phân phối điện áp cao và cao thế nhất trong truyền tải điện, nơi  mà sản lượng vùng sẽ giảm nhu cầu cho các đường truyền tải trong khoảng cách xa. Những người tiêu dùng vẫn phụ thuộc vào các hệ thống không được tận dụng hết công suất chắc chắn sẽ bị ép phải chấp nhận những khoản đóng góp lớn hơn cho chi phí truyền tải. Và điều này ngược lại sẽ củng cố xu hướng cung cấp năng lượng tự chủ, khiến cho việc duy trì hệ thống cũ thậm chí còn đắt đỏ hơn nữa. Khi những công nghệ năng lượng tái tạo tiếp tục phát triển nhanh chóng, hệ thống cung cấp năng lượng truyền thống sẽ đạt điểm tới hạn, bắt đầu từ những thay đổi ở cuối chuỗi cung ứng, kể cả trước khi hệ thống này trở nên quá hạn do những nguồn cung cấp năng lượng truyền thống đang trở nên cạn kiệt.

Để tự chuẩn bị cho sự phát triển này, chúng ta cần điều mà nhà xã hội học Oskar Negt gọi là “sự tưởng tượng xã hội học và bài học từ các ví dụ”: sự gia tăng số lượng của “những ví dụ thực hành tốt nhất” sẽ phát triển thành một phong trào xã hội rộng khắp.

(còn tiếp)

© 2014 copyright Verlag Antje Kunstmann GmbH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Bản quyền bản dịch:  dotchuoinon.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s