Cung cấp năng lượng cho Trái đất – Chương 4: Năng lượng dự trữ bên trong Tàu vũ trụ (Phần 5)

Powering Planet Earth:
Energy Solutions for the Future

by Nicola Armaroli, Vincenzo Balzani, Nick Serpone

Chapter 4: Energy in the Spaceship’s Hold – Chương 4Năng lượng dự trữ bên trong Tàu vũ trụ (Phần 5)

Hoá đơn năng lượng đắt giá

Mức tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch đã đạt đến mức cao (Bảng 6a-c), và chắc chắn là nhu cầu cho nguồn năng lượng thuận tiện và đầy quyền lực này sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới.

Theo nguyên tắc thị trường, khi nhu cầu về dầu mỏ ngày càng tăng thì giá của mặt hàng cũng sẽ tăng tương ứng, vào mùa thu năm 2004 giá của một thùng thô đã vượt quá 50 USD – trong tháng 7 năm 2008, giá của một thùng đã lên đến 150 USD nhưng sau đó đã giảm xuống còn khoảng 100 USD trong tháng 8 năm 2012. Trong mọi trường hợp, người tiêu dùng đang phải đối mặt với những biến động hàng ngày rất lớn tại những trạm bơm xăng.

Bất kể những điều ở trên, giá dầu dự kiến ​​vẫn sẽ tiếp tục tăng bởi vì nhiều yếu tố khác nữa. Khoản đầu tư ban đầu cho khoan dầu trong những năm đầu thập kỉ 1900 sản xuất sản lượng dầu đáng kể bởi vì đã không cần thiết phải đào giếng sâu – dòng chảy của dầu đã được khai thác dễ dàng. Qua thời gian, thăm dò và khai thác các mỏ mới đã dẫn đến chi phí tăng lên. Đồng thời, tỷ lệ phần trăm của dầu còn lại trong các giếng dầu có chất lượng tồi tệ nhất có thể có.

Một yếu tố tiêu cực khác nữa là sự tập trung của các trữ lượng dự trữ ở một số ít quốc gia, nhiều nơi trong số đó là không ổn định về chính trị. Những cuộc chiến tranh và chủ nghĩa khủng bố quốc tế gần đây, một phần được tạo ra và nuôi dưỡng bởi sự bất bình đẳng và phân phối không đồng đều các nguồn tài nguyên của Trái đất, đang gây ra những nghi ngờ lớn hơn về khả năng quản lý và liệu có một chút đảm bảo nào về sự liên tục của các nguồn tài nguyên dầu mỏ. Vì vậy, mỗi quốc gia có xu hướng tích lũy dự trữ riêng của mình nhiều nhất trong khả năng mỗi nước có thể. Dầu mỏ đã trở thành một nơi trú ẩn cho các nhà đầu tư, giống như vàng, nhiều đến mức mà các ngân hàng quốc tế lớn hiện nay đầu tư vào dầu mỏ. Điều này tạo ra sự đầu cơ dự trữ dầu tư nhân.

Các chính trị gia có xu hướng bỏ qua, giảm nhẹ, và thậm chí coi nhẹ vấn đề của sự tăng giá dầu ngày càng cao. Họ nghĩ rằng điều đó sẽ phản tác dụng đối với việc tái tranh cử nếu họ phải cung cấp những tin tức bất lợi cho các công dân và phải giải thích nguyên nhân gốc rễ của xu hướng tăng mãi của chi phí đắt đỏ này. Một số nhà phê bình tin rằng điều này có thể có những hậu quả chính trị trong cuộc chạy đua cho Tổng thống Hoa Kỳ vào năm 2012.

Cũng cần nói thêm rằng giá dầu mỏ và giá năng lượng nói chung, phụ thuộc rất ít vào chi phí sản xuất thực tế. Trong một thời gian dài, ngành công nghiệp năng lượng đã nhận được những trợ cấp công cộng hào phóng và không bằng lòng với các thỏa thuận kinh tế mà ít liên quan đến chi phí kỹ thuật. Thêm vào đó là các chi phí khổng lồ mà nhiều quốc gia,đặc biệt là những quốc gia giàu nhất, chống đỡ để duy trì dòng chảy liên tục của dầu, khí và than cho nhiều mục đích khác nhau: ví dụ, việc triển khai quân sự, hỗ trợ các nước bạn thân thiện và ôn hòa, và can thiệp vào chính trị nội bộ của sản xuất trong các tiểu bang, v.v và v.v.

Bộ máy quân sự được triển khai ở vùng Vịnh Ba Tư, Ấn Độ Dương, và vùng biển Địa Trung Hải để bảo vệ hành lang năng lượng của Trung Đông với chi phí vô cùng to lớn. Chi phí này được nhân lên nhiều lần khi bộ máy quân sự này thực sự hoạt động. Theo nguồn chính thức của Hoa Kỳ, đến năm 2017, chi tiêu trong ba cuộc chiến tranh dầu mỏ (hai ở Iraq và một tại Afghanistan) sẽ lên tới 2400 tỷ USD, tương đương với khoảng 8000 đô la bình quân cho mỗi người công dân Mỹ.

Sự suy xét ở trên cung cấp cho bạn đọc một ý tưởng rằng không một ai trên thế giới biết làm như thế nào để ước tính chính xác giá trị thực tế của một thùng dầu.

Liên minh, Căng thẳng, Chiến tranh 

Rõ ràng là, trong một tình huống như vậy, sự vội vàng để cung cấp năng lượng tác động mạnh mẽ đến cả các chính sách của các quốc gia sản xuất, những người chỉ quan tâm đến bán hàng, và cả các chính sách của quốc gia tiêu dùng, nơi mà nền kinh tế và ổn định xã hội có thể sụp đổ nếu không có sự sẵn có của nhiên liệu hóa thạch. Đây là lý do cho chiến lược quân sự liên minh, chẳng hạn như giữa Hoa Kỳ và Ả Rập Saudi, và việc theo đuổi các nguồn cung cấp năng lượng bởi nhiều quốc gia tiêu dùng khác, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ, trong đó bao gồm nhiều thỏa thuận song phương với một số nước sản xuất chẳng hạn như Angola. Và đây cũng là lý do cho sự căng thẳng nặng nề có thể dẫn đến chiến tranh.

Thẳng thắn mà nói, thật khó để tin rằng các cuộc chiến tranh ở Libya và Iraq không liên quan gì đến sự kiểm soát của các nước sản xuất chính đối với dầu mỏ và khí đốt và sự kiểm soát các tuyến đường bộ và đường biển liên quan thông qua đó các nguồn năng lượng được vận chuyển (Afghanistan, Chechnya, và Serbia là những nơi khắc nghiệt và nghèo tài nguyên). Trong Hoa Kỳ, nơi mà nhập khẩu một lượng lớn dầu mỏ từ các quốc gia Ả Rập, rất nhiều người lái xe khi trả tiền để làm đầy bình xăng tại các trạm bơm có thể cảm nhận được là mình đang hỗ trợ tài chính đồng thời cho cả hai bên trong cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố.

Trong các cuộc chiến tranh dầu mỏ, môi trường đã phải chịu đựng đáng kể. Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh (the Gulf war*) năm 1991, 730 giếng dầu đã bị làm nổ tung, rất nhiều trong số đó đã cháy trong vài tháng với sự mất mát khoảng 240 tỷ lít dầu thô (1.5 tỷ thùng), tương đương với 2% trữ lượng dự trữ của Kuwait. Sự tạo thành các chất ô nhiễm không khí từ việc đốt cháy dầu không kiểm soát được này không có gì khác hơn là thảm họa cho môi trường. Và trong cuộc chiến tranh đó, 1.7 tỷ lít dầu (khoảng 11 triệu thùng) dầu đã bị phá hủy trong Vịnh Ba Tư.

Hết Chương 4.

Người dịch: Phạm Thu Hường

Biên tập: Đào Thu Hằng

* Chú thích của người dịch:

The Gulf war: Chiến tranh Vùng Vịnh (cũng gọi là Chiến tranh vịnh Ba Tư, chiến tranh Kuwait hay Chiến dịch Bão táp Sa mạc) năm 1991 là một cuộc xung đột giữa Iraq và liên minh gần 30 quốc gia do Hoa Kỳ và Tổng thống Mỹ George Bush lãnh đạo. Sự kiện dẫn tới chiến tranh là việc Iraq xâm lược Kuwait ngày 2 tháng 8 năm 1990, sau khi Iraq cho rằng (nhưng không chứng minh được) Kuwait đã “khoan nghiêng” giếng dầu của họ vào biên giới Iraq. Hậu quả của cuộc xâm chiếm là Iraq gặp phải sự lên án quốc tế và ngay lập tức bị Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc áp đặt trừng phạt kinh tế.

Tháng 4/1991, Nghị quyết 687 được Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua thành lập các điều khoản ngừng bắn chính thức. Những tranh cãi trong việc thực thi nghị quyết này và các nghị quyết tiếp theo dẫn đến sự bùng nổ của một cuộc chiến khác 12 năm sau đó (Chiến tranh Iraq năm 2003).

 

© copyright Zanichelli and Wiley-VCH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Một suy nghĩ 4 thoughts on “Cung cấp năng lượng cho Trái đất – Chương 4: Năng lượng dự trữ bên trong Tàu vũ trụ (Phần 5)”

  1. Em cám ơn chị Hường và toàn bộ các anh chị em trong đội ngũ phiên dịch, biên tập đã dịch thật đều đặn cuốn sách này.

    Em chờ đọc các chương kế tiếp.

    Mến chúc chị Hường và cả nhà dịch thuật một ngày đầy năng lượng.

    Thích

  2. Dạ vâng, em thấy nhiều người nói rằng hành động đem giàn khoan di động HD 981 vào vùng biển Việt Nam của Trung Quốc mang nhiều mưu đồ chính trị, khiêu khích, là một bước đi chiến lược, v.v…

    Tuy nhiên, trong khi phải có nhận định phán đoán về những đường đi âm mưu chính trị của Bắc Kinh, cách giải quyết cần tập trung vào vấn đề hiện tại: chính là tranh chấp nguồn dầu mỏ, mà Trung Quốc đang rất khát dầu, điều này cũng đã được dự đoán từ lâu với tốc độ tăng công nghiệp hóa và dân số quá phụ thuộc vào dầu mỏ.

    Nhiều khi tâm lý và cảm xúc bị xung động rất nhiều do những phán đoán này, đã gây nên những hành động quá khích bất lợi cho kinh tế đất nước. Em cầu nguyện rằng qua vấn đề lớn này chúng ta sớm học được cách ứng xử phù hợp trong hiện tại, với tâm tĩnh lặng và hòa bình, mà không bị những nhận định về quá khứ hay tương lai tác động, đối với cả cá nhân và đất nước.

    Em Hường

    Thích

  3. Tranh chấp và tìm kiếm nguồn năng lượng oil and gas lần này là một cơ hội tốt và cú hích để Việt Nam nhận ra đầu tư cho năng lượng tái tạo. Nước ta có gần 100 triệu dân, nhưng chưa có nhiều tổ chức môi trường lên tiếng về điểm này ở Việt Nam. Các nhóm làm việc về năng lượng tái tạo còn rất ít và thiếu.

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s