Cung cấp năng lượng cho Trái đất – Chương 5: Thiệt hại không mong muốn (Phần 2)

Powering Planet Earth:
Energy Solutions for the Future

by Nicola Armaroli, Vincenzo Balzani, Nick Serpone

Chapter 5: Collateral Damage – Chương 5: Thiệt hại không mong muốn (Phần 2) 

Đồng thuận hay phản đối

Những dữ liệu khoa học đầu tiên về sự gia tăng nồng độ CO2 trong khí quyển được ghi lại từ những năm 1957. Chỉ sau khi 31 năm đã trôi qua, chính phủ Hoa Kỳ mới đặt ra vấn đề này qua việc thành lập một Ủy ban đặc biệt để đánh giá biến đổi khí hậu: Ủy ban quốc tế về biến đổi khí hậu (International Panel on Climate Change – IPCC*) lần thứ nhất.

Tại hội nghị tổ chức ở Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992, IPCC đã đưa ra một Nghị định thư bao gồm các hoạt động cụ thể nhằm giảm phát thải khí nhà kính. Sau đó Nghị định thư này đã được sửa đổi và thông qua tại Kyoto, Nhật Bản vào năm 1997 – gọi tắt là Nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol). Các quốc gia tham gia cam kết giảm lượng khí thải nhà kính từ 5% đến 10% vào năm 2012 so với lượng khí thải năm 1990. Tuy nhiên Nghị định thư này không hoạt động trong một thời gian dài bởi không được Mỹ, Úc và Nga công nhận. Nghị định thư có hiệu lực vào ngày 30 tháng 9 năm 2004 sau sự công nhận của Nga. Thật không may, Nghị định thư Kyoto không tạo được ảnh hưởng lớn một phần do sự bất tuân thủ của Hoa Kỳ, quốc gia thải ra nhiều khí CO2 nhất cho tới nay và mức giảm phát thải khí dự kiến ở mức khiêm tốn nhất.

Hình 8

Hình 8: Bìa tạp chí Science ngày 24 tháng 3 năm 2006, thúc đẩy mọi người phá tan định kiến (break the ice) và chấp nhận bằng chứng hiển nhiên của hiện tượng nóng lên toàn cầu do sử dụng nhiên liệu hóa thạch quá mức. 

Trong những năm gần đây, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, một số hoạt động mạnh mẽ của một vài viện khoa học, được hỗ trợ tài chính từ ngành công nghiệp dầu mỏ, đã tung ra sự nghi ngờ về vấn đề nóng lên toàn cầu. Tuy nhiên, báo cáo của IPCC tháng 2 năm 2007 đã khẳng định sự gia tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất, sự tan chảy của băng và sự gia tăng mực nước biển. Báo cáo cũng tuyên bố rằng nguyên nhân của những hiện tượng này – với xác suất trên 90% là được gây ra bởi các hoạt động của con người. IPCC đã được đồng trao giải Nobel Hòa bình năm 2007 cho những hoạt động có giá trị của Ủy ban, cùng với cựu phó tổng thống Hoa Kỳ, Al Gore, tác giả của phim tài liệu “Một sự thật phiền phức” (An inconvinient truth) về biến đổi khí hậu.

Mặc dù có nỗ lực ngoại giao to lớn, Hội nghị Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu tại Bali năm 2007 và sau đó tại Copenhagen năm 2009 chỉ đạt được một cam kết chung nhằm hạn chế hiện tượng nóng lên toàn cầu không quá 2°C. Tại Rio+20 (Hội nghị thượng đỉnh Trái đất) vào tháng 6 năm 2012, một văn bản đã được thông qua nhằm hướng dẫn trên phạm vi toàn cầu hướng tới một tương lai bền vững hơn và tất cả các quốc gia tham gia “tái khẳng định” cam kết của mình để dừng lại việc trợ giá đối với các loại nhiên liệu hóa thạch đang gây hại.

Giam giữ hung thủ?

Khoảng 30% sự phát thải khí nhà kính CO2 có nguồn gốc từ việc sử dụng than đá. Hiện nay có khoảng 2300 nhà máy nhiệt điện đốt than đang phát triển nhanh chóng trên thế giới – mỗi tuần lại có thêm một nhà máy chạy thử tại Trung Quốc. Chỉ riêng con số này và thực tế than đá là nhiên liệu hóa thạch phổ biến nhất, có một phong trào ủng hộ việc tiếp tục sử dụng nhiên liệu này trong các nhà máy điện mà không thải ra CO2. Tuy nhiên, để thực hiện kỳ công này, yêu cầu CO2 sinh ra trong quá trình đốt than phải được cô lập trước khi kịp phát tán vào khí quyển. Hàng tá kĩ thuật khác nhau được đề xuất cho mục đích này. Trong đó, phương án hứa hẹn nhất là thu lại CO2 và giữ chúng trong các giếng dầu và các túi khí tự nhiên đã dùng hết dưới lòng đất. Phương án này được đánh giá thuận tiện về mặt lý thuyết và các nghiên cứu tiếp theo mang lại những kết quả khả quan. Tuy nhiên, những nghiên cứu đánh giá này mới chỉ được mở rộng từ giai đoạn phòng thí nghiệm tới quy mô nhà máy thí điểm.

Về mặt kĩ thuật, phương pháp này sẽ cô lập CO2 từ khí thải và sau đó sẽ nén và chuyển chúng qua một đường ống tới khu vực lưu trữ được chỉ định. Nhiều giải pháp khác nhau được đề xuất cho các bước đầu tiên của quá trình, cũng là bước phức tạp nhất. Rõ ràng là với những thay đổi phù hợp, các nhà máy điện cũ có thể chuyển đổi được để giữ lại CO2. Tuy nhiên, có nhiều tranh luận cho rằng việc thực hiện những thay đổi này sẽ tiêu tốn nhiều hơn cả một nhà máy điện mới.

Ngoài ra, việc lưu giữ CO2 chắc chắn sẽ làm tăng chi phí sản xuất điện từ than đá tới người dùng cuối cùng – ước tính sự tăng giá khoảng từ 20% đến 80%. Một vấn đề quan trọng khác của công nghệ này là khả năng CO2 thoát ra khí quyển thông qua các con đường khác, có thể tiên nghiệm (a priori), là sẽ không dễ dự đoán được.

Cuối cùng, chúng ta không nên đánh giá thấp khả năng xảy ra sự cố. Ví dụ, sự thoát ra của một lượng lớn khí CO2 khỏi khu vực lưu trữ, đây là một khí nặng hơn oxy, có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho người dân, như trường hợp sau đây xảy ra năm 1986, sự phun trào của 80 triệu mét khối khí CO2 ở hồ Nyos của Cameroon, đã làm chết 1800 người.

Về việc đầu tư vào công nghệ đề cập ở trên, rất đáng để suy ngẫm đến những gì John Turner ở Phòng thí nghiệm Năng lượng tái tạo quốc gia của Hoa Kỳ đã nói – mà chúng tôi trích dẫn sau đây:

Việc đầu tư một lượng lớn tiền bạc, trí tuệ và năng lượng vào những công nghệ cô lập CO2 vẫn là một câu hỏi mở: liệu đó có phải là cách tốt nhất để sử dụng nguồn năng lượng và tài chính hạn hẹp của chúng ta? Sở hữu trữ lượng than lớn không có nghĩa là chúng ta cần phải sử dụng chúng. Vấn đề là liệu chúng ta có nên để những nguồn tài nguyên này ngủ yên dưới lòng đất và dứt khoát tiến tới sử dụng những nguyên liệu tiến bộ hơn.

That large amounts of money, intelligence and energy should be invested in technologies for the sequestration of CO2 remains an open question: is this the best way to spend our limited financial and energy resources? The mere fact of possessing large reserves of coal does not mean that we must necessarily use them. The point is whether we should leave those resources underground or move decisively towards something more advanced.

(còn tiếp)

Người dịch: Đặng Thị Giang

Biên tập: Phạm Thu Hường

 

* Chú thích của người dịch:

IPCC: Ủy ban Quốc tế về biến đổi khí hậu (tên tiếng Anh: International Panel on Climate Change, xem trang web chính thức http://www.ipcc.ch/index.htm) là một cơ quan khoa học chịu trách nhiệm đánh giá rủi ro về thay đổi khí hậu do hoạt động con người gây ra, nhằm “ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa những sự nguy hiểm do con người can thiệp vào hệ thống khí hậu”. Ủy ban này đã được thành lập năm 1988 bởi Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP), hai tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc.

Một số hình ảnh trong báo cáo mới nhất năm 2014 của IPPC về biến đổi khí hậu cho thấy khí hậu thời tiết trở nên khắc nghiệt và gây thảm họa về môi trường và kinh tế ở cả các nước đang phát triển và các nước phát triển:

Picture1j

Picture2j Picture3j

Picture4j

© copyright Zanichelli and Wiley-VCH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Bản quyền bản dịch: dotchuoinon.com

Một suy nghĩ 3 thoughts on “Cung cấp năng lượng cho Trái đất – Chương 5: Thiệt hại không mong muốn (Phần 2)”

  1. Cảm ơn nhóm dịch bạn Giang và chị Hường cho chương này.

    Ở phần này tác giả đã nêu ra một câu hỏi rất đáng suy ngẫm, chúng ta cần phải tỉnh táo về vấn đề CO2 này: Việc đầu tư công nghệ, tiền bạc năng lượng khổng lồ cho Carbon capture technology là một điều gây cản trở là cái cớ làm chậm lại sự dịch chuyển sang năng lượng tái tạo mà chẳng giúp được gì cho việc bớt sử dụng than đá.

    5 năm gần đây. Âu Mỹ đã không còn nóng sốt vấn đề này nữa vì hầu hết đã nhìn ra vấn đề. Tuy nhiên một số đại gia và nhà khoa học vẫn cố tình lờ đi và ủng hộ kịch liệt cho xu hướng này. Sinh viên và các nghiên cứu sinh là những “nạn nhân” được họ sử dụng làm việc giống như là nghiên cứu điện nguyên tử vậy

    “Việc đầu tư một lượng lớn tiền bạc, trí tuệ và năng lượng vào những công nghệ cô lập CO2 vẫn là một câu hỏi mở: liệu đó có phải là cách tốt nhất để sử dụng nguồn năng lượng và tài chính hạn hẹp của chúng ta? Sở hữu trữ lượng than lớn không có nghĩa là chúng ta cần phải sử dụng chúng.”

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s