Một chút triết lý về Hạnh phúc và Khổ đau

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta hãy triết lý một chút về vài câu hỏi thỉnh thoảng ai trong chúng ta cũng có: Khổ đau từ đâu đến? Tội lỗi từ đâu đến? Hạnh phúc là gì?

Và mình sẽ khởi đầu với triết lý Thiên chúa giáo [Do Thái giáo, Kitô giáo (gồm Công giáo, Chính thống giáo, và Tin lành) và Hồi giáo], rất giản dị và dễ hiểu. Rồi mình sẽ lồng nó vào triết lý Phật giáo, vì tư tưởng Phật giáo nhiều logic và trừu tượng hơn.

Đây là câu chuyện về Vườn Địa Đàng (Eden), nằm trong quyển Sáng Thế Ký (Genesis) là cuốn sách đầu tiên của Thánh Kinh, và do đó là nền tảng triết lý của Thiên chúa giáo.

Chương 2 – Sáng Thế Ký nói Chúa dựng nên vườn Địa Đàng:

Ngày ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm ra đất và trời, chưa có bụi cây ngoài đồng nào trên mặt đất, chưa có đám cỏ ngoài đồng nào mọc lên, vì ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa chưa cho mưa xuống đất và không có người để canh tác đất đai. Nhưng có một dòng nước từ đất trào lên và tưới khắp mặt đất. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. Rồi ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác . Một con sông từ Ê-đen chảy ra tưới khu vườn, và từ đó chia thành bốn nhánh… ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết.” Genesis 2:5-17

Tức là vào thưở ban đầu, con người rất trong sáng ngây thơ, không biết điều thiện điều ác, sống trong Vườn Địa Đàng rất thoải mái.

Đây là trạng thái của có lẽ là đại đa số loài vật. Không hề biết thiện ác, chỉ sống tự nhiên theo bản năng bẩm sinh, đói thì ăn, khát thì uống.

Và trong giai đoạn này, có lẽ mọi sinh vật đều biết ĐAU nhưng không biết KHỔ. Gặp lửa phỏng thì đau, gặp con vật khác tấn công thì biết đau, và có lẽ là biết sợ vì bản năng sinh tồn tự nhiên… nhưng có lẽ không KHỔ, vì khổ là một hiện tượng tâm lý, chỉ xảy ra khi não bộ biết tư duy về một hiện tượng—như là sự chết—và tư duy đó tạo ra những bức xúc khổ đau trong tâm thức.

Tức là, đây là giai đoạn đầu của con người, sống tự nhiên ngây thơ không khác gì loài vật.

Nhưng rồi Adam và Eve ăn trái cấm, tức là trái của cây cho biết điều thiện và điều ác:

Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn. Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân. Nghe thấy tiếng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa gọi con người và hỏi: “Ngươi ở đâu? ” Con người thưa: “Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn.” ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi: “Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không? ” Genesis 3:6-11

Ăn trái cấm xong thì Adam và Eve biết được là mình trần truồng. Đây là giai đoạn mà các triết gia và tâm lý gia gọi là “reflection of the self” – phản ánh tư duy về chính mình. Đây là điểm được xem là bước đầu tiên phân biệt loài người và loài vật. Trước đó, mọi con vật đều không thấy có sự khác biệt và tách biệt giữa mình và thế giới chung quanh. Nhưng khi não bộ đã có self-reflection, thì sinh vật đó [con người] bắt đầu biết đến “tôi” và “thế giới quanh tôi” như là hai điều tách biệt nhau, và biết tư duy về “tôi”.

Khi bắt đầu biết tư duy về “tôi” như thế thì sẽ biết là tôi trần truồng, biết xấu hổ, và từ từ biết được cái gì nên làm—như là áo quần che thân—và cái gì không nên làm—như là không nên trần truồng trước mặt người khác. Tức là, con người bắt đầu biết thiện ác, hay nói đúng ra là con người, trong nhiều trường hợp, bắt đầu tạo ra thiện ác, chỉ định cái gì là thiện và cái gì là ác.

Và con người bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng–tức là bắt đầu mất hạnh phúc–và bắt đầu cuộc sống khổ cực từ đó.

Hai giai đoạn này đều hoàn toàn giống với Phật triết, chỉ khác về ngôn ngữ mà nội dung thì như nhau. Phật triết nói rằng tâm của ta nguyên thủy là tinh tuyền, là tâm bình đẳng, tâm không phân biệt. Tức là tâm nguyên thủy của ta không phân biệt thiện ác, không phân biệt ta với thế giới– tất cả mọi thứ, ta và thế giới, ta với mọi người, đều là một.

Và si mê làm cho tâm ta thành tâm phân biệt—phân biệt ta với người khác, phân biệt ta với thế giới, phân biệt thiện với ác… từ đó mà sinh ra đủ mọi tranh chấp mâu thuẫn và… đau khổ.

Si mê từ đâu mà ra?

Nhà Phật thì nói si mê là từ ham muốn (“ái”). Vì ham muốn nên ta “nắm giữ” (“thủ”, hay “chấp”) và từ đó mà sinh si mê, làm cho ta nhìn chính ta với thế giới như là những mảnh vụn đối chỏi nhau.

Thiên chúa gia thì không dùng chữ “si mê”, nhưng câu chuyện thì cũng cho thấy nguyên nhân của đau khổ là là ham muốn và si mê của con người: Adam và Eva ăn trái cấm vì nghe lời con rắn dụ dỗ: “Ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” Genesis 3:5. Tức là cũng là ham muốn trí tuệ–biết thiện ác– và quyền lực—được thông thái bằng Chúa– cho nên cãi lời Chúa, và đương nhiên đó là si mê và là kiêu căng.

Nguồn gốc của hạnh phúc, và khổ đau là như thế.

Thiên chúa gia (Do thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo) nói con người sẽ có hạnh phúc lại nếu con người, đã bị tống khứ ra khỏi Vườn Địa Đàng, nối kết lại được với Chúa như thời khởi thủy.

Và Kitô giáo (Công giáo, Chính thống giáo và Tin lành) nói con người nối kết lại với Chúa qua việc Chúa Giêsu xuống thế làm người và chịu chết để chuộc tội cho con người, vì con người quá tội lỗi chẳng thể nào tự mình mà nối kết lại được với Chúa.

Và nối kết lại qua Chúa Giêsu là (1) yêu Chúa và (2) yêu người vô điều kiện, yêu cả kẻ thù. Tức là trở lại tâm không phân biệt của thời khởi thủy.

Nhà Phật gọi sự trở lại tâm không phân biệt đó là Tâm Không—thấy được mình và tất cả mọi sự đều là Không (Bát Nhã Tâm Kinh).

Và khi ta trở lại được Tâm không phân biệt như thế, ta có được hạnh phúc mà con người đã có từ nguyên thủy.

Chúc các bạn một ngày hạnh phúc.

Mến,

Hoành

© copyright 2012
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

12 thoughts on “Một chút triết lý về Hạnh phúc và Khổ đau”

  1. Em thấy anh Hoành nói quan trọng nhất vẫn là thực hành, và trong thực hành ta sẽ nhận ra chân lý.

    Qua trải nghiệm của bản thân thì em thấy thường những thứ không đúng ý ta thì làm cho ta đau khổ. Và em có 2 cách để giải quyết vấn đề này:

    Cách 1 (em thường sử dụng với người ngoài gia đình): Em tĩnh tâm thật kỹ và thấy ý ta chính là ý nghĩ của ta. Rồi em thấy mình lại bị chi phối bởi ý nghĩ của mình sao? Mình còn sinh ra ý nghĩ cơ mà, sao lại để ý nghĩ chi phối gây đau khổi cho mình được chứ? Cứ trả lời dần các câu hỏi thì em cũng thấy ý ta không còn nữa và cũng thấy hết đau khổ.

    Cách 2 (em thường sử dụng với người thân yêu trong gia đình): Sau khi thử cách 1 không được thì em chuyển sang cách 2 là tráo đổi ngôi. Ví dụ như vợ em làm điều gì đó không đúng ý em và khiến cho em buồn bực. Dù đã tĩnh tâm và thử cách 1 mà vẫn không được em liền dịch chuyển ý nghĩ của mình thành ý nghĩ của vợ. Em thấy nếu cùng điều đó em làm mà không đúng ý vợ thì vợ không những không bực mình mà lại còn thấy đáng thương cho em nữa, lại còn thấy em đáng yêu nữa.

    Thế là tự nhiên em cũng không còn cảm thấy bực mình và đau khổ nữa mà thay vào đó là cảm giác hạnh phúc tràn ngập.

    Có thể em viết cũng không tả hết được cụ thể, nhưng em tin là các anh chị đều hiểu. 🙂

    Em Thắng.

    Like

  2. Hi Quỳnh Linh,

    Ngoài các lời khuyên hay châm ngôn (cũng là một dạng lời khuyên), có một số đoạn trong kinh sách có tính lịch sử, như các đoạn về cuộc đời Phật Thích Ca hay Chúa Giêsu hay các đệ tử của các vị (dù là dộ chính xác cũng không thể chắc 100% và có thể có nhiều chỗ bị thần thánh hóa).

    Like

  3. “Cho nên mình nên nhận ra nơi nào là biểu tượng, nơi mào là không, để có thể suy ngẫm chu đáo hơn”.

    Vậy mà em cứ tưởng rằng mọi câu chuyện của kinh sách (Thiên Chúa hay Phật) đều có tính biểu tượng, chỉ những lời khuyên mới là thật. 🙂

    Like

  4. Hi Phong Lan,

    Một số phần trong Knh Thánh phải được hiểu theo biểu tượng triết lý thì mới thấy được cái hay, còn nếu không thì nó có vẻ như truyện phong thần. Cũng như kinh Diệu Pháp Liên Hoa của nhà Phật, toàn là biểu tượng triết lý.

    Cho nên mình nên nhận ra nơi nào là biểu tượng, nơi mào là không, để có thể suy ngẫm chu đáo hơn.

    Like

  5. À, ban đầu em tưởng “reflection of the self” là ý thức về mình,nghĩ là có ý thức về ta nên khổ,nhưng cũng nhờ có ý thức biết về ta,cái này con vật không có ,nên con người biết được nó gây đau khổ nên bỏ nó,thì được hạnh phúc,hihi,em xin lỗi ạ

    Like

  6. Dạ ,hay quá, em cảm ơn anh đã giải thích cho.Kinh Chúa hay thế anh Hoành nhỉ, chắc khi nào rảnh rỗi,em sẽ đọc kinh Chúa
    Phong Lan

    Like

  7. Hi Phong Lan,

    Vì reflection of the self mà con người đã đánh mất địa đàng–tức là đau khổ.

    Và con người kết nối lại với Chúa và địa đàng không bằng reflection of the self mà bằng tin vào Chúa Giêsu để (1) Yêu chúa và (2) yêu người vô điều kiện. Tức là trở thành một với Chúa và với tất cả mọi người bằng tình yêu của mình.

    Nhà Phật thì nói mình và vũ trụ là một, và một đó gọi là Không.

    Còn phất triển vật chất hay phát triển tinh thần của mình, thì luôn luôn là có hai ý.

    — Chúa muốn người ta sống tử tế, sống theo kiểu quản lý mọi thứ cho Chúa–từ thân thể và đầu óc của ta, đến tài sản vật chất và kinh nghiệm tinh thần của ta, đến cây cối muông thú môi trường quanh ta… Sáng Thé Ký viết: “Chúa đem con người đặt vào vườn Ê-đen, để cày cấy và canh giữ đất đai”. Genesis 2:15

    Tức là ta nên sống như là một quản lý tốt của tất cả mọi thứ ta có, để phát triển chúng, để giúp ích cho đời.

    — Đó là ý Chứa muốn, nhưng thực hành là ý ta muốn, Chúa chẳng cản ta nếu ta làm bậy. vì Chúa tạo ra con người tự do, tự do lự chọn cho tư duy và hành động của mình.

    (Như là bố mẹ có ý tốt cho con nhưng vẫn để con tự do lựa chọn cách sống cho chính mình).

    Vũ trụ và cuộc đời được chi phối bởi hai ý muốn như thế–của Chúa và của con người.

    Đặc biệt về làm việc thì người Thiên Chúa Giáo thường tin rằng: (1) Cần cù làm việc là việc đẹp lòng chúa (vì Chúa tạo ra con người là để quản lý trái đất) và (2) hoa trái của làm việc cần cù là phần thưởng của Chúa cho mình (tức là, Chúa hỗ trợ để sức lao động của mình đem lại nhiều hoa trái, tài sản).

    Tất cả những điều anh nói trên đây là các điểm chính trong Thần học của các nhánh Thiên Chúa giáo, hầu như là các nhánh chính đều đồng ý về các điểm căn bản này.

    Like

  8. Anh Hoành ơi,
    Có vẻ như chính vì “reflection of the self” mà con người đã lạc khỏi địa đàng và xa dần Chúa ,và cũng chính nhờ “reflection of the self” mà con người mới có thể quay về địa đàng và ở cùng Chúa ?
    Có lẽ con người mới sẽ là con người ở cùng Chúa và phát triển thế giới vật chất theo ý Chúa ?

    Like

  9. Cám ơn anh Hoành đã giảng giải về nguồn gốc của khổ đau. Em rất thích bài này. 🙂

    Em Thắng.

    Like

  10. Vâng,dân gian thường có câu ” nếu cho đấy là khổ thì là khổ,mà coi đấy không là khổ thì là không khổ” tất cả đều do tâm trí
    Cảm ơn anh Hoành với bài viết thật hay ,ai muốn hạnh phúc mà không đọc bài này thì uổng lắm

    Like

Leave a comment