Nông thôn và nông nghiệp Việt Nam

 

Chào cả nhà,

Thứ Bảy 18/5 mình có tham dự buổi Cà phê thứ Bảy, Tiến sỹ Đặng Kim Sơn nhận lời mời của nhạc sỹ Dương Thụ, bay từ Hà Nội vào Sài Gòn trình bày chủ đề “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, vai trò và mong đợi”.

Buổi này mình được nghe những thông tin rất hay về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong bức tranh kinh tế Việt Nam. Mình tìm thêm thông tin và viết lại tại note này, chia sẻ đến cả nhà.

 

Cảm ơn cả nhà,

Nguyễn Minh Quan Huấn

 

Phần 1: Những đóng góp và “hy sinh” cho nền kinh tế.

1.      Những đóng góp cho nền kinh tế:

Nông nghiệp “đỡ” cho nền kinh tế Việt Nam 3 lần. Lần đầu là cuối thập niên 1980, khi các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, công nghiệp tăng trưởng âm, còn nông nghiệp và dịch vụ phát triển rất mạnh, đưa đổi mới thành công.  

nongnghiep1

(Nông nghiệp tăng trưởng rất tốt, nhiều người không ngờ, bình quân những năm gần đây đạt 4,5% năm)

Lần thứ  hai là cuối những năm 1990, Khủng hoảng tại Đông Nam Á, Việt Nam là nước hiếm hoi (hoặc duy nhất?) tại Đông Nam Á có thể nói không rơi vào khủng hoảng, cũng nhờ nông nghiệp.

Lần thứ ba là những năm gần đây, khi thế giới khủng hoảng tài chính, nông nghiệp lại cứu nền kinh tế khi giữ tốc độ tăng trưởng tốt. Cuối năm 2012 lập kỷ lục xuất khẩu nông sản, đạt 25 tỉ USD, tỉ trọng nông nghiệp góp 21% GDP. 

30 năm rồi, về nguyên tắc, nông nghiệp là tấm đệm đỡ nền kinh tế.

nongnghiep2

(Nông nghiệp liên tục xuất siêu, năm sau cao hơn năm trước, các năm khủng hoảng kể trên lại càng cao, trong khi các ngành khác nhập siêu)

Nhìn lại quá khứ, trong chiến tranh người nông dân góp gạo nuôi quân, là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến. Trong đổi mới tiên phong lập công đưa đổi mới thắng lợi. Trong lúc phát triển bình thường là tấm đệm đỡ nền kinh tế.

nongnghiep3

Năm 2008, Việt Nam đứng thứ  91/118 thế giới về Môi trường kinh doanh, song vẫn đứng thứ 6 về thu hút đầu tư. Có nghịch lý này nhờ:

          Nông nghiệp cung cấp đủ lương thực thực phẩm cho toàn dân, nên nhu cầu cơ bản của người lao động là ăn uống, dễ dàng được đáp ứng. Đưa giá lao động rẻ.

          Xóa đói giảm nghèo, có việc làm góp phần ổn định chính trị, xã hội.

          Tài nguyên và nguyên liệu -> phát triển công nghiệp và đô thị (dễ lấy đất, nhà nước và dân dễ chấp nhận ô nhiễm môi trường)

          Tăng thu nhập -> công nghiệp hóa.

Nông nghiệp là tấm đệm kinh tế! Vậy nông nghiệp “được đối xử” thế nào? Nông dân là những người hùng thầm lặng! Họ “được đối xử” như thế nào?

2.      Người nông dân và ngành nông nghiệp đang phải chịu một sức ép quá  lớn.

Công nghiệp hóa là xu hướng chung trên thế giới, đầu tư chủ yếu đổ vào công nghiệp và dịch vụ. Tại Việt Nam, năm 2000, đầu tư cho nông nghiệp từ xã hội chiếm 13,8%. Năm 2008 đầu tư cho nông nghiệp từ xã hội giảm xuống 6,2%.

nongnghiep4

(Đóng góp và đầu tư vào Dịch vụ, công nghiệp – xây dựng, và nông nghiệp)

Nền nông nghiệp đang bị bóc lột: khoa học tồi tệ, cơ sở hạ tầng yếu kém, … chưa kể quản lý chính phủ.

Còn nông dân, khi công nghiệp hóa, đô thị hóa, nông dân rời nông thôn đi lao động nơi khác, trong khi công nghiệp phát triển không thu hút lao động thủ công vì có máy móc tự động, hầu hết đã cơ giới hóa. Vậy lao động đi đâu?

èLao động làm việc tại thị trường không chính thức, “không chính thức” là nói mỹ miều, thực tế họ làm những việc mà không hợp đồng lao động, không đóng thuế, không bảo hiểm y tế, không bảo hiểm xã hội, không tay nghề, không hộ khẩu. Họ làm “thợ đụng” – đụng đâu làm đó, ví dụ: đào vàng, ô sin, bia ôm, thợ xây, phụ hồ, thu  mua phế liệu (đồng nát, ve chai), bán hàng rong. Nhiều làng quê đã nổi tiếng, trở thành “làng nghề” như làng ve chai Triều Khúc, làng bán xôi dạo Hoàng Xá.  

èHầu hết lao động nông thôn chúng ta gọi theo kiểu mỹ miều là lao động “không chính thức” – loại này hiện chiếm tới 70% lao động ở Việt Nam. Và Việt Nam đang thời kỳ vàng dân số, với thực trạng như thế thì đang ở tình trạng “thuốc nổ”!

nongnghiep5

(Tốc độ tăng GDP công nghiệp và nông nghiệp với % lao động hàng năm)

Bên cạnh đó, người nông dân Việt Nam còn đương đầu với cạnh tranh không công bằng. Các nước công nghiệp trợ cấp rất cao cho nông nghiệp. Như ở Nhật trợ cấp 60% giá trị nông sản, nghĩa là 1 bát cơm giá 100 đồng thì nhà nước đã trợ cấp 60 đồng, nông dân chỉ bỏ ra 40 đồng. Ngoài ra, trên thế giới, tất cả các mặt hàng đều buôn bán tự do, trừ sản phẩm từ nông nghiệp!

(Trợ cấp của các nước cho nông nghiệp rất cao)

Nông dân, cư dân nông thôn còn chịu nhiều rủi ro và thách thức:

Thách thức:

          Công nghiệp hóa lấy đi tài nguyên, đổ chất thải.

          Biến đổi khí hậu, thiên tai, mất đất.    

          Cạnh tranh thương mại bất bình đẳng.

          Đô thị hóa lấy đi tài nguyên, đổ chất thải.

Rủi ro: Trong khi cư dân ở đô thị được bảo hiểm tương đối đầy đủ. Về hưu, ốm đau có chữa bệnh, mất việc có trợ cấp…thì cư dân nông thôn hầu như không có gì, trừ gia đình chính sách, hộ nghèo. Bình thường thì không sao nhưng một khi sóng gió bất kỳ: ốm đau, mất mùa cũng chết mà con đỗ đại học cũng chết, … Không có sức đề kháng, không có bảo hiểm rủi ro, dễ tổn thương trước mọi biến động. Mà biến động thì ngày càng quyết liệt.

          Giá cả biến động

          Ốm đau

          Thiên tai

          Dịch bệnh

nongnghiep6

(rủi ro và thách thức của nông dân, cư dân nông thôn)

Thêm vào đó, thu nhập bình quân nhân khẩu 1 tháng ở nông thôn cũng thấp so với ở đô thị. Khi nhìn sâu hơn nữa, sẽ thấy sự chênh lệch giữa người Kinh, người Hoa với các dân tộc thiểu số.

(Biểu đồ thể hiện thu nhập bình quân ở nông thôn và thành thị đến năm 2006, số liệu năm 2010 cũng tương tự, tiến sĩ Sơn chưa đưa vào).

3.      Bài toán công nghiệp hóa tại Việt Nam:

Các nước phát triển đều mất vài ba trăm năm để công nghiệp hóa, có thể hình dung con đường 300 năm như sau: Nền nông nghiệp “được bóc lột”, bần cùng hóa nông dân, phá hoại rừng, tài nguyên và phá nát nông thôn. Ở các nước phát triển không còn làng xã, không còn tập quán văn hóa làng xã. Như ở Anh, Mỹ, Úc … mỗi chủ trang trại chiếm 3 – 400ha đất, cách xa vài km đến vài chục km mới có thị trấn, bệnh viện, trường học.

Sau khi công nghiệp hóa, hiện đại hóa, họ quay lại “trả nợ” cho nông dân bằng bảo hộ nông phẩm (bán giá cao trong nước, vd ở Mỹ, Nhật bán 1 USD/1 củ khoai, 6USD/1 ký gạo), cấm nhập khẩu nông phẩm bằng hàng rào phi thuế quan hoặc áp luật chống phá giá. Ở Nhật còn có địa vị của nông dân, 1 phiếu bầu Thượng viện của nông dân bằng 6 phiếu của thị dân, 1 phiếu bầu Hạ viện của nông dân bằng 3 phiếu của thị dân. 

Sau khi công nghiệp hóa, hiện đại hóa, họ quay lại “trả nợ” cho môi trường. Giai đoạn công nghiệp hóa, sông Thame ở Anh trở thành đen như dầu, một nhà báo Anh dùng nó thay mực để viết thư tố cáo, đòi bảo vệ dòng sông. Nay sông Thame đã trở lại xanh mát. Nhưng món nợ “thủng tầng ozon”còn đó, nên họ ép các nước đi sau không được hủy hoại môi trường.

nongnghiep7

(Quy luật hy sinh của công nghiệp hóa)

Đó là câu chuyện của hầu hết các nước phát triển đã công nghiệp hóa thành công. Nếu thực hiện công nghiệp hóa theo con đường của các nước phát triển, có 4 loại bóc lột:

          Bóc lột thuộc địa

          Khai thác tài nguyên

          Lao động nô lệ

          Bần cùng nông thôn, nông dân.

Còn Việt Nam, chúng ta đề ra nhiệm vụ công nghiệp hóa trong vài ba chục năm. Nếu đi con đường cũ, thì hiện chỉ còn 1 loại bóc lột là bần cùng nông dân, nông thôn.

nongnghiep8

(Đây là bài toán của chúng ta, đối đầu với thời gian phát triển dồn nén)

Nếu đi theo con đường công nghiệp hóa cũ thì cái giá phải trả rất cao. Hiện nay, ở các nước đất đai trù phú, cũng lắm mỏ dầu như Brazil, Argentina, hay đông dân như Ấn Độ cũng chưa công nghiệp hóa xong. Nghĩa là, công nghiệp hóa và hiện đại hóa một quốc gia là vô cùng khó. Các nước kém phát triển sau khi thoát nghèo, thu nhập bình quân đầu người từ dưới 900USD khi lên đến 4000-5000USD là chững lại, là đuối sức.

Tại Việt Nam, xu hướng phát triển này đặt chúng ta vào nguy cơ đối mặt với “bẫy thu nhập trung bình nhìn từ phía Nông nghiệp”. 

          Đô thị quá tải, nông thôn lạc hậu.

          Công nghiệp và dịch vụ kém hiệu quả, nông nghiệp kém cạnh tranh.

          Mâu thuẫn chính trị, xã hội.

          Mất tài nguyên, môi trường ô nhiễm.

nongnghiep10nongnghiep11

Phần 2: Thời cơ và giải pháp phát triển nông nghiệp – nông thôn – nông dân.

1.      Thời cơ và giải pháp phát triển nông nghiệp – nông thôn – nông dân

Nhìn vào các nước công nghiệp hóa xong , là Hàn Quốc, Đài Loan, Israel, Brasil, gần đây có Chile. Chúng ta nên học kinh nghiệm từ họ.

Muốn công nghiệp hóa thành công, chúng ta phải đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, trao quyền cho nông dân ngay từ đầu công nghiệp hóa.

Trong khi công nghiệp hóa, phải gắn công nghiệp với nông nghiệp, gắn đô thị với nông thôn, phải Kéo công nghiệp về nông thôn và miền núi, phải kéo đô thị về nông thôn chứ không phải ngược lại.

nongnghiep12

Chúng ta có 2 câu chuyện tiêu biểu, là Đài Loan và Hàn Quốc.

2.      Câu chuyện công nghiệp hóa tại Đài Loan:

nongnghiep13

(Câu chuyện công nghiệp hóa của Đài Loan, diễn giải bên dưới)

          Từ bài học với Trung Quốc, cải cách ruộng đất, tranh thủ nông dân. Năm 1950, ông Tưởng Giới Thạch dẫn 2 triệu quan binh thất trận ra Đài Loan. Từ bài học với Trung Quốc, ông tiến hành cải cách ruộng đất: mua ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân, khuyến khích địa chủ dùng tiền bán đất để đầu tư nhà máy – “bóc lột máy móc, lợi ích bằng mấy bóc lột người”, tranh thủ nông dân (chia đất cho nông dân, ưu đãi giúp tiểu nông phát triển)

 

          Thành lập nông hội và hợp tác xã của dân (bầu, đóng góp…): Nông hội được xây dựng để làm cầu nối giữa chính phủ và nông dân, gắn nông dân với chính phủ. Nông hội là tổ chức của nông dân, có phân thứ bậc hành chính (cấp thôn, cấp xã, cấp huyện, cấp trung ương) chỉ để thể hiện qui mô hoạt động, Nông Hội không có tổ chức cấp trên, cấp dưới. Mọi cấp Nông Hội đều bình đẳng và dân chủ trong việc ra quyết định.

 

          Độc quyền phân phối nông sản, vật tư:  ngân hàng Đài Loan 40% tín dụng nông dân. Thực tế cho thấy, với chủ trương hợp lý của Chính phủ, Nông hội đã thực sự là nguồn cung cấp vốn chủ yếu cho nông dân Đài Loan. Nông Hội do nông dân thành lập nên có hệ thống chân rết ở mọi miền quê, nắm rõ nhu cầu tiền vay, hiểu rõ đối tượng cho vay, khả năng chi trả, của từng hộ, nhờ đó rủi ro thấp (không có chuyện quịt nợ), chi phí rẻ, thủ tục vay thuận tiện với dân, cho vay đúng mục đích. Các khoản cho vay của Nông hội tập trung vào các hoạt động phát triển thuỷ lợi, chăn nuôi, chế biến và tiêu thụ. Do đó, hoạt động tín dụng của Nông Hội cạnh tranh thắng lợi mọi cơ quan tài chính ngân hàng khác, chiếm khoảng 40% trong tổng nguồn cho vay của các tổ chức tín dụng). Hiện nay, gần 50% chợ bán buôn nông sản là do các tổ chức nông dân quản lý. Nông dân Đài Loan thông qua hoạt động của Nông Hội đã làm chủ toàn bộ dây chuyền cung ứng vật tư đầu vào và sản phẩm đầu ra của sản xuất nông nghiệp.

 

          Phát triển khoa học công nghệ, Đài Loan nông nghiệp 4,5% / năm, không tăng vật tư nông nghiệp: Cùng với nhà nước, nông hội khuyến khích phát triển khoa học công nghệ (Nông hội cùng cán bộ khoa học kỹ thuật ở đại học cùng tiến hành hoạt động khuyến nông; Nông hội tổ chức các lớp đào tạo về khoa học kỹ thuật, khuyến nông cho hội viên miễn phí).

 

          Phát triển cơ sở hạ tầng (CSHT), Công nghiệp (CN) về nông thôn (NT), Doang nghiệp vệ tinh: bỏ tiền ra làm giao thông dọc ngang bán đảo, làm đường sắt xuyên quốc gia nhằm tạo đà cho một chính sách tuyệt đối đùng trong khuyến nông. Một mặt, họ ưu đãi thuế hoặc tín dụng; mặt khác, buộc các nhà đầu tư phải về nông thôn đầu tư. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn trở thành các vệ tinh của các doanh nghiệp lớn đóng ở các trung lộ.

 

          1956 – 1966 LĐ CN thành phố 43% -> 37%, 17% rời làng: Đài Loan cất cánh phát triển kinh tế, xuất hiện một hiện tượng đảo ngược là tỷ lệ lao động công nghiệp ở thành phố giảm từ 43% xuống 37%, chỉ có 17% công nhân rời làng lên thành phố.

 

          CN vật tư NN, chế biến XK (1950, 70% giá trị XK): Đài Loan tập trung đầu tư phát triển các ngành công nghiệp chế biển nông sản xuất khẩu. Từ năm 1950, 70% giá trị xuất khẩu là hàng qua chế biến. Chuyện thần kỳ xảy ra, là thu nhập ở nông thôn trong thời kỳ đầu đô thị hóa bằng thu nhập của dân cư đô thị và đem lại lợi ích cho công nghiệp.

 

          Năm 1956-1966, dân số Đài Loan khoảng 10tr người, đóng góp 60% cho tăng trưởng công nghiệp chế tạo, 10tr dân trong nước tạo ra 1 quỹ để tái sản xuất mở rộng cho công nghiệp chế tạo. Công nghiệp chế tạo, từ chỗ làm máy móc nông nghiệp, chế biến nông sản, chuyển sang chế tạo công cụ tinh xảo, IT, hàng xuất khẩu. Họ bắt đầu từ thị trường trong nước, tiến đến xuất khẩu hàng chất lượng cao, hàng cao cấp.

 

          Trong 20 năm công nghiệp hóa, 5 thành phố lớn của Đài Loan chỉ tăng 18-27% dân số.

3.      Câu chuyện công nghiệp hóa tại Hàn Quốc:

Câu chuyện trao quyền cho nông dân, câu chuyện gắn nông nghiệp với công nghiệp là câu chuyện làm được, và có thật! Tại Hàn Quốc, tổng thống Park Chung Hee tiến hành phong trào Làng mới Saemaul và tạo nên câu chuyện thần kỳ cho cả đất nước.

Bài học từ phong trào Làng mới Saemaul của Hàn Quốc. – Tiến sỹ Đặng Kim Sơn.

Phát triển nông thôn là sự nghiệp quan trọng và cũng là thách thức lớn đối với hầu hết các nước đang phát triển.

http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/135/135/97488/Bai-hoc-tu-phong-trao-Lang-moi-Saemaul-cua-Han-Quoc.aspx

Các nước nghèo trong giai đoạn phát triển ban đầu phải đương đầu với muôn vàn khó khăn trong điều kiện ngân sách Chính phủ eo hẹp, phải ưu tiên cho nhiều nhu cầu khác. Về phía người dân, tập quán chịu đựng số phận từ ngàn đời tạo nên triết lý sống cam chịu, trông đợi sự giúp đỡ của Nhà nước. Sức lực yếu ớt của Nhà nước và tinh thần tê liệt của nông dân làm cho công cuộc phát triển nông thôn trở thành mong ước vô vọng ở nhiều nước, kể cả những nơi quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra khá thành công.

Hàn Quốc năm 1953, cuộc nội chiến ác liệt kết thúc để lại một đất nước bị tàn phá hoàn toàn, rừng bị chặt trắng. Một triệu người bị thương vong, kết cấu hạ tầng bị phá hoại, ước tính trị giá gần 3 tỉ USD theo tỉ giá năm 1950. Do tiết kiệm trong nước quá thấp, quỹ tái thiết chủ yếu của Hàn Quốc, trong thập kỷ 50 phải dựa vào trợ giúp của Mỹ, trung bình 200 triệu USD/năm để nhập khẩu mọi nhu yếu phẩm như lúa mì, phân bón, bông, nhiên liệu và vật tư sản xuất hàng tiêu dùng. Hàn Quốc đến tận những năm đầu thập kỷ 60 vẫn là một nước chậm phát triển. Từ năm 1953 đến 1962, mức tăng GDP hàng năm chỉ khoảng 3,7% nhưng tỉ lệ tăng dân số tới 3%. Thu nhập bình quân đầu người năm 53 đạt khoảng 67 USD, đến năm 62 là 87 USD.

Sau kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1962-1966) và kế hoạch năm năm lần thứ hai (1966-1971), nhờ có các quyết sách chiến lược đúng đắn như phát triển tài nguyên con người, đầu tư nghiên cứu và áp dụng công nghệ hiện đại, hướng vào xuất khẩu… công nghiệp Hàn Quốc đã tăng trưởng nhanh, đạt mức 9,3% so với tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của công nghiệp thế giới chỉ là 5%. Trong cùng giai đoạn này, hầu hết các nước XHCN và nhiều nước đang phát triển khác cũng tập trung phát triển công nghiệp bằng những chính sách và chiến lược khác và hầu hết không thành công như vậy.

Nóng lòng công nghiệp hóa, trong 10 năm, Hàn Quốc dốc toàn lực đầu tư phát triển các ngành công nghiệp. Tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực công nghiệp là 10-10,5%, trong khi nông nghiệp tăng trưởng giảm từ 5,3% xuống 2,5%. Thành thị phát triển đối nghịch với nông thôn lạc hậu. Nông dân di cư ra làm quá tải thành thị. Cuối thập kỷ 60, sự tăng trưởng bất cân đối trong nền kinh tế lên tới đỉnh điểm, đe dọa sự ổn định của quá trình công nghiệp hóa. Trong khi dân cư đô thị cố gắng cạnh tranh làm giàu, quyết tâm đổi đời thì đại bộ phận nông dân vẫn sống nghèo nàn trong bi quan và ỷ lại, lối thoát duy nhất là rời bỏ quê hương, chạy về đô thị.

nongnghiep14
Tham quan mô hình nhà ở tại các vùng nông thôn Hàn Quốc

Trước nguy cơ “kinh tế tách rời, khác biệt xã hội”, bước vào kế hoạch năm năm lần thứ ba (1971-1976), Hàn Quốc chuyển sang “tái cơ cấu kinh tế” để lập lại “cân đối giữa công nghiệp và nông nghiệp”. Ba mục tiêu hàng đầu đặt ra là xây dựng công nghiệp nặng, tăng xuất khẩu và phát triển nông nghiệp. Tăng trưởng nông nghiệp là một quyết tâm chính trị rất ghê gớm. Tuy lúc đó nông nghiệp là ngành kinh tế chính của Hàn Quốc và hơn hai phần ba dân số sống ở nông thôn, nhưng điều kiện tự nhiên Hàn Quốc rất bất lợi cho sản xuất nông nghiệp. Địa hình đồi núi hiểm trở, chỉ có khoảng 22% tổng diện tích đất (khoảng hơn 2 triệu hécta) có thể canh tác. Mùa đông lạnh kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3, tuyết rơi trung bình khoảng 1.300 mm/năm.

Bất chấp những khó khăn trên, trong kế hoạch năm năm lần thứ 3, Chính phủ lên kế hoạch đầu tư khoảng 2 tỷ USD cho phát triển nông thôn. Đây là sự nỗ lực ghê gớm vì Hàn Quốc thiếu vốn nghiêm trọng. Mối đe dọa thường xuyên về quốc phòng khiến ít quốc gia muốn đầu tư vào. Trong thập kỷ 60, FDI chỉ chiếm vẻn vẹn có 6,4% trong tổng số vốn từ nguồn nước ngoài đưa vào Hàn Quốc, 94% vốn đầu tư là các khoản nhà nước đi vay và tư nhân vay theo lãi suất thương mại. Từ những năm 60 đến 70, Hàn Quốc tiếp nhận 2 tỷ USD tiền vốn vay nước ngoài một năm, trong đó chủ yếu là vốn vay thương mại giành cho khu vực tư nhân, 28% là vốn vay nhà nước do Chính phủ vay để phát triển hạ tầng cơ sở.

Tổng thống Pắc Chung Hy – cha đẻ của phong trào Làng mới không nghĩ rằng tiền bạc ít ỏi của Chính phủ đổ vào cơ sở hạ tầng là giải pháp cho vấn đề nông thôn. Ông cho rằng giải pháp để phát triển nông thôn là tạo ra và huy động cho được nội lực của nông dân, bằng cách tổ chức các nhóm phát triển cộng đồng tại mọi làng xã. Lượng vật chất nhỏ và chính sách tốt của Nhà nước chỉ nhằm khơi dậy và kích thích sức mạnh tinh thần, tạo nên nội lực tiềm tàng to lớn của nông dân. Phong trào Làng mới nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng nhất tạo động lực cho phát triển nông thôn là “phát động tinh thần làm chủ, ý chí sáng tạo, tự tin và đoàn kết cộng đồng của nông dân”.

Giống như Việt Nam hôm nay, lúc đó ở Hàn Quốc giá lao động nông nghiệp và đất đai nông thôn khá rẻ. Chính sách sản xuất sản phẩm thay thế nhập khẩu và phát triển công nghiệp tạo ra nhiều vật tư xây dựng cơ bản như xi măng sắt thép thừa tồn kho. Tổng thống Hàn Quốc quyết định huy động những yếu tố có sẵn ấy để tạo ra công ăn việc làm cho người lao động nông thôn, vừa kích cầu tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp vừa xây dựng được cơ sở hạ tầng ở nông thôn trong thời gian ngắn, giá thành hạ, tạo ra thế và lực mới cho phát triển nông nghiệp nhưng chủ yếu là tạo ra “cú hích đột phá” phát động tư tưởng nông dân.

Phong trào áp dụng chính sách: Nhà nước bỏ ra 1 (chủ yếu là vật tư, xi măng, sắt thép…) thì nhân dân đóng góp 5-10 (công sức, đất đai và tiền của). Sự giúp đỡ của nhà nước trong năm đầu chiếm tỷ lệ cao, dần dần các năm sau, giảm dần trong khi qui mô địa phương và nhân dân tham gia tăng dần. Nhà nước chuyển toàn bộ vật tư cho nhân dân quản lý. Nhân dân thông qua ủy ban phát triển nông thôn do dân làng dân chủ bầu ra tự quyết định loại công trình nào cần ưu tiên xây dựng và chịu trách nhiệm toàn bộ về thiết kế, chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình.

Tổng số hỗ trợ cho mỗi làng từ năm 1971 đến 1978 là 84 tấn xi măng và 2,6 tấn sắt thép. Tổng giá trị xi măng và sắt thép tương đương với 2.000 USD/làng theo tỷ giá năm 1974. Trợ giúp vật chất khiêm tốn này được coi như chất xúc tác thúc đẩy phong trào đi lên.

Muốn gây ảnh hưởng thay đổi tâm lý nông dân, Chương trình bắt đầu bằng các công trình xây dựng cho từng hộ nông dân như ngói hóa nhà ở, lắp đặt điện thoại, nâng cấp hàng rào quanh nhà… làng nào làm tốt bước này mới được chuyển sang xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống của cộng đồng như đường làng, đường nhánh nông thôn, cầu cống, kè, hệ thống cấp thoát nước, điện, hội trường, nhà tắm công cộng, sân chơi trẻ em, trồng cây và hoa…

Bước đầu, 16.000 làng được chọn để tiến hành chương trình, không phân biệt đặc điểm, làng giàu, làng nghèo. Xi măng sản xuất ứ thừa của các nhà máy được Chính phủ mua rẻ, phân phối hỗ trợ mỗi làng 300 bao làm chương trình. Số vật tư ít ỏi đáp ứng đúng vào mong muốn tự vươn lên làm chủ của nông dân đã làm đổi thay bộ mặt nông thôn nhanh chóng. Sau 8 năm, năm 1978, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản hoàn thành. Từ 80% nhà lá, toàn bộ nhà nông thôn được ngói hóa, từ 27% tới 98% gia đình có điện, 70.000 cầu, 24.000 hồ chứa, 42.220 km đường làng được nâng cấp và xây dựng. Quan trọng nhất là sau có 5 năm người nông dân đã trực tiếp cảm nhận sức mạnh của bản thân khi tự đứng lên xây dựng cuộc sống.

Bước thứ hai, những làng hoàn thành tốt các dự án kết cấu hạ tầng sẽ được triển khai các dự án nâng cao thu nhập như khuyến nông, tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh, xây dựng hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trồng rừng, kinh doanh… Hỗ trợ của nhà nước chuyển sang bằng tiền dưới hai dạng cho vay và cho không. Khoảng 750 ngàn nông hộ ở 137 vùng đã được hỗ trợ và khuyến khích sản xuất, chế biến, kinh doanh 21 mặt hàng bao gồm: gia cầm, thịt bò, sữa bò, dâu tằm, hoa màu, cây ăn quả, cá, nấm…

Thực hiện phương châm làm từng bước, từ thấp đến cao, từ thí điểm trên diện hẹp đưa ra toàn quốc, từ xây dựng lan sang sản xuất, từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp để nông dân có đủ thời gian chuyển đổi cách nghĩ, cách làm, có đủ thời gian để chọn lựa, đào tạo cán bộ cơ sở, nông hộ có thời gian để tự tích lũy tái sản xuất mở rộng, chương trình tiến hành trong nhiều năm theo các bước từ thấp đến cao. Đến cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80, hầu hết các làng ở nông thôn Hàn Quốc đều tham gia vào các dự án nâng cao thu nhập cho nông dân. Trong vòng 6 năm, thu nhập bình quân các nông trại tăng gần 3 lần, từ 1.025 USD năm 1972 lên 2.961 USD năm 1977, quan trọng nhất là thu nhập gia đình nông thôn tương đương thu nhập bình quân của các hộ ở thành phố.

Mục tiêu quan trọng nhất của chương trình là biến đổi nông thôn đã thành công. Trong những năm 70, Chương trình Saemaul một mặt giữ chân và tạo thu nhập cho đông đảo lao động đi ra từ sản xuất nông nghiệp, mặt khác đã giúp nâng cao tay nghề và khả năng quản lý, ý thức công nghiệp cho lực lượng lao động nông thôn. Khi ra thành phố kiếm việc làm họ dễ dàng bắt kịp kỹ năng và tác phong hiện đại. Do có đủ phẩm chất và khả năng đáp ứng với nhu cầu công việc cao hơn ở lĩnh vực công nghiệp, trong vòng 20 năm sau, tổng số người làm nghề nông giảm 50%.

Chính sách đúng trong phong trào Saemaul thập kỷ 1970 là một mũi tên trúng nhiều đích: cứu cho sản xuất công nghiệp khỏi tình trạng dư thừa sản phẩm, giúp hệ thống ngân hàng quay vòng vốn nhanh, đổi thay bộ mặt nông thôn và sản xuất nông nghiệp tăng trưởng. Quan trọng nhất là món quà của Chính phủ trở thành chất xúc tác vật chất làm thay đổi tinh thần và tâm lý nông dân. Đó là món quà quí báu đem lại tinh thần làm chủ, sáng tạo, đoàn kết cho nông dân. Từ đó, họ tự đứng lên làm chủ cuộc đời mình và làm chủ đất nước.

4.      Tương lai nông nghiệp Việt Nam:

Tương lai nông nghiệp Việt Nam, sẽ không phải là “con trâu đi trước cái cày theo sau” đi thẳng lên nông nghiệp hiện đại, máy móc hiện đại. Đây là con đường chúng ta tưởng chúng ta sẽ đi. Nhưng nó không phù hợp với Việt Nam.

nongnghiep16

(Con trâu đi trước cái cày theo sau – nông nghiệp hiện đại – làng quê)

Chúng ta sẽ phát triển doanh nghiệp nhỏ, nông nghiệp nhỏ mà công nghệ cao như ở Hà Lan và Israel, có giá trị gia tăng rất cao. Một doanh nghiệp ở Hà Lan, khi đến nơi ta không biết là nông nghiệp hay công nghiệp, về giá trị máy móc thiết bị, về năng suất lao động.

Song song với đó vẫn duy trì làng quê, làng nghề cổ truyền, phát triển nông nghiệp cổ truyền kết hợp với du lịch nông thôn.

Đó sẽ là một nền kinh tế xanh, một nền kinh tế tri thức đòi hỏi rất nhiều chất xám, đòi hỏi nhiều chính sách tốt.

Làm như thế, công nghiệp chế biến sẽ phát triển, các ngành dịch vụ sẽ rất mạnh.

nongnghiep17

Tiến sỹ Sơn kết thúc buổi nói chuyện bằng hình ảnh tại một làng quê tại Thái Bình quê ông. Làng này người dân đi thu mua đồng nát ở các thành phố lớn, họ đi quanh năm suốt tháng và gửi tiền về quê. Trong làng nhà cửa xây cao, con cái họ ăn mặc đầy đủ song thiếu vắng tình thương, thiếu vắng sự giáo dục và đa số bỏ học. Ông nhận định, chúng ta đang đi theo con đường công nghiệp hóa chỉ có vật chất, chúng ta tưởng như thế là tất cả, đó là sai lầm! Và con đường của chúng ta là con đường khác!

Tham khảo:

http://vneconomy.vn/201305141153237P0C9920/iphone-hay-ai-lua.htm

http://ipsard.gov.vn/news/newsdetail.aspx?targetid=5860

http://phunutoday.vn/xi-nhan/trai-hay-phai/201208/TS-dang-Kim-SonHet-gao-chay-rong-moi-coi-trong-nong-dan-2178232/

http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/11/11/88818/TS-Dang-Kim-Son-Chung-ta-deu-mac-no-nong-dan.aspx

http://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/kinhte-thitruong/2013/2/38992.html

http://www.kinhte24h.com/view-gh/70/92829/

http://phunutoday.vn/xi-nhan/trai-hay-phai/201208/TS-dang-Kim-SonHet-gao-chay-rong-moi-coi-trong-nong-dan-2178232/

http://sgtt.vn/Kinh-te/165475/Bai-cuoi-Thay-doi-tu-duy-de-dinh-vi-lai-nganh-nong-nghiep.html

http://www.vietnamplus.vn/Home/Viet-Nam-da-buoc-vao-thoi-ky-co-cau-dan-so-vang/20116/93664.vnplus

http://phunutoday.vn/xi-nhan/trai-hay-phai/201205/Thuc-pham-ban-dan-ta-nom-nop-an-trong-so-hai-2157980/

http://vietbao.vn/Phong-su/TS-Dang-Kim-Son-Nguoi-cam-den-chay-truoc-o-to/20493231/262/

http://vietbao.vn/Phong-su/Khong-du-tieu-chuan-thi-roi-vi-tri/20494387/262/

http://www.vca.org.vn/Default.aspx?tabid=82&News=138&CategoryID=2

http://agro.gov.vn/news/chitiet_nghiencuu.aspx?id=506 (phát triển hợp tác xã và nông hội ở Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc, Đặng Kim Sơn – Nguyễn Minh Tiến 2000)

http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=59&CategoryID=3

http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/135/135/97488/Bai-hoc-tu-phong-trao-Lang-moi-Saemaul-cua-Han-Quoc.aspx

http://agro.gov.vn/news/chitiet_nghiencuu.aspx?id=66 (Phát triển nông thôn bằng phong trào nông thôn mới (SAEMAUL UNDONG) ở Hàn Quốc, Đặng Kim Sơn – Phan Sỹ Hiếu 2001)

http://sdrv.ms/12Zim9n (hình ảnh tại buổi hội thảo 18/5/2013)

 

Một suy nghĩ 9 thoughts on “Nông thôn và nông nghiệp Việt Nam”

  1. Hi cả nhà,

    Trong phần hỏi đáp với tiến sỹ Đặng Kim Sơn, có câu hỏi “ngoài cà phê, thì Việt Nam có thuận lợi nào, thế mạnh nào để phát triển nông nghiệp?”

    Tiến sỹ Đặng Kim Sơn trả lời có nhiều, tiêu biểu có thể kể đến ngay là cá tra. Ở Đồng Tháp, sản lượng cá tra rất lớn, bình quân đạt từ 240 tấn – 400 tấn / ha / vụ. Bạn có tưởng tượng được 240 tấn thịt (đạm) / hecta / vụ không?

    Không đâu trên thế giới có được lợi thế đó như ở Việt Nam!

    Nhưng hiện nay bà con mới chỉ lóc 2 miếng phi lê (thịt sườn cá) để bán, phần còn lại chưa tận dụng được. Tiến sỹ Đặng Kim Sơn cũng ao ước có được 1 viện nghiên cứu của các nhà khoa học trẻ, làm việc bài bản với chất lượng cao tận dụng được hết toàn bộ cá. Như là làm thuốc, làm mỹ phẩm…

    Thật thú vị!

    Số lượt thích

  2. Hi anh Huấn,

    Em cảm ơn anh. “Luật hấp dẫn” quả thật đúng quá!!!

    Nửa năm nay, báo chí toàn đưa tin thực phẩm bẩn, cộng thêm việc nước ta phát triển sai đường lối: đáng lẽ nên trọng tâm phát triển nông nghiệp, nhưng lại chú trọng công nghiệp hóa hiện đại hóa… Làm em tò mò tìm hiểu về nền nông nghiệp của 1 số nước lân cận và những nước phát triển mạnh, để xem người ta hơn mình cái gì, mình học hỏi được gì.

    Về ngành chăn nuôi có lẽ Việt Nam nên học hỏi cách chăn nuôi của Thái Lan. Thái là nước láng giềng ở sát bên, lại có khí hậu rất giống Việt Nam => dễ giao lưu, học hỏi khoa học kỹ thuật, và ứng dụng ngay được. Những ngày nên học hỏi là nuôi gà, heo, bò sữa. 3 con này có nhu cầu rất cao về tiêu thụ trong nước cũng như nước ngoài.

    Về ngành trồng trọt thì phải học Hàn Quốc, khí hậu Hàn Quốc khắc nghiệt hơn Việt Nam rất nhiều. Thời mà Hàn Quốc còn chiến tranh, lạc hậu… làm 3 năm, đã mất mùa 2 năm rồi. Năm được mùa thì thực ra cũng đủ ăn… Nhưng nhờ học hỏi, ứng dụng khoa học kỹ thuật của Mỹ, cộng thêm tính siêng năng, cần cù… Hàn Quốc mở rộng khai khẩn đất (cũng là mở rộng lãnh thổ), liên tục cải tạo đất, thử rất nhiều giống lúa… Từ nền nông nghiệp lạc hậu, bây giờ Hàn Quốc có thể tự cung tự cấp. Cái Việt Nam học được ở đất nước này em nghĩ phần nhiều k phải là công nghệ, mà là ý chí, sức mạnh của sự kiên trì, cần cù của con người. Điều này thực sự mới có giá trị lớn

    Thú thật là em cũng ghiền làm nông, không phải vì em thích làm nông dân. Mà vì với cơ cấu dân số vàng, trình độ nhận thức của người Việt hiện tại, cộng thêm đất đai Việt Nam quá màu mỡ thì làm nông là con đường tốt để làm giàu cho bản thân và đất nước 😀

    Em Phương

    Số lượt thích

  3. Hi Huấn

    Cảm ơn Huấn đã cho xem cận cảnh của nông nghiệp công nghệ cao tại Israel.

    Thấy người dân Israel vượt khó làm mình thấy đúng là “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, nhưng khó vì lòng người ngạ úi e sông!”

    Matta Xuân Lành

    Số lượt thích

  4. Hi Huấn,

    Cảm ơn Huấn. Mình xem clip Huấn gửi, thấy hay quá nên xem tiếp 2 clip trước đó – là phần 2 và phần 1 của chuỗi phóng sự của VTC16 về nền nông nghiệp thần kỳ của Israel trong chương trình “Nông thôn nhìn ra thế giới”.

    Phần 2 – Cây đũa thần trong phát triển nông nghiệp Israel: Theo mình hiểu, đó chính là sự kết hợp giữa nông dân, nhà khoa học và doanh nghiệp. Một sự kết hợp rất ăn ý và hiệu quả.

    Phần 1 – Israel – Nước là vàng (Water is gold): Nói về cách giáo dục và hệ thống luật pháp của Israel để mọi người ý thức được rằng nước rất quý nên cần tiết kiệm nước và cần sáng tạo những cách thức sử dụng nước hợp lý. Clip cũng cho thấy công nghệ sử dụng rất hay, gần như không lãng phí 1 giọt nước nào.

    Dưới đây là 1 bài báo nói về kỳ tích nông nghiệp của Israel:

    http://vneconomy.vn/2011122205183649P0C99/nong-nghiep-israel-ky-tich-tren-hoang-mac.htm

    Nông nghiệp Israel, kỳ tích trên hoang mạc

    ►Israel có diện tích rất nhỏ, trên 20.000 km2, tức là chỉ lớn hơn tỉnh Nghệ An của Việt Nam chút ít…


    Một nông trại giữa sa mạc Arava, một trong những vùng đất khô cằn nhất thế giới.

    NGUYỄN HOÀNG

    Không phải ngẫu nhiên khi Israel tự hào là một trong những quốc gia có nền nông nghiệp tiên tiến nhất thế giới. Khả năng nghiên cứu, sáng tạo và đặc biệt là tính hiệu quả trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật là lời giải đáp dễ hiểu.

    Đầu tháng 12 vừa qua, phóng viên VnEconomy đã có chuyến đi tìm hiểu những thành tựu nổi bật của nền nông nghiệp nước này.

    Thiên đường giữa sa mạc

    Ngày cuối cùng, trên đường từ Biển Chết quay trở lại Tel Aviv để ra sân bay, người viết tình cờ được chứng kiến cơn mưa đầu mùa. Sống ở một nước nhiệt đới, thật thú vị khi được hưởng cảm giác “mưa bóng mây” ở giữa vùng đất này. Cơn mưa có thể gọi là lớn – như lời nhận xét của người lái xe địa phương – kéo dài chừng 5 phút và cũng chỉ đủ làm mặt đường cao tốc loáng nước và chiếc cần gạt nước ôtô làm việc nhàn nhã, chứ đừng nói đến tạo dòng chảy.

    Tuy nhiên, sau gần một tuần thăm và làm việc tại các dự án nông nghiệp của Israel, đã không còn bất ngờ với lời khẳng định đầy tự hào của người Israel: “Khí hậu khắc nghiệt, nhưng chúng tôi vẫn có nền nông nghiệp tiên tiến nhất thế giới”.

    Biển Chết. Địa danh rất quen thuộc với phần còn lại của thế giới nhờ sự kỳ lạ của vùng đất này cũng như sự khắc nghiệt của nó. Tuy nhiên, khí hậu quanh khu vực du lịch này còn khá hơn nhiều phần còn lại của hoang mạc Negev nhờ có chút hơi ẩm từ biển. Nguồn gốc của từ Negev bắt nguồn trong tiếng Hebrew có nghĩa là “khô”. Hoang mạc này chiếm trên một nửa diện tích Israel mà khu vực trung tâm chỉ có lượng mưa hàng năm trên dưới 200 mm. Cũng chính từ hoang mạc này, kỳ tích thần kỳ về nông nghiệp của Israel được tạo ra.

    Thung lũng Arava. Địa danh khá lạ tai đối với khách du lịch, nhưng lại là cái tên rất tự hào của mọi người dân Israel vì tại đây, phép màu đã làm nở hoa giữa sa mạc – những phép màu thực sự của khoa học công nghệ. Là phần khô hạn nhất của hoang mạc Negev, thung lũng Arava trải dài từ phía Nam của Biển Chết đến Vịnh Eliat. Lượng mưa bình quân của khu vực này chỉ từ 20-50 mm mỗi năm. Nhiệt độ mùa hè bình quân lên tới 40 độ C và ban đêm là 25 độ C. Nhiệt độ mùa đông ban ngày là 21 độ và ban đêm chỉ từ 3-8 độ C. Độ ẩm cực thấp và sự chênh lệch nhiệt độ khiến đá cũng phải vỡ vụn mà khắp hoang mạc phủ một lớp đá vụn và cát đặc thù sa mạc. Arava là một trong những vùng đất khô cằn nhất thế giới. Cảm giác đầu tiên khi đặt chân đến vùng đất này, là miền Trung Việt Nam với những dải đất bạc màu và đồi cát, hóa ra vẫn còn là miền đất trù phú!

    Không từ nào có thể diễn tả đúng hơn về một “vườn địa đàng” đã được tạo ra giữa thung lũng Arava, đúng như Tổng thống Israel Shimon Peres đã thốt lên khi đến thăm nơi này năm 2009: “Hãy đến và thấy chính con người cũng có thể tạo nên vườn địa đàng (Gadern of Eden)”!

    Ông Ezra Ravins, người đứng đầu cộng đồng hơn 3.000 người tại khu vực này cho biết, từ một nhóm thanh niên Israel “bồng bột”, mang theo bánh mì và nước quyết định định cư tại thung lũng Arava năm 1959, cả một cộng đồng đã được xây dựng với nhiều thế hệ, tạo thành một trong những trung tâm nông nghiệp lớn nhất cả nước. “Khi những người đầu tiên đến đây, quyết định đó được xem là “điên rồ” nhất và chính những nhà khoa học cũng khẳng định con người không thể sống được ở vùng đất này”.

    Theo số liệu đến tháng 6/2011, dân số của khu vực vào 3.050 người với 700 gia đình, trong đó 500 gia đình làm nghề nông. Tổng diện tích đất đang sử dụng cho canh tác là 3.576 ha. Phần lớn diện tích này là trồng rau (82%), 15% trồng cây ăn trái và 3% trồng hoa. Ớt ngọt là loại rau chính của Arava, chiếm 50% tổng diện tích khu vực và chiếm 60% diện tích trồng rau nói chung.

    Israel có diện tích rất nhỏ, trên 20.000 km2, tức là chỉ lớn hơn tỉnh Nghệ An của Việt Nam chút ít. Tuy nhiên Israel lại được mệnh danh là “thung lũng Silicon” của thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ nước. Chỉ với 2,5% dân số làm nông nghiệp nhưng mỗi năm Israel xuất khẩu chừng 3 tỷ USD nông sản, là một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới. Ít ai biết rằng, những sản phẩm rau quả từ Arava – một trong những nơi khô cằn nhất thế giới – lại chiếm tới trên 60% tổng sản lượng xuất khẩu rau của Israel và 10% tổng sản lượng hoa xuất khẩu.

    Vàng trắng

    Thiên đường nông nghiệp tại Arava gắn liền với một công trình xứng đáng ghi nhận như một kỳ công mà con người đã tạo ra giữa xa mạc: bể chứa nước khổng lồ mang tên Shizaf. Với khả năng dự trữ 150.000 m3 nước sạch, bể chứa này có nhiệm vụ cấp nước sạch cho sinh hoạt và tưới tiêu. Bể được thiết kế để tích trữ nước từ giếng khoan vào thời điểm nhu cầu giảm.

    Bể có đáy chìm 3,5 m dưới mặt sa mạc và chia thành nhiều lớp khác nhau, tạo nên bề mặt nổi 10m. Một khối lượng công việc khổng lồ được thực hiện để đào bỏ 320.000 m3 đá và đất sa mạc. Độ sâu của giếng khoan lên tới 1,5 km mới tới túi nước ngầm. Kỹ thuật thiết kế đặc biệt của bể chống lại chế độ bốc hơi tự nhiên cũng như thu gom nước một cách hoàn hảo.

    Điều kiện tự nhiên của Israel đặc biệt khô hạn với lượng mưa rất thấp và thay đổi theo từng mùa: Phía Bắc quốc gia này lượng mưa khoảng 800 mm/năm và ở phía Nam chỉ khoảng 50 mm/năm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 11 đến khoảng tháng 3 năm sau và lượng bốc hơi tự nhiên lên tới 1.900-2.600 mm/năm. Không có gì ngạc nhiên khi nước ngọt ở Israel được coi như vàng trắng và được quản lý một cách chặt chẽ hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Chính phủ xây dựng hẳn một bộ luật để đo lường mức tiêu thụ nước, kiểm soát việc khai thác nước ngầm, ngăn chặn ô nhiễm nước. Công nghệ xử lý nước của Israel thuộc hàng hiện đại nhất thế giới với tỉ lệ tái chế tới 75%.

    Dọc ngang Israel, ở những thành phố lớn hay những vùng nông thôn, hoang mạc, hệ thống tưới nước hoàn hảo đến mức gần như không bỏ phí một giọt nước nào. Đại diện công ty công nghệ tưới NaanDanJain cho biết 75% hệ thống nước nông nghiệp của Israel áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, 25% còn lại tưới nước bằng ống dẫn và vòi tưới các loại phun mưa nhỏ, không hề có chế độ tưới ngập nước. Israel cũng là quốc gia phát minh ra hệ thống tưới nước nhỏ giọt điều khiển bằng máy tính, kết hợp với các thiết bị kiểm soát độ ẩm trong đất, có thể tính toán chính xác nhu cầu nước và tiết kiệm tối đa.

    Tại công ty Netafim, người viết được chứng kiến những thành quả đáng ngạc nhiên về hiệu quả của việc sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel trên khắp các dự án ở những vùng khô hạn trên thế giới. Hệ thống ống dẫn nước như những mao mạch dẫn tới từng gốc cây, được vận hành chính xác bằng công nghệ cao cũng như sử dụng tối ưu năng lượng mặt trời. “Đạt năng suất cao hơn với chi phí thấp hơn” (grow more with less) là khẩu hiện của Netafim và có lẽ cũng là hướng đi của phần còn lại của thế giới, khi nguồn tài nguyên nước đang ngày càng suy giảm.

    Bông đùa với một người bạn Israel, “có lẽ các bạn sẽ không triển khai được nhiều hệ thống tưới nước này ở Việt Nam. Chúng tôi cần hệ thống thoát nước hơn”. Câu trả lời khiến tôi phải suy nghĩ: “Với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, nguồn nước thiếu thốn, nhưng công nghệ cao, sự vận hành khoa học và tiết kiệm đã đưa chúng tôi trở thành một trong nước có nền nông nghiệp tiên tiến. Với điều kiện tự nhiên ưu đãi, Việt Nam thậm chí còn có lợi thế xuất phát tốt hơn nhiều”. Cũng không có gì ngạc nhiên khi những công ty cung cấp các sản phẩm, công nghệ tưới Israel như Netafim, NaanDanJain… chiếm trên 30% thị phần thế giới với 80% tổng sản phẩm được xuất khẩu hàng năm.

    “Cây đũa thần” khoa học

    Trong lần tháp tùng Tổng thống Israel Shimon Peres thăm chính thức Việt Nam vừa qua, bà Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp nước này dành cho VnEconomy một buổi trao đổi ngắn. Lời khuyên được nhắc đi nhắc lại, cũng như kinh nghiệm quan trọng nhất của Israel để xây dựng được một nền nông nghiệp hiện đại là hãy đầu tư cho khoa học kỹ thuật. Điều này không mới, nhưng nếu không có những quyết sách táo bạo, sự hỗ trợ của chính phủ thì rất dễ rơi vào cảnh “đánh trống bỏ dùi”. Nói không đâu xa, sự phối hợp “bốn nhà” ở Việt Nam vẫn còn đang loay hoay tìm hướng đi bền vững.

    Một con số dễ hình dung về năng lực của “cây đũa thần” khoa học. Năm 1950, một nông dân Israel cung cấp thực phẩm đủ cho 17 người, hiện đã là 90 người. Một hecta đất hiện cho 3 triệu bông hồng, hay 500 tấn cà chua/vụ. Một con bò cho tới 11 tấn sữa/năm – mức năng suất mà không một nước nào trên thế giới có được.

    Những thực tế tại công ty NaanDanJain đã đem lại một bài học khác về sự phối hợp: nhà khoa học, nhà doanh nghiệp có sự tách biệt khó phân định với nhà nông. Đa phần các nước nhập khẩu công nghệ của NaanDanJain chỉ biết rằng đây là một trong những công ty hàng đầu Israel chuyên về giải pháp tưới, hệ thống công nghệ kiểm soát khí hậu nhà kính, mà không biết rằng chính công ty cũng đang sở hữu những đồn điền rộng lớn, nơi chính những tiến bộ khoa học của công ty được triển khai đầu tiên, nhằm đảm bảo sự thích ứng hoàn hảo nhất đối với nhu cầu của người trồng trọt.

    Một trong những lợi thế của sự phối hợp giữa khoa học và nhà nông tại Israel là tính cộng đồng rất cao. Nhà khoa học rất gần gũi với đồng ruộng và nhiều trong số họ cũng chính là nông dân hoặc giữ vai trò tư vấn trực tiếp cho nông dân. Các trung tâm nông nghiệp lớn, thậm chí cả các “làng nông nghiệp” (từ địa phương là kibbutz) đều có sự xuất hiện của các phòng nghiên cứu hoặc đại diện của các viện khoa học. Những giống cây mới hay các nghiên cứu mới về hệ thống nhà kính trước hết được thí nghiệm, kế đó sẽ áp dụng thử nghiệm với một số nhỏ hộ nông dân bằng nguồn vốn hỗ trợ của hệ thống tài chính vi mô hoặc từ chính quỹ của viện thí nghiệm, trước khi triển khai thương mại đại trà.

    Tại Israel phần lớn các nhà khoa học nông nghiệp làm cho chính phủ. Có tới hơn 60% các công trình nghiên cứu nông nghiệp là của Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp hay trung tâm Volcani thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Israel cũng là nước có mức đầu tư cho nghiên cứu thuộc loại lớn nhất thế giới với gần 100 triệu USD mỗi năm, chiếm khoảng 3% tổng sản lượng nông nghiệp quốc gia. Nguồn lực này đến từ ngân sách và cộng động (50 triệu USD/năm), các hợp tác quốc gia song phương (12 triệu USD/năm), các tổ chức nông nghiệp cấp địa phương và quốc gia (6 triệu USD/năm) thông qua nguồn lợi từ thu hoạch cây trồng. Khu vực tư nhân cũng đóng góp khoảng 25 triệu USD hàng năm.

    Nguồn lực này được cung cấp trực tiếp cho việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm ứng dụng và các nhà đầu tư giữ bản quyền sáng chế. Phần lớn các nghiên cứu đều do những công ty sản xuất sản phẩm đầu vào, như hệ thống tưới tiêu, phân bón, nhà kính… triển khai. Sự phối hợp giữa kinh doanh và nghiên cứu đảm bảo cho các nhà khoa học một mức ưu đãi đủ để phát huy tối đa năng lực hoạt động chuyên môn. Thậm chí các chuyện các chuyên gia nông nghiệp đi tư vấn trực tiếp cho các nông trại là điều không hiếm.

    Việt Nam hiện đang là một trong những quốc gia đối tác quan trọng của Israel trong lĩnh vực nông nghiệp. Một số công nghệ trong lĩnh vực tưới, chăn nuôi bò sữa đã được doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu và ứng dụng hiệu quả. TH True Milk – một trong những thương hiệu sữa tươi của Việt Nam – là ví dụ thành công trong triển khai công nghệ chăn nuôi bò sữa. Công nghệ quản lý đàn Afifarm của công ty SAE Afikim là hệ thống quản lý trang trại bò sữa hiện đại nhất thế giới tới từng cá thể với chip điện tử theo dõi tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng và sản lượng sữa.

    Công nghệ tưới nhỏ giọt cũng đang được triển khai ở Việt Nam đang hứa hẹn tạo ưu thế so với phương pháp tưới rãnh và tưới phun truyền thống. Những trang trại bò sữa thí điểm cũng có thể được tìm thấy tại Hà Nội, Tp.HCM, Hải Phòng…

    * Từ ngày 15-17/5/2012, Israel sẽ tổ chức triển lãm quốc tế nông nghiệp Agritech lần thứ 18 tại thủ đô Tel Aviv. Đây là hội chợ quốc tế lớn nhất trong lĩnh vực nông nghiệp. Hội chợ quy tụ những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành, các nhà phân phối, nhà sản xuất, nghiên cứu. Chủ đề của triển lãm bao gồm giới thiệu các công nghệ, thiết bị tiên tiến, năng lượng tái tạo, dịch vụ khuyến nông, công nghệ sinh học, nghiên cứu, phát triển và đào tạo, dự án chìa khóa trao tay trong lĩnh vực nông nghiệp…

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s