Ở nước ta nửa đầu thế kỷ XX từng có một vị “Đại Bồ Tát bằng xương bằng thịt hiện thực giữa cõi đời”, cư sĩ Nguyễn Hữu Kha (1902-1954), bút danh Thiều Chửu. Ông chủ trương hoạt động tín ngưỡng là ở trong tâm mỗi người chứ không nhất thiết phải vào chùa tu hành. Một vài quan điểm của ông thật sự cấp tiến, như chủ trương trả lại chùa cho dân làm trường học, thư viện, nhà dưỡng lão; tăng sĩ phải lao động tự nuôi mình…
Nhà giáo dục Hoàng Quý là một trong những nhân tài được đào tạo từ Khu học xá Nam Ninh, ở một trường sơ tán trên đất Trung Quốc, có tên là “Dục tài học hiệu” (Ngôi trường đào tạo nhân tài). Đúng như lớp trí thức ở thế hệ ông, và cũng đúng truyền thống gia đình, ông là người hiếu học đến mê say, có ý chí và sức tự học rất lớn, tài năng mà khiêm nhường, suốt đời tận tụy phục vụ đất nước, ở lĩnh vực nào cũng có đóng góp lặng lẽ mà xuất sắc.
Anh Đào Viết Thoàn, một người lính chiến bị đa chấn thương: Vỡ sọ não, vỡ bánh chè, gãy xương sườn, mất mắt trái, nát cơ chân, cơ mông và bị cháy bỏng gần 2/3 diện tích cơ thể… Anh đã phải lên bàn mổ ngót chục lần chỉ trong vòng 4 năm (mất 93% sức khoẻ, thương binh nặng hạng 1/4) thì xương thịt đã “rách” nhừ tử, tơi tả đến mức nào! Vậy mà trong hơn hai chục năm qua, người thương binh ấy đã cưu mang, cứu chữa lành lặn vết thương cho hơn 15.000 lượt người bệnh nghèo cơ nhỡ.
Cơn bão Xangsane năm 2006 khiến núi rừng Hải Vân bị tàn phá nặng nề. Ngay sau cơn bão, ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Hải Vân đã được giao nhiệm vụ khôi phục màu xanh cho núi rừng. Cũng từ đó, một lượng lao động trẻ đã tìm đến nơi này… Khi nhìn mọi người, thấy ai cũng cẩn thận, nhẹ nhàng đặt từng bầu cây xuống đất rừng, chúng tôi hiểu họ đã gửi gắm cả tình yêu của mình vào rừng núi, vào từng cây xanh.
Sáng 15-3, tại kênh Rạch Nhảy thuộc địa bàn khu phố 1, P.16, Q.8 (TP.HCM), trên 400 đoàn viên thanh niên quận 8 đã tổ chức lễ ra quân Chủ nhật xanh lần 78 với chủ đề “Cải thiện môi trường dọc bờ kênh Rạch Nhảy”.
Ngôi trường mang tên nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện do tiến sĩ Nguyễn Lê Đắc thành lập đã trở thành “câu chuyện cổ tích” đối với người dân xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Sự khác biệt giữa trường tư thục Nguyễn Khắc Viện với các trường công lập ở chỗ: “Đầu thải” của các trường trung học phổ thông công lập (số học sinh không đủ điểm kỳ thi chuyển cấp) lại là đầu vào của trường.
Câu chuyện của vị mục sư thành phố cảng tối 14.3 đã gây chấn động chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly”… Lòng yêu thương vô điều kiện của những người đàn bà đã khiến khán giả – và ngay cả những người làm chương trình – bật khóc.
Tôi là người hạnh phúc, Video, Nick Vujicic, người phi thường, sinh ra không tay không chân, nhưng vẫn sống mạnh và dạy mọi người sống tích cực. Chị Tống Lan, Tổ chức tình nguyện trẻ Vòng Tay Bè Bạn, và là office manager của Urban Solutions, Hà Nội, gửi 2 links.
Bagan, Myanmar, Văn Hóa, một trong những di chỉ khảo cổ lớn nhất và nỗi tiếng nhất Đông Nam Á, chị Loan Subaru.
Thời tiết , Trà Đàm, thơ song ngữ, “Và mỗi mùa đều ban phúc riêng của mùa ấy…”, BJ Gallagher, chị Huỳnh Huệ dịch.
.
Tin Sáng, chị Thùy Dương tóm tắt và nối links. Khi bộ đội “bắt ma” giỏi hơn thầy cúng, bộ đội biên phòng giúp đồng bào Chứt tại bản Rào Tre (Quảng Bình) thay đổi tư duy.
Đây là câu chuyện phi thường về một người phi thường: Nick Vujicic, sinh ra đã không tay và không chân, nhưng vẫn sống bình thường, sống mạnh mẽ, sống phi thường và, nhờ đó, đã giúp bao nhiêu người trên thế giới có được sức mạnh tích cực trong đời.
Video này có phụ đề Việt ngữ, do chị Tống Lan giới thiệu. Chị Lan thuộc Tổ chức tình nguyện trẻ Vòng Tay Bè Bạn và là Office Manager của URBAN SOLUTIONS, 5 Tô Ngọc Văn, Hà Nội. Chị Lan đã dịch và phụ đề Việt ngữ cho phim, và gửi video này đặc biệt tặng em Nguyến Văn Tiến, tàn tật vì liều mình cứu bạn, hiện đang điều trị tại Viện Bỏng Quốc Gia, Hà Nội.
Cám ơn chị Lan rất nhiều. Bình an ở cùng chị Lan và các anh chị em Vòng Tay Bè Bạn.
Tuy chỉ là một quốc gia nhỏ bé nằm khiêm tốn bên cạnh người láng giềng khổng lồ Thái Lan, Myanmar lại tự hào được sở hữu một trong những di chỉ khảo cổ lớn nhất, nổi tiếng nhất Đông Nam Á. Đó là Bagan (còn được gọi là Pagan) – cội nguồn của đất nước Miến Điện. Nếu tới Myanmar mà chưa tới Bagan thì chẳng khác nào kẻ khát nước chưa tìm được nguồn nước. Bagan chính là thành phố tôn giáo đặc biệt nhất trên thế giới. Hiện nay ở Bagan vẫn còn tồn tại tới 2.224 trong tổng số 4.446 ngôi đền được xây dựng từ thế kỷ 11 cho tới thế kỷ 13 – bộ bách khoa thư đồ sộ về kiến trúc cổ Miến Điện. Từng là thủ phủ của một vương quốc hùng mạnh, giờ đây Bagan chỉ là thành phố bị dòng chảy của xã hội văn minh “bỏ quên”, nằm lặng lẽ ở tả ngạn sông Ayeyawady hiền hòa.
Theo lịch sử, trong 12 thế kỷ (kể từ năm 168), 55 vị vua đã kế tiếp nhau trị vì vùng đất này và người có công lớn nhất trong việc biến Bagan thành một trung tâm quyền lực, tôn giáo và kinh tế hưng thịnh là vua Anawrahta (1044 – 1077). Ông đã chinh phục vương quốc láng giềng Thaton, bắt hàng ngàn thợ thủ công Thaton về nước để xây dựng đền chùa, đưa đạo Phật thành quốc giáo. Cũng dưới triều đại Anawrahta, văn tự burman (miến điện cũ) ra đời. Truyền thuyết kể lại rằng, cứ một ngày, ở Bagan lại mọc lên 40 ngôi chùa và ngày nay, bất cứ du khách nào đặt chân tới Bagan cũng bị choáng ngợp trước tài năng của những người thợ vô danh khi xưa, và cả sự cuồng tín của một quốc gia: hàng vạn, có thể là hàng triệu người bỏ công sức, tiền bạc, của cải để dựng lên những công trình vĩ đại với mục đích duy nhất – ngợi ca công đức cùng những giáo lý của Phật tổ từ bi.
Chùa Shwezigon
Trong cái nóng nực, bụi bặm của miền trung Myanmar, dọc theo bờ sông Ayeyawady, từng cụm đền, chùa với những ngọn tháp nhọn hoắt như muốn chọc thủng cả bầu trời xanh ngắt hiện dần ra trước mắt, trên một vùng cao nguyên rộng lớn. Mỗi công trình mang một dáng vẻ, kiểu kiến trúc riêng biệt, hoàn toàn không có sự trùng lắp. Tuy nhiên, hầu hết đã mất đi màu trắng tinh khôi của lớp tường vôi ban đầu, thay vào đó là màu đỏ thẫm hoặc bị xỉn đi bởi lớp bụi dầy do những cơn gió dữ dội trong mùa khô mang tới. Không có nhiều màu xanh trên cao nguyên này, chỉ toàn cọ và những thân xương rồng khẳng khiu, đầy gai nhọn. Thỉnh thoảng mới có một cơn mưa ngắn ngủi, không đủ để gột rửa sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Hiếm hoi lắm mới thấy được ánh vàng rực rỡ còn sót trên một đỉnh chóp. Ấy vậy mà từ năm 1300, khi cư dân cuối cùng rời khỏi Bagan, những ngôi đền chùa này vẫn đứng sừng sững, trơ gan cùng tuế nguyệt, ngắm nhìn cảnh bể dâu, xem vật đổi sao dời. Một sự may mắn lớn dành cho hậu thế.
Với những người lần đầu tiên tới Bagan, có lẽ chùa Shwezigon nằm ở khu vực ngoại ô là thắng cảnh để lại nhiều ấn tượng nhất. Bản thân nó cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chùa ở Myanmar, chẳng kém gì Chùa Vàng (Shwedagon) ở thủ đô Yangon. Shwezigon là ngôi chùa đầu tiên của quốc gia Miến Điện xưa được xây dựng theo lối kiến trúc Phật giáo tiểu thừa. Hơn thế, nó còn là nơi lưu giữ Xá lợi phật – bao gồm hai mẩu xương và phiên bản của một chiếc răng.
Những điều bí ẩn ở ngôi chùa này cho đến ngày nay vẫn làm đau đầu các nhà khoa học, còn hàng triệu lượt du khách đến viếng thăm Shwezigon chỉ biết lắc đầu khâm phục mà thôi. Bạn có biết rằng, dù là sáng, trưa hay chiều, chiếc bóng khổng lồ của Shwezigon chẳng bao giờ đổ qua bốn bức tường bao bọc. Và bất chấp những cơn gió cuồn cuộn, vô số mẩu giấy rơi xuống từ đỉnh tháp dát vàng cũng không bao giờ bay qua những bức tường kia. Đó thực sự là một ranh giới vô hình ngăn cách Shwezigon với thế giới phàm tục bên ngoài. Và bất cứ ai đã một lần tới đây cũng phải thừa nhận, dù lượng khách viếng thăm Shwezigon có nhiều tới cỡ nào thì họ cũng không hề cảm nhận được sự đông đúc trong bốn bức tường bao. Luôn là cảm giác vắng vẻ, u tịch của chốn đình viện thâm nghiêm. Không chỉ có vậy, trong các dịp lễ hội cử hành ở đây, người ta đã phát hiện ra rằng, đứng ở phía bên này của chùa thì chẳng thể nghe thấy bất cứ một âm thanh nào từ phía bên kia, kể cả tiếng trống rền vang. Và ngay cả những trận mưa dầm dề kéo dài hàng tuần cũng không thể làm nước đọng lại ở bất cứ góc nhỏ nào trên khoảng sân trong của chùa. Còn cây sơn trà trồng ở góc chùa phía Đông Nam thì tươi tốt và ra hoa quanh năm. Điều cuối cùng là dù được xây trên khoảng đất bằng nhưng nhìn từ xa, du khách luôn có cảm giác chùa đứng sừng sững trên một ngọn đồi nhỏ. Thật là kỳ diệu.
Đền Anada
Hai ngôi đền nổi tiếng nhất ở Bagan là Anada va Thatbynnyu. Cả hai đều được xây vào cuối thế kỷ 11, trong đó Thatbynnyu với chiều cao 62m là ngôi đền cao nhất và Anada – chịu nhiều ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Độ – là ngôi đền đẹp và hài hòa nhất. Cái tên Anada bắt nguồn từ Anata, tức là sự sáng suốt vô tận của Phật tổ. Du khách đến với Anada và Thatbynnyu không chỉ để chiêm ngưỡng vẻ tráng lệ của hai ngôi đền này mà còn để thưởng thức cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp trên cao nguyên Bagan. Mặt trời khuất dần sau những ngọn đồi phía xa, ráng chiều đỏ rực phủ lên những hoang tàn, đổ nát của muôn vàn đền đài càng làm tăng thêm vẻ cô liêu, hoang vắng. Trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ đó, con người chợt cảm thấy mình nhỏ nhoi biết nhường nào…
“Năng lực này là gì, tôi không giải thích được. Tôi chỉ biết là nó có đó…và nó chỉ hiện ra khi bạn ở trong một trạng thái tâm thức mà bạn biết chính xác bạn muốn gì… và bạn hoàn toàn quyết tâm, không từ bỏ cho đến khi bạn nắm được nó.”
Loan Subaru dịch
“What this power is, I cannot say. All I know is that it exists…and it becomes available only when you are in that state of mind in which you know exactly what you want…and are fully determined not to quit until you get it.”
Câu chuyện về các chiến sĩ biên phòng cắm bản đã làm thay đổi nhận thức một thế hệ người Chứt. Bắt đầu từ một đêm mưa như trút tháng 8/2001, khi những người lính cắm bản vừa đến đây tròn 2 tháng.
Thaihabooks tổ chức buổi tọa đàm “Tài năng, tính tự lập của con trẻ và vai trò của cha mẹ”, vào lúc 9 giờ, ngày 20-3, tại Café Miss Saigon, 90 Phạm Ngọc Thạch, Q.3 – TPHCM. Trong buổi tọa đàm này, bé Đỗ Nhật Nam – dịch giả nhỏ tuổi nhất Việt Nam, chị Phan Thị Hồ Điệp (mẹ bé Nam), tiến sĩ tâm lý Huỳnh Văn Sơn sẽ chia sẻ những vấn đề như làm thế nào để định hình tính tự lập, giúp các bé phát triển tối đa tiềm năng của mình. Thaihabooks sẽ ra mắt bộ sách đầu tay của dịch giả Đỗ Nhật Nam.