Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 2 (PHẦN 5)

Người dịch: Đào Thu Hằng

MỆNH LỆNH NĂNG LƯỢNG BẮT BUỘC:
100% TÁI TẠO NGAY BÂY GIỜ

CHƯƠNG 2: Phương Pháp Và Tâm lý Của Sự Trì Hoãn
(Phần 5)

2A. Chủ nghĩa tối giản có tổ chức: Bẫy khái niệm của các hội nghị khí hậu thế giới và giao dịch thương mại phát thải (tiếp theo)

Lời mời cho lạm dụng

Ngay cả khi đã được thực hiện đúng như ý định, các công cụ linh hoạt vẫn có những nhược điểm nghiêm trọng và thậm chí thành một lời mời gọi rõ ràng cho việc gian lận và lạm dụng các công cụ đó, bằng chứng là vụ bê bối được phát hiện bởi Europol, cơ quan cảnh sát của EU, vào tháng 1 năm 2010.

Những điều tra của Europol đã tiết lộ rằng trong vòng 18 tháng trước đó, các công ty đã gian lận các nước thành viên EU để lấy 5 tỷ Euro trong khoản tiền thu được từ giao dịch thương mại cacbon. Các chứng chỉ đã được bán lại nhiều lần và đã trốn được khoản thuế doanh thu. Tại một số quốc gia thành viên EU, có tới 90% tất cả các giao dịch chỉ để có lợi cho việc tránh thuế. Trong khi đó, Liên Hợp Quốc cũng đã phát hiện ra tình trạng lạm dụng lên tới con số hàng tỷ Euro. Một báo cáo được công bố tháng 7 năm 2010 chỉ ra rằng 22 nhà sản xuất hóa chất ở các nước đang phát triển đã cố tình thao túng thị trường mua bán chứng chỉ cacbon.

Tập đoàn năng lượng RWE đã đầu tư vào xây dựng một nhà máy điện đốt than ở Trung Quốc với ý định giảm phát thải 460 000 tấn CO2 đầu ra. Công ty này có thể sử dụng khoản tín chỉ giảm phát thải CO2 này để bù trừ cho việc xây dựng các nhà máy điện đốt than ở Đức mà sau đó sẽ thải ra lượng bổ sung đó. Tuy nhiên, vấn đề là, dù thế nào chăng nữa các nhà máy điện của Trung Quốc vẫn sẽ được xây dựng. Cơ chế phát triển sạch (CDM) chỉ được thiết kế như một công cụ cho những đầu tư bổ sung để nhằm làm giảm CO2 mà chưa được quy hoạch.

Vì vậy RWE đã thành công trong việc giảm đi các nghĩa vụ của mình tại nhà máy điện ở Đức trong khi cùng lúc mở rộng việc ảnh hưởng kinh doanh của mình tại Trung Quốc, nơi mà lượng khí nhà kính bổ sung nhiều hơn nữa sẽ được thải ra. Đây là một trường hợp cải thiện mức cân bằng phát thải CO2 ở Đức bằng cách tạo ra một sự gia tăng phát thải CO2 toàn cầu! RWE tuyển dụng khoảng 40 thành viên trong đội ngũ nhân viên của mình chỉ để mua chứng chỉ phát thải. Điều này hiển nhiên không phải là trường hợp duy nhất của thị trường này; và cũng không kém phần chắc chắn là các tổ chức khác cũng hoạt động một cách tương tự (như cách của RWE).

Khi mà việc lạm dụng như vậy xảy ra ở các quốc gia có một nền dân chủ công khai và một nền hành chính công tương đối hiệu quả, thì chúng ta có thể thừa nhận rằng tình hình ở nhiều quốc gia với cơ cấu hành chính ít minh bạch hơn thì còn tồi tệ hơn nhiều. Sự chỉ trích đối với những công cụ bảo vệ khí hậu này ngày càng tăng, đặc biệt là từ các tổ chức môi trường – ngay cả những người từ lâu vốn đã trung thành với ý tưởng phân bổ chứng chỉ phát thải.

Có nhiều gợi ý mang những ý định tốt đẹp cho sự cải thiện như là: chứng chỉ sẽ không còn được phân phối miễn phí nữa, ít nhất là một vài trong số đó phải được bán đấu giá; một giá CO2 duy nhất phải được thiết lập; Cơ chế phát triển sạch (CDM) phải được kiểm soát chặt chẽ hơn nữa để đảm bảo việc được sử dụng thực sự hiệu quả để giảm lượng khí thải CO2 bổ sung; tất cả các quốc gia, không có ngoại lệ, phải có nghĩa vụ giảm phát thải CO2. Vì sự công bằng toàn cầu, đề nghị có ảnh hưởng sâu rộng nhất chính là việc phân bổ quyền được phát thải cho mỗi cá nhân là 2 tấn CO2 hàng năm, và để tính toán nghĩa vụ của mỗi quốc gia theo kích thước dân số của quốc gia đó.

Tuy nhiên, không ai có thể giải thích làm thế nào sự đồng thuận trong các đề xuất còn chặt chẽ hơn này đến bao giờ mới có thể đạt được, khi mà những nỗ lực để bảo đảm nghĩa vụ tương đối vô hại (nghĩa vụ tối thiểu), cho đến nay phần lớn là đã thất bại. Việc đơn giản hy vọng rằng các đồng thuận có thể được thực hiện chỉ bởi mọi người đều sẵn lòng và sẵn sàng để đi theo các mô hình lý thuyết một cách nghiêm túc sẽ thất bại hoàn toàn trong việc phản ánh thực tế tình trạng chính trị-xã hội. Nhiều đề xuất cải tiến đã lờ đi việc phân tích lý do tại sao các cuộc đàm phán hiện nay đã đi theo một tiến trình đáng hổ thẹn. Có lẽ đó là vì nỗi sợ hãi phải nhận ra rằng sự tiếp cận từng được hoan nghênh đó thực ra đã sai lầm cơ bản – không ai muốn bị mất mặt cả.

Các hội nghị khí hậu thế giới đang bị mắc kẹt vào cái bẫy trong nguyên tắc cơ bản của chính mình – hay là cái chết yểu. Cần bao nhiêu hội nghị khí hậu toàn thế giới nữa trước khi chúng ta có thể thừa nhận điều này? Khi nào, và lượng khí nhà kính còn tăng bao nhiêu nữa, thì chúng ta sẽ sẵn sàng để chấp nhận sự thất bại trong thẩm quyền của các cơ quan chính phủ và tổ chức quốc tế? Khi nào chúng ta nhận ra rằng sự thất bại này trong thẩm quyền của chính quyền sẽ chỉ tăng lên và khiến cho chúng ta mất nhiều thời gian hơn nếu chúng ta không đặt dấu chấm hết cho những nỗ lực này? Điều gì đã xảy ra với chủ nghĩa hiện thực chính trị mà thường xuyên được ca tụng?

Bất chấp những hạn chế hiển nhiên, những “công cụ linh hoạt” này vẫn đang được duy trì hơn bao giờ hết bởi nhiều kiểu lý do. Quan hệ ngoại giao trong vấn đề khí hậu quốc tế, liên hệ trực tiếp giữa Ban thư ký về Khí hậu của Liên Hợp Quốc và các cơ quan có thẩm quyền quốc gia, đã trở thành một hệ thống tự phục vụ. Điều này đã dẫn đến việc tạo ra một ngành kinh doanh về bảo vệ khí hậu, bao gồm những người giao dịch thương mại phát thải, các luật sư và các thành phần cấp chứng chỉ cacbon được trả lương hậu hĩnh, từ hệ thống đó quá nhiều người đã được hưởng lợi. Điều này đã thành vỏ bọc cho những hy vọng bí mật của rất nhiều chính phủ rằng, vì những lý do của sự tư lợi cơ bản, họ có thể tránh những giải pháp hiển nhiên của việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo.

Không ai còn có thể không hay biết rằng các hội nghị khí hậu thế giới, vốn được điều hành bởi các chính phủ không thiện chí và coi thường sự đồng thuận, chẳng làm được gì nhiều hơn là các cuộc trình diễn bên lề. Khi quay lại với các thảo luận nội địa của mình, các chính phủ có thể lên tiếng cho các biện pháp nhất quán hơn trong khuôn khổ các biện pháp đã được đồng thuận trên phạm vi quốc tế, họ yên tâm vì biết rằng các biện pháp này sẽ bị giảm sức mạnh hoặc bị từ chối ở cấp độ quốc tế.

Điều này làm cho vấn đề thậm chí còn khó hiểu hơn rằng tại sao các tổ chức môi trường chủ yếu tập trung sự chỉ trích của họ về các Hiệp định hoặc chưa được tạo ra hoặc bị lạm dụng, mà ít tập trung hơn vào chỉ trích chính ý tưởng về các Hiệp định. Một số (tổ chức môi trường) thậm chí thông qua các mục tiêu đàm phán đã được thỏa hiệp – “mục tiêu 2 độ” – như là mục tiêu riêng của họ.

Chức năng sản xuất của những sáng kiến độc lập

Sự chuyển đổi năng lượng chỉ có thể đạt hiệu quả thông qua một cuộc cách mạng trong các công nghệ năng lượng. Các cuộc cách mạng công nghệ trong lịch sử công nghiệp hiện đại của chúng ta cung cấp một mô hình kiểu mẫu thích hợp. Không có mô hình nào phụ thuộc vào sự thỏa thuận quốc tế; nhiều cuộc cách mạng đã đạt được sự tương đối độc lập về chính trị. Các động lực về chính trị hoặc kinh doanh đằng sau mỗi cuộc cách mạng đã  đi nhanh hơn sự cạnh tranh và tạo ra một lợi thế cho chính nền kinh tế hoặc công ty thực hiện cuộc cách mạng đó.

Có một lý do cơ bản tại sao kinh nghiệm này không được gợi lại và sử dụng cho cuộc cách mạng trong công nghệ năng lượng – đó là các chính phủ sẵn sàng để bảo vệ ngành công nghiệp năng lượng truyền thống, và ngược lại, ngành công nghiệp truyền thống công khai chờ đợi và yêu cầu được bảo vệ bởi chính phủ của mình. Các ngành công nghiệp năng lượng truyền thống là sản phẩm của chủ nghĩa bảo hộ chính trị và đã luôn có ý định kéo dài sự tồn tại của mình bằng phương tiện là các thỏa thuận khí hậu thế giới. Cảnh báo chống lại “các sáng kiến độc lập” được thiết kế để ngăn chặn sự thay đổi đối với hệ thống năng lượng truyền thống, đặc biệt là ngăn chặn các sáng kiến quốc gia nhằm chuyển đổi sang năng lượng tái tạo.

Chúng ta liên tục nghe các biện luận giả mạo rằng không ai hưởng lợi khi một quốc gia vượt trội nhanh chóng một mình (trong việc giảm phát thải -ND). Tuy nhiên, từ lâu thực tế của những sự phát triển đã chứng minh điều ngược lại. Đạo luật các nguồn năng lượng tái tạo của Đức – EEG đã khuyến khích hàng chục quốc gia thúc đẩy năng lượng tái tạo một cách tương tự. Đạo luật này đã châm ngòi cho một động lực phát triển có tầm vóc toàn cầu. EEG là một công cụ độc lập và không liên quan gì tới Nghị định thư Kyoto. Đạo luật nhằm mục đích không chỉ bảo vệ khí hậu mà còn bảo vệ môi trường (như đã đề cập ở trên), với việc giảm đến mức tối thiểu chi phí kinh tế của việc cung cấp năng lượng bằng cách kết hợp các ảnh hưởng môi trường dài hạn vào các tính toán chi phí, để bảo vệ các nguồn năng lượng hóa thạch và để tiếp tục phát triển công nghệ năng lượng tái tạo.

Đánh giá Đạo luật EEG chỉ đơn giản dựa vào tiêu chí hiệu lực hiện tại của công cụ này trong việc giảm phát thải khí CO2 (và các chi phí liên quan) là cách sau đó đã được dùng để lên án Đạo luật này dựa trên các giả định hạn chế, và đánh giá Đạo luật từ một quan điểm hẹp hòi tương ứng. Đây là điều điển hình xảy ra khi mà sự chú ý được tập trung hoàn toàn vào vấn đề phát thải CO2.

(còn tiếp)

© 2014 copyright Verlag Antje Kunstmann GmbH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Bản quyền bản dịch:  dotchuoinon.com

Một suy nghĩ 5 thoughts on “Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 2 (PHẦN 5)”

  1. Thêm một phương pháp và tâm lý cho sự trì hoãn. Các công ty khai thác dầu và khí gas sử dụng năng lượng mặt trời cho quá trình khai thác. Đây là điều đang xảy ra

    http://www.cnbc.com/id/101995330#.

    Và tương tự đối với điện nguyên tử. Bằng cách này, các tập đoàn sẽ tạo một sự tin tưởng giả mạo “green-washing” cho các chính phủ và người dân để có cảm giác các đại gia NL hóa thạch này quan tâm đến NL tái tạo, môi trường ,lợi ích người dân trong khi doing business của mình. Những luận điểm này đều bị Scheer lật tẩy và bác bỏ .

    Thích

  2. Hi Hường, Hằng và các bạn,

    Anh nghĩ rằng có lẽ có một yếu tố khác trong tư tưởng của các kinh tế gia suy nghĩ theo tình trạng và giá cả hiện tại của năng lượng (tức là current economic reality) , mà hình như chẳng ai nhấn mạnh vào. Tức là, nếu chuyển hẳn sang NLTT thì giá NLTT cao hơn giá năng lượng truyền thống làm toàn nền kinh tế thiếu cạnh tranh.

    Đó là giá năng lượng hiện tại ảnh hưởng lớn đến vị thế cạnh tranh (competitive position) của mỗi quốc gia không những trong thị trường năng lượng mà còn trong tất cả mọi sản phẩm, vì sự sản xuất mọi thứ đều đòi hỏi năng lượng – từ nông phẩm đến xe hơi. Cho nên nếu một nước có thể sản xuất thêm năng lượng truyền thống (như Mỹ đang làm với shale oil, giúp giá xăng ở Mỹ xuống thấp) thì đó là điều quan trọng cho cạnh tranh kinh tế của Mỹ ngay lúc này.

    Xem so sánh giá xăng của các nước ở đây.

    http://www.bloomberg.com/visual-data/gas-prices/20142:United%20States:USD:g

    Tuy nhiên giá năng lượng truyền thống ở Âu châu quá cao, có thể giúp cho NLTT phát triển dễ hơn.

    Thích

  3. Hi anh Hoành và cả nhà,

    Em hiểu và đồng ý về tình hình kinh tế thực tại đặc biệt ở Mỹ. Và như anh Hoành nói một lý do châu Âu phát triển NLTT dễ hơn vì giá NLTT ở châu Âu cao hơn nhiều do châu Âu chẳng có tài nguyên dầu mỏ, khí gas gì như Mỹ mà phụ thuộc rất lớn và nguồn cung từ ngoài EU như Nga. Một số nước như Nauy rất giàu bởi vì nguồn thu từ oil and gas hay gọi là “black income” này, Nhưng cũng không thể đủ cho cả EU. EU có mỏ than đá ở Đông Âu nhưng cũng sắp cạn kiệt. Vậy nên EU họ không còn cách nào khác là thúc đẩy càng nhanh càng tốt.

    Riêng điểm đầu tư vào shale oil hay shale gas thì em phản đối vì cực kỳ tốn kém và không hiệu quả về mặt đầu tư và khai thác so với oil and gas thông thường. Trong chiến lược của EU không có shale oil and gas. Nếu dùng khoản đầu tư đó phát triển NL tái tạo thì hiệu quả hơn nhiều về mặt thời gian và môi trường.

    Tuy nhiên tư có lẽ do duy thuần túy tài chính và hiệu quả tức thời vẫn thống trị ở Mỹ và dân Mỹ nên Mỹ vẫn đổ tiền vào shale oil. Có một lý do nữa em nghĩ là vì ở Nam Mỹ như Brazil có tiềm năng lớn về shale oil nên các cty của Mỹ sẵn sàng đầu tư.

    Giá điện xăng dầu càng thấp thì lại càng được lòng dân giống như là giá xăng dầu và giá điện của VN vậy. Và giá thấp thì người dân không có demand phải thay đổi nguồn NL. Khi giá lên cao và cty và chính phủ nói là do nguồn NL mới thì người dân sẽ buộc tội năng lượng mới và ủng hộ việc tiếp tục tìm kiếm nguồn NL hóa thạch ngay tức khắc.

    Mô hình phát triển xã hội và mô hình kinh tế theo các founding fathers của cả khối EU em được nghe nói nhưng em chưa thực sự rõ giữa Mỹ và EU là có một điểm khác biệt trong ideology về tính hiệu quả và bền vững xã hội và môi trường từ người dân đến chính phủ. EU có bảo thủ hơn nhưng về mặt social cost có lẽ là giảm đi được rất nhiều so với Mỹ.

    Thích

  4. Chuyện này liên hệ đến TQ (và hơi ngoài lề NLTT).

    TQ nhập cảng xăng dầu rất nhiều, nhưng giá xăng chỉ $4.73 một gallon. So với Europe khoảng $9 một gallon, thfi giá xăng TQ rất thấp. Taì liệu này nói TQ kiểm soát giá xăng để chống lạm phát. Tức là TQ subsidize (trợ giá) cho xăng và giúp giá hàng TQ rẻ đến mức chẳng ai trên thế giới cạnh tranh được. Đó là cạnh tranh không công bình, trong một thế giới tự do cạnh tranh với WTO và đủ mọi loại hiệp định thương mại (như TPP đang đàm phán với Mỹ) cho tự do cạnh tranh.

    Nhưng chẳng thấy ai phàn nàn điều này! Kể cả các kinh tế gia của Mỹ! Crazy!

    và Trung quốc có lẽ gian lận trong nhiều điều khác như trợ giá xuất khẩu (bằng giữ đồng nhân dân tệ quá thấp) hay sử dụng trẻ em và người lao động với số lương cực thấp.

    Chẳng thấy thế giới đào sâu những vấn đề này. Mình rất chán các đầu óc của các kinh tế gia thế giới.

    Thích

  5. Em cảm ơn thảo luận của anh Hoành và Hằng, có rất nhiều điều cần ngẫm nghĩ từ những câu hỏi và vấn đề anh Hoành và Hằng nêu ra.

    Trong phần dịch này của Hằng, em thấy cái bẫy khái niệm rõ nhất ở mệnh đề này trong các cuộc Hội nghị khí hậu thế giới: “phân bổ quyền được phát thải cho mỗi cá nhân là 2 tấn CO2 hàng năm”. Con người có “quyền phát thải” không? Hay chỉ là quyền được sống và nghĩa vụ phải cố gắng hạn chế tối đa việc ảnh hưởng đến môi trường, bằng những biện pháp tốt nhất có trong tay: hiện nay đó chính là NLTT, bằng cách hướng đến mục tiêu zero-emission với 100% sức lực.

    Nhưng không, người ta suy nghĩ theo giá dầu lên xuống, theo nhu cầu kinh khủng đối với xăng dầu, theo lợi nhuận có được từ việc cung đáp ứng cầu, theo “quyền được phát thải hàng năm”,… Vấn đề trợ giá xăng dầu ở Trung Quốc, và vấn đề khai thác dầu đá phiến (shale oil) ở Mỹ đã làm tăng 50% sản lượng dầu nội địa của Mỹ kể từ năm 2008 và làm giảm giá xăng dầu 25%, khiến cho nhiều người tạm thời quên đi tất cả những mặt trái của hệ thống NL cũ. Đặc biệt là hệ thống giao thông highway kinh khủng của thế giới tiêu thụ xăng dầu không ngừng.

    Em nghĩ có lẽ chỉ có những người thực sự yêu môi trường sống tự nhiên, không muốn đặt gánh nặng lên đời đời con cháu mai sau mới nhận ra thông điệp về NLTT một cách trực tiếp mà không bị những con số đánh lừa.

    e/ Hường

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s