Chúa tạo thầy/cô thế nào?

Lúc Chúa Trời tạo ra người Thầy… Người đã phải làm thêm đến ngày thứ sáu mà vẫn chưa xong. Người biết đó là một trọng trách lớn lao để tạo ra một người, có thể chạm vào từng mảnh đời của những đứa trẻ mong manh và trong sáng.

Bỗng một Thiên thần đến bên Người và nói “Ngài đã mất quá nhiều thời gian để suy nghĩ và làm ra người này rồi!”

“Đúng vậy” Chúa Trời nói “Nhưng cậu có thấy điều kỳ diệu gì trong sinh thể này không”

Là một Giáo viên…

… sẽ phải chăm sóc tất cả các học sinh, bất kể hoàn cảnh xuất thân…
… sẽ phải giải quyết hàng trăm việc linh tinh dù chúng chẳng liên quan đến nhau hay bài học
… sẽ phải truyền đạt những tri thức về cuộc sống cho học sinh từng ngày từng phút
… sẽ phải dành nhiều thời gian cho người khác hơn là cho chính bản thân
… sẽ phải luôn nở một nụ cười điềm đạm, dù là với những học sinh nghịch ngợm, khó hiểu, hay với những người cha, người mẹ hay âu lo…
… sẽ phải kiên nhẫn với công vịêc của mình, dẫu cho những bậc phụ huynh đặt thật nhiều câu hỏi hay khó thông cảm với nghề giáo viên chăng nữa
… sẽ phải có đến ba đôi mắt…

Thiên thần bỗng hoài nghi “Ba đôi mắt… trên một người thầy sao?”

Chúa trời gật đầu: “Một đôi mắt để hiểu rõ học trò của mình chứ không phải xét tội chúng.

Một đôi mắt đặt ở đằng sau để quan sát những điều khó thấy mà người thầy phải biết.

Và đôi mắt ở phía trước chỉ dành để dõi theo những điều học trò làm, chỉ để nói rằng:
“Thầy hiểu và vẫn luôn tin tưởng ở em”

“Hỡi Chúa trời” Thiên Thần nói “đây đúng là một công vịêc khó khăn và quan trọng,
nhưng Ta nghĩ Người nên làm tiếp và ngày mai thì hơn”

“Không được” Chúa Trời đáp, “Ta đã tiến rất gần đến vịêc tạo ra một con người, rất giống với chính ta. Đó là một người vẫn đi làm dẫu khi bị ốm, vẫn kiên nhẫn dạy những học sinh dù chúng chỉ ham chơi, yêu thương học trò như những đứa con, hiểu những nỗ lực của những học trò bất hạnh, và chẳng bao giờ quên quan tâm đến bất cứ ai…”

Thiên thần nhìn kĩ hơn con người mà Chúa đang sáng tạo “Người này quá nhạy cảm và nhân từ”

“Đúng thế” “nhưng cũng rất mạnh mẽ nữa. Ngươi không thể hình dung được những gì người Thầy có thể chịu đựng, những gì người ấy có thể làm và kể cả hi sinh, khi cần thiết đâu”

Thiên thần tiến tới gần hơn để nhìn dõ con người đó, chạm tay lên má người thầy “Thưa Chúa,” “Công vịêc của Người có vẻ hoàn hảo, nhưng hãy nhìn xem, ở đây có một khe hở. Ta biết, Người đã cố đặt quá nhiều thứ vào con người này. Nhưng Người không lường hết được những áp lực đặt lên người Thầy đâu!”

Chúa Trời tiến lại và đón lấy giọt nước lăn ra từ trên má người Thầy. Nó sáng lên và lấp lánh dưới ánh đèn

“Đó không phải là một vết rò.” “đó là nước mắt”

“Nước mắt ư? Nước mắt là gì?”Thiên Thần sốt sắng hỏi “Người này cần nước mắt để làm gì?

Chúa Trời lặng im suy nghĩ, rồi từ từ đáp “Để dành cho niềm vui sướng và tự hào khi chứng kiến người học trò đạt được những thành công dù nhỏ nhất. Để dành cho sự cảm thông với những đứa trẻ cô đơn phải chiến đấu vượt qua khoảng thời gian khó khăn. Nó cũng đến từ nỗi day dứt băn khoăn khi không thể giúp đỡ các em hay không thể giúp các em thoát khỏi những nỗi buồn và đau khổ. Nó đến mỗi khi thầy phải chia tay với các em chỉ sau một năm để đón những người trò khác… Nước mắt cho nỗi buồn… và cho cả những niềm vui…”

Thiên thần thốt lên : “Nước mắt … nó thật tuyệt , Người là một thiên tài !”

Chúa trời ủ rũ : “ Ta không hề để điều đó ở sinh thể này”

Người dịch : Bùi Công Đức & Phạm Thị Thanh Loan .
Lớp 10 trường THPT chuyên Nguyễn Du .

.

THE CREATION OF THE TEACHERS (bài dịch)

Thượng Đế đang tạo dựng nên thầy giáo. Đó là ngày làm việc thứ sáu “ngoại lệ” của Người và Người biết rằng đây là một trách nhiệm lớn lao cho các thầy giáo cố thích nghi với cuộc sống đầy ấn tượng của bọn trẻ. Một thiên thần xuất hiện và thưa rằng: “Ngài đang tốn thời gian để thực hiện điều đó’.

Chúa nói: “Đúng vậy.” Nhưng ngươi đã đọc

THẦY GIÁO:

…phải đứng trước tất cả các học sinh, tuy nhiên phải giỏi hơn chúng.
…phải có khả năng làm 180 điều không kết nối với chủ đề giảng dạy.
…phải tiếp tục với cà phê và thức ăn thừa,
…phải truyền đạt những kiến thức quan trọng đến tất cả các học sinh hằng ngày và phải bận rộn suốt ngày.
…phải giành nhiều thời gian cho học sinh hơn là cho bản than mình.
…phải có một nụ cười mà có thể chịu đựng qua việc cắt giảm chi phí, vấn đề về học sinh, và những phụ huynh lo lắng.
…phải tiếp tục giảng dạy khi phụ huynh hỏi
…phải có 6 đôi bàn tay

“ Sáu đôi bàn tay” thiên thần thốt lên “ Đó là điều không thể”
“Đúng”. đức chúa nói “ Những bàn tay chẳng phải là vấn đề. Còn có ba đôi mắt mà đang cho thấy điều trở ngại nhất !”
Thiên thần nhìn Người hoài nghi “ Ba cặp mắt …. trên một hình mẫu chuẩn mực ?”
Chúa Trời liền gật đầu,” Một đôi mắt để có thể nhìn thấy một học trò cho rằng ông ta là gì và không phải là những gì mà người khác đã gán cho ông ta . Một đôi mắt khác nữa ở ngay sau đầu người thầy để nhìn những gì không được thấy , nhưng là những điều cần phải biết . Còn đôi mắt ở ngay phía trước chỉ để nhìn vào đứa trẻ khi mà bé trai hay bé gái đó làm ra vẻ cho thấy “Em hiểu đấy và em vẫn luôn tin tưởng ở thầy” , mà không cần phải nói quá nhiều với đứa trẻ .
“ Thưa Chúa” ,thiên thần thốt lên rằng, “Đây đúng là một dự án thật to lớn và con nghĩ Ngài nên tiếp tục làm nó vào ngày mai”

Trần Như Yến, Phạm Vũ Như Thảo và Lâm Thanh Thanh dịch

.

THE CREATION OF THE TEACHER

The Good Lord was creating teachers. It was His sixth day of ‘overtime’ and He knew that this was a tremendous responsibility for teachers would touch the lives of so many impressionable young children. An angel appeared to Him and said, “You are taking a long time to figure this one out.”

“Yes,” said the Lord, ” but have you read the specs on this order?”

TEACHER:

…must stand above all students, yet be on their level
… must be able to do 180 things not connected with the subject being taught
… must run on coffee and leftovers,
… must communicate vital knowledge to all students daily and be right most of the time
… must have more time for others than for herself/himself
… must have a smile that can endure through pay cuts, problematic children, and worried parents
… must go on teaching when parents question every move and others are not supportive
… must have three pairs of eyes

The angel looked incredulous, ” Three pairs of eyes…on a standard model?”

The Lord nodded His head, ” One pair can see a student for what he is and not what others have labeled him as. Another pair of eyes is in the back of the teacher’s head to see what should not be seen, but what must be known. The eyes in the front are only to look at the child as he/she ‘acts out’ in order to reflect, ” I understand and I still believe in you”, without so much as saying a word to the child.”

“Lord, ” said the angel, ” this is a very large project and I think you should work on it tomorrow”.

“I can’t,” said the Lord, ” for I have come very close to creating something much like Myself. I have one that comes to work when he/she is sick…..teaches a class of children that do not want to learn….has a special place in his/her heart for children who are not his/her own…..understands the struggles of those who have difficulty….never takes the students for granted…”

The angel looked closely at the model the Lord was creating.

“It is too soft-hearted, ” said the angel.

“Yes,” said the Lord, ” but also tough, You can not imagine what this teacher can endure or do, if necessary”.

“Can this teacher think?” asked the angel.

“Not only think,” said the Lord,. “but reason and compromise.”

The angel came closer to have a better look at the model and ran his finger over the teacher’s cheek.

“Well, Lord, ” said the angel, your job looks fine but there is a leak. I told you that you were putting too much into this model. You can not imagine the stress that will be placed upon the teacher.”

The Lord moved in closer and lifted the drop of moisture from the teacher’s cheek. It shone and glistened in the light.

“It is not a leak,” He said, “It is a tear.”

“A tear? What is that?” asked the angel, “What is a tear for?”

The Lord replied with great thought, ” It is for the joy and pride of seeing a child accomplish even the smallest task. It is for the loneliness of children who have a hard time to fit in and it is for compassion for the feelings of their parents. It comes from the pain of not being able to reach some children and the appointment those children feel in themselves. It comes often when a teacher has been with a class for a year and must say good-bye to those students and get ready to welcome a new class.”

“My, ” said the angel, ” The tear thing is a great idea…You are a genius!!”

The Lord looked somber, “I didn’t put it there.”

Khi thầy nghĩ rằng em đang không quan tâm


Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy nhận xét về bài báo cáo đầu tiên của em và em muốn làm lại một bài khác .

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy cho một chú mèo đi lạc ăn và em nghĩ rằng thầy tuyệt vời biết bao khi tốt với động vật.

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy cho em một tấm vé , và em hiểu ra rằng những thứ nhỏ nhặc đôi khi lại rất đáng quý.

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy che chở em và em cảm nhận được yêu thương dâng trào.

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , em thấy những giọt nước mắt chảy ra từ

đôi mắt thầy và em học được rằng đôi khi thứ làm ta đau lại đáng để ta phải khóc.

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy mỉm cười và điều đó làm cho em muốn được trông rạng rỡ như vậy .

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy quan tâm và em muốn được trở thành những gì em có thế .

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , em nhìn và muốn nói rằng nhờ ở thầy và tất cả những gì thầy đã làm khi thầy nghĩ rằng em đang không quan tâm.

    Bài dịch của Nguyễn Phương Uyên, lớp 10 chuyên Văn trường Nguyễn Du Daklak

.

WHEN YOU THOUGHT I WASN’T LOOKING

    By Mary Rita Schilke Korzan


When you thought I wasn’t looking, you displayed my first report, and I wanted to do another.

When you thought I wasn’t looking, you fed a stray cat, and I thought it was good to be kind to animals.

When you thought I wasn’t looking, you gave me a sticker, and I knew that little things were special things.

When you thought I wasn’t looking, you put your arm around me, and I felt loved.

When you thought I wasn’t looking I saw tears come from your eyes, and I learned that sometimes things hurt–but that it’s all right to cry.

When you thought I wasn’t looking, you smiled, and it made me want to look that pretty too.

When you thought I wasn’t looking, you cared, and I wanted to be everything I could be.

When you thought I wasn’t looking–I looked…and wanted to say thanks for all those things you did when you thought I wasn’t looking.

Number One Teacher – Người Cô Số 1

Dạ em chào cô ạ…. hôm nay nhân ngày 20-11, em chúc cô ngày càng mạnh khỏe, tươi trẻ và vui vẻ…dạ hôm nay em lên mạng kiếm được bài thơ bằng tiếng Anh về cô giáo ạ… em xin copy lại và dịch ra để gửi tặng cô ạ… em dịch còn nhiều sai sót, nên mong cô sữa lại những chỗ dịch chưa đạt giúp em ạ! Em chúc cô 1 ngày làm việc vui vẻ!

Như Thảo.

(ĐCN: Như Thảo, học sinh lớp 8, là thế hệ học trò thứ hai của chị Huỳnh Huệ. Mẹ Thảo trước đây 16 năm là sinh viên học tiếng Anh với chị Huệ. Như Thảo đã dịch bài thơ Time của Quan Jun đăng hai hôm trước).

.

Number One Teacher

I’m happy that you’re my teacher;
I enjoy each lesson you teach.
As my role model you inspire me
To dream and to work and to reach.

With your kindness you get my attention;
Every day you are planting a seed
Of curiosity and motivation
To know and to grow and succeed.

You help me fulfill my potential;
I’m thankful for all that you’ve done.
I admire you each day, and I just want to say,
As a teacher, you’re number one!

(Joanna Fuchs)

.

Cô giáo số 1!

Con rất hạnh phúc vì cô là cô giáo của con
Con thích thú với mỗi bài học mà cô dạy
Như một tấm gương mẫu mực, cô đã truyền cảm hứng cho con
Để con được mơ, để học và được

Cô đã chăm sóc con chu đáo với sự ân cần
Mỗi ngày cô là người gieo rắc
Sự tò mò và sự thúc đẩy
Để con biết, con lớn lên và để con được thành công

Cô giúp con hoàn thành được những tiềm năng của con
Con biết ơn tất cả những gì mà cô đã làm
Con rất ngưỡng mộ cô, và con chỉ muốn nói,
Cô là cô giáo số 1 của con…!

(Như Thảo dịch)

Wonderful Teacher – Người Thầy Tuyệt Vời

Người thầy tuyệt vời!
Với một món quà tri thức thật lớn lao
Một trái tim bộn bề lo lắng
Thầy thêm vào đầy ắp yêu thương
Tất cả mọi điều mà thầy dạy cho
Cho,thầy cho rất nhiều
Nhưng thầy không bao giờ màng đến bao nhiêu
Sự tận tâm của thầy
Làm thay đổi thế giới
Của những học sinh thầy dìu dắt
Thầy thắp lên ngọn lửa tri thức
Trong từng đứa học trò thầy dạy dỗ
Giúp chúng phấn đấu để đạt được mục tiêu
Điều mà bất cứ thứ gì không thể mua được
Người là người thầy thật đặc biệt
Thực không thể nói được nên lời
Về giá trị của người
Và công việc người làm thực thành công

Happy Bun Ngô Việt Thảo

.

Wonderful Teacher

With a special gift for learning
And with a heart that deeply cares,
You add a lot of love
To everything you share,
And even though
You mean a lot,
You’ll never know how much,
For you helped
To change the world
Through every life you touched.
You sparked the creativity
In the students whom you taught,
And helped them strive for goals
That could not be bought,
You are such a special teacher
That no words can truly tell
However much you’re valued
For the work you do so well.

– Author Unknown

Tiết học cuối cùng

Tôi bắt đầu tới trường rất muộn vào sáng hôm đó và lo sợ sẽ bị trách mắng, đặc biệt là bởi vì Thầy Hamel đã nói rằng thầy sẽ hỏi chúng tôi về phần động tính từ, mà tôi lại không biết một chữ gì về chúng. Trong một khoảnh khắc tôi nghĩ ngay đến việc trốn học và dành cả ngày để lang thang đây đó. Khí trời thực ấm áp, thực sáng sủa. Tiếng chim hót vang lên từ phía cánh rừng; và ở cánh đồng trống phía sau xưởng cưa, bọn lính Phổ đang tập trận. Tất cả những điều này đều hấp dẫn hơn rất nhiều so với những nguyên tắc của động tính từ, nhưng tôi đủ sức để chống cự lại, và hấp tấp chạy đến trường.

Khi tôi băng qua tòa thị chính, có một đám đông đứng trước tấm bảng thông báo. Trong hai năm nay tất cả những tin xấu đề đến từ tấm bảng đó – Tin chiến bại, tin tuyển binh, tin về những mệnh lệnh của sĩ quan chỉ huy – và tôi tự nhủ, chân vẫn không dừng :

“Điều gì đang xảy ra đây ?”

Sau đó, khi tôi đang chạy qua nhanh hết sức có thể, bác thợ rèn Wachter, người đang đứng ở đó, cùng với anh chàng thực tập, đang đọc tấm bảng, gọi với theo tôi:

“Đừng chạy nhanh thế chứ, cậu bé; cháu còn cả khối thời gian để đến trường cơ mà!”

Tôi nghĩ là ông ấy đang giễu cợt tôi, và tôi thở hổn hển khi đến được cái vườn nhỏ của thầy Hamel.

Thường lệ thì, khi lớp học bắt đầu, luôn có những âm thanh ầm ĩ có thể nghe ngay cả khi đang ở ngoài đường, tiếng mở đóng học bàn , tiếng ôn bài như một bản hợp xướng, rất ồn ào, với những cánh tay bịt chặt tai lại để học bài tốt hơn, và tiếng đập bàn của cái thước quá khổ của thầy nữa. Nhưng bây giờ không khí im ắng hoàn toàn! Tôi hy vọng mình có thể tiến vào lớp mà không bị ai nhìn thấy. Tuy nhiên, dĩ nhiên là ngày hôm dó tất cả mọi thứ đều im lặng như sáng Chủ Nhật. Qua cửa sổ tôi thấy những bạn học của tôi, tất cả đều đã ngồi vào chỗ, và Thầy Hamel đang đi lên đi xuống với cây thước sắt kinh khủng trên tay. Tôi phải mở cánh cửa và đi vào trước mắt mọi người. Bạn có thể tưởng tượng là tôi thẹn và sợ đến thế nào

Nhưng không có gì xảy ra cả. Thầy Hamel nhìn tôi và nói rất tử tế:

“Ngồi vào chỗ, nanh lên em Franz. Lớp học đã bắt đầu mà không có em đấy.”

Tôi nhảy qua cái ghế dài và ngồi xuống cái bàn học của tôi. Cho đến lúc đó, khi tôi đã bớt lo sợ, tôi thấy thầy của mình đang mặc cái áo khoác đẹp màu xanh, cái áo sơ mi kiểu, và một cái mũ lụa nhỏ màu đen, tất cả đều được thêm thắt, bộ đồ mà thầy chưa bao giờ mặt ngoại trừ những ngày kiểm tra và những ngày trao giải. Bên cạnh đó, cả lớp có vẻ như rất lạ và trang nghiêm. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả là ở dãy bàn cuối, cái dãy bàn luôn trống, những người dân làng đang ngồi lặng im như chúng tôi; cụ Hauser, với cái mũ tam giác của ông ấy, thị trưởng cũ, trưởng phòng bưu điện cũ, và nhiều người khác ngồi bên cạnh. Mọi người đều có vẻ buồn bã; và cụ Hauser mang theo một quyển sách mở lòng cũ, nhăn ở góc, và ông ấy để mở nó trên đầu gối với cặp kính của cụ nằm trên trang sách.

Khi tôi đang tự hỏi về tất cả những điều đó, Thầy Hamel ngồi lên ghế, và, với cùng một giọng trang nghiêm và tử tế mà thầy đã dùng với tôi, thầy nói:

“Các học trò của tôi, đây là tiết học cuối cùng tôi sẽ dạy các em. Lệnh đến từ Berlin là chỉ được dạy tiếng Đức ở những trường ở Alsace và Lorraine. Thầy mới sẽ đến vào hôm sau. Đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng. Tôi muốn các em thực chú ý.”

Thực là một tin sét đánh đối với tôi!

Ôi, khốn khổ thay; đó là những gì họ treo lên ở tòa thị chính!

Tiết học tiếng Pháp cuối cùng của tôi! Tại sao, tôi chỉ mới biết viết! Tôi sẽ không được học thêm gì nữa! Giờ tôi phải ngừng lại sao! Ôi, tôi thực sự luyến tiếc rằng tôi đã không học bài, chỉ vì ham tìm trứng chim, hay ham đi trượt trên ngọn đồi Saar! Những quyển sách của tôi, chỉ mới một khoảnh khắc trước thôi, chúng như là những mối phiền toái, thực nặng nề khi mang chúng; thế mà bây giờ, quyển sách ngữ pháp của tôi, quyển sách sử thánh của tôi, chúng như là những người bạn cũ mà tôi không thể nào vứt bỏ. Và cả thầy Hamel nữa; cái suy nghĩ là thầy sẽ đi xa và tôi sẽ không bao giờ gặp lại thầy nữa làm tôi quên hết mọi điều về cây thước của thầy cũng như thầy là một người cáu kỉnh như thế nào.

Khốn khổ thay! Để tôn trọng ngày tiết học cuối cùng này, thầy đã mặc bộ đồ mà thầy chỉ mặc vào những ngày chủ nhật đẹp trời, và bây giờ tôi đã hiểu tại sao tất cả những người già trong làng lại ngồi tại dãy ghế cuối phòng học. Đó là bởi vì họ cũng luyến tiếc rằng học đã không đến lớp nhiều hơn. Đây là cách mà họ cảm ơn người thầy của chúng tôi vì bốn mươi năm tận tụy phục vụ; cũng là cách mà họ biểu lộ niềm tôn trọng đối với đất nước mà không còn là của họ nữa .

Khi tôi đang nghĩ về những điều này, tôi nghe tên tôi được gọi. Tới phiên tôi trả bài. Làm sao tôi có thể nói được cái nguyên tắc kinh khủng về động tính từ này từ đâu đến cuối được chứ? Tôi bối rối nói được chữ đầu tiên rồi đứng đó, giữ chặt cạnh bàn, tim đập mạnh, và không dám nhìn lên. Tôi nghe thầy Hamel nói với tôi:

“Thầy sẽ không la em đâu, Franz à; Em chắc hẳn cảm thấy đủ tệ rồi. Hãy nhìn lại xem! Mỗi ngày chúng ta đều tự nhủ rằng : “Ah, tôi có cả khối thời gian. Tôi sẽ học vào ngày mai.” Và bây giờ các bạn nhận ra rằng chúng ta đã tới đâu. Ah, đó là một vấn đề lớn lao đối với Alsace; Cô ấy hoãn việc học đến ngày mai. Bây giờ những người bạn ngoài kia có quyền nói với bạn: “Sao lại như thế; bạn giả đò là người Pháp phải không? Vì bạn chẳng thể nói hay viết được chính ngôn ngữ của bạn” Nhưng em không phải là kẻ tệ nhất đâu, Franz khốn khổ à. Tất cả chúng ta đều có nhiều việc để tự trách mắng mình.

“Bố mẹ các trò không đủ ló lắng để bắt các em học. Họ thích các em làm việd trên những cánh đồng hay tại các nhà máy hơn, để có thêm một ít tiền. Và tôi? Tôi cũng đáng trách. Tôi thường cho các em tưới cây thay tôi thay vì để các em học. Và khi tôi muốn đi câu cá, tôi cũng cho các em nghỉ học

Sau đó, từ điều này đến điều khác, Thầy Hamel tiếp tục nói về tiếng Pháp, rằng nó là ngôn ngữ đẹp nhất trên thế giới – là thứ rõ ràng nhất, lo-gic nhất; rằng chúng ta phải bảo vệ nó giữa chúng ta và không bao giờ được phép quên nó, vì khi một dân tộc bị bắt làm nô lệ, chừng nào họ còn giữ được ngôn ngữ của chính mình thì họ còn giữ được chiếc chìa khóa để thoát khỏi kiếp nô lệ. Sau đó thầy mở quyển sách ngữ pháp ra và đọc bài học cho chúng tôi. Tôi thực sự ngạc nhiên vì tại sao tôi hiểu bài rất nhanh. Tất cả những điều thầy giảng thực dễ hiểu, thực sự rất dễ hiểu! Tôi cũng nghĩ rằng, có lẽ đó là vì tôi chưa bao giờ lắng nghe cẩn thận hết mức, cũng như thầy chưa bao giờ giải thích mọi thứ kiên nhẫn như thế này. Nó như thể là người đàn ông khốn khổ này muốn truyền cho chúng tôi tất cả những gì ông biết trước khi ra đi, và cố thực hiện hết sức mình.

Sau phần ngữ pháp, chúng tôi học viết. Vào ngày đó, thầy Hamel có những bản in mới cho chúng tôi, được viết bởi một hoa tay đẹp: France, Alsace, France, Alsace. Chúng như là những lá cờ nhỏ tung bay ở khắp mọi nơi trong căn phòng học, được gắn trên thanh kéo trên cùng của cái bàn học. Bạn nên thấy mọi người tập trung làm việc thế nào, và lớp học đã trở nên im lặng ra sao! Âm thang duy nhất là tiếng ngòi bút chạy trên giấy. Có một vài con bọ cánh cứng bay vào; nhưng chẳng ai quan tâm đến chúng, thậm chí là những cậu nhỏ nhất đang chăm chú viết những chữ ngoằn ngoèo như móc câu, như thể chúng cũng là tiếng Pháp. Trên mái nhà những chú chim bồ câu đang chậm rãi kêu gù gù, và tôi nhủ thầm:

“ Liệu bọn chúng có bắt tất cả phải hát bằng tiếng Đức, kể cả đó là những con bồ câu?”

Bất cứ khi nào tôi ngước lên khỏi bài viết của tôi, tôi thấy thầy Hamel đang ngồi bất động trên ghế và liếc nhìn từ vật này sang người khác, như thể thầy muốn in sâu hình ảnh căn phòng với mọi đồ vật vào trong tâm trí mình. Ồ! 40 năm thầy đã luôn ở đúng một nơi, với khu vườn nhỏ ở ngoài và với cái lớp học đang ở trước mặt thầy, vẫn như vậy. Chỉ có những cái bàn học và những dãy ghế là mòn đi theo năm tháng; những cây óc chó ngoài vườn đã cao hơn, và cây hoa bia mà thầy tự trồng đã quấn quanh cửa sổ, vươn lên tận mái nhà. Thầy chắc hẳn phải rất đau lòng khi phải bỏ tất cả lại; khi nghe tiếng em thầy đóng gói đồ đạc ở nhà trên! Vì họ phải rời nơi này vào ngày mai


Nhưng thầy đủ dũng cảm để dạy hết tiết học. Sau phần viết, chúng tôi học về lịch sử, và sau đó các em nhỏ đánh vần từng chữ ba, be, bi ,bo ,bu. Ở cuối phòng học, cụ Hauser đã đeo kính vào, cầm cuốn sách vở lòng cũ bằng cả hai tay, cụ cũng bắt đầu đánh vần với các em.Và bạn cũng có thể thấy rằng, cụ đang khóc; Giọng cụ run run vì xúc cảm, thực ngộ là khi nghe cụ đọc, tất cả chúng tôi đều muốn vừa khóc vừa cười. Ah, tôi nhớ rất rõ về buổi học cuối cùng ấy!

Đột nhiên chuông đồng hồ nhà thờ điểm 12h. Sau đó là hồi chuông cầu kinh Đức Bà. Cùng một lúc tiếng toán quân Phổ vừa quay về từ bãi tập vang lên bên dưới của sổ nơi chúng tôi học. Thầy Hamel đứng bật dậy khỏi ghế, mặt thầy tái nhợt đi. Tôi chư từng thấy thầy cao đến như vậy

“Các bạn của tôi” Thầy nói “Tôi-Tôi-“ nhưng có điều gì đó làm thầy nghẹn lại. Thầy không thể tiếp tục.

Sau đó thầy quay lại tấm bảng đen, cầm một viên phấn, và, bằng hết sức mình, thầy viết to hết cỡ dòng chữ:

“Nước Pháp muôn năm!”

Sau đó thầy dừng lại rồi dựa đầu vào tường, và, không nói lời nói, thầy ra hiệu cho chúng tôi:

“Lớp học kết thúc – các em có thể về. “

    Người dịch: Nguyễn Đình Nguyên, lớp 9, trường THCS Phan Chu Trinh
    Buôn Ma Thuột.

.

The Last Lesson

I started for school very late that morning and was in great dread of a scolding, especially because M. Hamel had said that he would question us on participles, and I did not know the first word about them. For a moment I thought of running away and spending the day out of doors. It was so warm, so bright! The birds were chirping at the edge of the woods; and in the open field back of the sawmill the Prussian soldiers were drilling. It was all much more tempting than the rule for participles, but I had the strength to resist, and hurried off to school.

When I passed the town hall there was a crowd in front of the bulletin-board. For the last two years all our bad news had come from there—the lost battles, the draft, the orders of the commanding officer—and I thought to myself, without stopping:

“What can be the matter now?”

Then, as I hurried by as fast as I could go, the blacksmith, Wachter, who was there, with his apprentice, reading the bulletin, called after me:

“Don’t go so fast, bub; you’ll get to your school in plenty of time!”

I thought he was making fun of me, and reached M. Hamel’s little garden all out of breath.

Usually, when school began, there was a great bustle, which could be heard out in the street, the opening and closing of desks, lessons repeated in unison, very loud, with our hands over our ears to understand better, and the teacher’s great ruler rapping on the table. But now it was all so still! I had counted on the commotion to get to my desk without being seen; but, of course, that day everything had to be as quiet as Sunday morning. Through the window I saw my classmates, already in their places, and M. Hamel walking up and down with his terrible iron ruler under his arm. I had to open the door and go in before everybody. You can imagine how I blushed and how frightened I was.

But nothing happened. M. Hamel saw me and said very kindly:

“Go to your place quickly, little Franz. We were beginning without you.”

I jumped over the bench and sat down at my desk. Not till then, when I had got a little over my fright, did I see that our teacher had on his beautiful green coat, his frilled shirt, and the little black silk cap, all embroidered, that he never wore except on inspection and prize days. Besides, the whole school seemed so strange and solemn. But the thing that surprised me most was to see, on the back benches that were always empty, the village people sitting quietly like ourselves; old Hauser, with his three-cornered hat, the former mayor, the former postmaster, and several others besides. Everybody looked sad; and Hauser had brought an old primer, thumbed at the edges, and he held it open on his knees with his great spectacles lying across the pages.

While I was wondering about it all, M. Hamel mounted his chair, and, in the same grave and gentle tone which he had used to me, said:

“My children, this is the last lesson I shall give you. The order has come from Berlin to teach only German in the schools of Alsace and Lorraine. The new master comes to-morrow. This is your last French lesson. I want you to be very attentive.”

What a thunderclap these words were to me!

Oh, the wretches; that was what they had put up at the town-hall!

My last French lesson! Why, I hardly knew how to write! I should never learn any more! I must stop there, then! Oh, how sorry I was for not learning my lessons, for seeking birds’ eggs, or going sliding on the Saar! My books, that had seemed such a nuisance a while ago, so heavy to carry, my grammar, and my history of the saints, were old friends now that I couldn’t give up. And M. Hamel, too; the idea that he was going away, that I should never see him again, made me forget all about his ruler and how cranky he was.

Poor man! It was in honor of this last lesson that he had put on his fine Sunday clothes, and now I understood why the old men of the village were sitting there in the back of the room. It was because they were sorry, too, that they had not gone to school more. It was their way of thanking our master for his forty years of faithful service and of showing their respect for the country that was theirs no more.

While I was thinking of all this, I heard my name called. It was my turn to recite. What would I not have given to be able to say that dreadful rule for the participle all through, very loud and clear, and without one mistake? But I got mixed up on the first words and stood there, holding on to my desk, my heart beating, and not daring to look up. I heard M. Hamel say to me:

“I won’t scold you, little Franz; you must feel bad enough. See how it is! Every day we have said to ourselves: ‘Bah! I’ve plenty of time. I’ll learn it to-morrow.’ And now you see where we’ve come out. Ah, that’s the great trouble with Alsace; she puts off learning till to-morrow. Now those fellows out there will have the right to say to you: ‘How is it; you pretend to be Frenchmen, and yet you can neither speak nor write your own language?’ But you are not the worst, poor little Franz. We’ve all a great deal to reproach ourselves with.

“Your parents were not anxious enough to have you learn. They preferred to put you to work on a farm or at the mills, so as to have a little more money. And I? I’ve been to blame also. Have I not often sent you to water my flowers instead of learning your lessons? And when I wanted to go fishing, did I not just give you a holiday?”

Then, from one thing to another, M. Hamel went on to talk of the French language, saying that it was the most beautiful language in the world—the clearest, the most logical; that we must guard it among us and never forget it, because when a people are enslaved, as long as they hold fast to their language it is as if they had the key to their prison. Then he opened a grammar and read us our lesson. I was amazed to see how well I understood it. All he said seemed so easy, so easy! I think, too, that I had never listened so carefully, and that he had never explained everything with so much patience. It seemed almost as if the poor man wanted to give us all he knew before going away, and to put it all into our heads at one stroke.

After the grammar, we had a lesson in writing. That day M. Hamel had new copies for us, written in a beautiful round hand: France, Alsace, France, Alsace. They looked like little flags floating everywhere in the school-room, hung from the rod at the top of our desks. You ought to have seen how every one set to work, and how quiet it was! The only sound was the scratching of the pens over the paper. Once some beetles flew in; but nobody paid any attention to them, not even the littlest ones, who worked right on tracing their fish-hooks, as if that was French, too. On the roof the pigeons cooed very low, and I thought to myself:
“Will they make them sing in German, even the pigeons?”

Whenever I looked up from my writing I saw M. Hamel sitting motionless in his chair and gazing first at one thing, then at another, as if he wanted to fix in his mind just how everything looked in that little school-room. Fancy! For forty years he had been there in the same place, with his garden outside the window and his class in front of him, just like that. Only the desks and benches had been worn smooth; the walnut-trees in the garden were taller, and the hopvine that he had planted himself twined about the windows to the roof. How it must have broken his heart to leave it all, poor man; to hear his sister moving about in the room above, packing their trunks! For they must leave the country next day.

But he had the courage to hear every lesson to the very last. After the writing, we had a lesson in history, and then the babies chanted their ba, be bi, bo, bu. Down there at the back of the room old Hauser had put on his spectacles and, holding his primer in both hands, spelled the letters with them. You could see that he, too, was crying; his voice trembled with emotion, and it was so funny to hear him that we all wanted to
laugh and cry. Ah, how well I remember it, that last lesson!

All at once the church-clock struck twelve. Then the Angelus. At the same moment the trumpets of the Prussians, returning from drill, sounded under our windows. M. Hamel stood up, very pale, in his chair. I never saw him look so tall.

“My friends,” said he, “I—I—” But something choked him. He could not go on.

Then he turned to the blackboard, took a piece of chalk, and, bearing on with all his might, he wrote as large as he could:

“Vive La France!”

Then he stopped and leaned his head against the wall, and, without a word, he made a gesture to us with his hand:

“School is dismissed—you may go.”

Vinh Danh Người Thầy

Đã bao đời nay, người thầy giữ một vị trí quan trọng trong xã hội Việt Nam.  Dù trong  xã hội phong kiến hay thời hiện đại, người thầy luôn được tôn kính, nể trọng. Hình ảnh của một thầy đồ, của một giáo viên mẫu giáo hay một vị giáo sư trên giảng đường đều đáng kính như nhau trong sự trân trọng của xã hội.

Dân tộc ta vốn có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo.  Trong xã hội từ lâu đã thấm nhuần “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” hoặc “Muốn sang thì bắc cầu Kiều, Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”.

Nghề dạy học là nghề cao quí nhất trong những nghề cao quí. Người   thầy lao động trí óc và làm việc với tất cả nghệ thuật của tâm hồn bằng nhân cách và trí tuệ của mình nhằm nâng cao trí tuệ và giáo dục tâm hồn người học.

Và như thế người thầy được gọi là kỹ sư tâm hồn.

Nhân ngày kỉ niệm 20/ 11/ 2009, xin tặng bài này cho các bạn đọc là thầy cô giáo  của Đọt Chuối Non, và các bạn sinh viên học sinh ngành sư phạm, cũng dành tặng cho tất cả chúng ta, những người trò đang hướng lòng yêu thương và tri ân đến Thầy của mình.

Xin trân trọng gửi một lời tri ân  đến Cô Huỳnh  Huệ, người đã khơi dậy niềm say mê học tập Tiếng Anh đối với tôi và các con, đã là cô giáo của cả ba mẹ con tôi, và hi vọng thế hệ thứ ba sẽ tiếp tục kế thừa truyền thống này.

Cũng xin gửi tặng tất cả các tác giả của ĐCN đang thể hiện thiên chức của mình trên bục giảng: Cô Dala, Cô Ngọc Hoa, Thầy Tấn Ái, Cô Minh Tâm..

Chúc tất cả các thầy cô giáo và các bạn  sinh viên,  học sinh một ngày lễ Nhà Giáo Việt Nam tràn đầy niềm vui và ý nghĩa 😆  😆 😆

.

Dạy học là nghề dạy mọi nghề khác.
Teaching is the profession that teaches all the other professions.
~Author Unknow

.

Dạy là học hai lần.
To teach is to learn twice.
~Joseph Joubert

.

Người dám dạy phải không bao giờ ngừng học.
Who dares to teach must never cease to learn.
~John Cotton Dana

.

Nghệ thuật dạy học là nghệ thuật giúp khám phá.
The art of teaching is the art of assisting discovery.
~Mark Van Doren

.

Dạy tốt là một phần tư chuẩn bị và ba phần tư thực hiện .
Good teaching is one-fourth preparation and three-fourths theater.
~Gail Godwin

.

Người thầy truyền hứng khởi biết việc dạy giống như trồng một khu vườn, và ai chẳng đưa tay vào bụi gai sẽ chẳng bao giờ hái được hoa.
Teachers who inspire know that teaching is like cultivating a garden, and those who would have nothing to do with thorns must never attempt to gather flowers.
~Author Unknown

.

Người thầy tốt như một ngọn nến – Thầy đốt chính mình để soi đường cho người khác.
A good teacher is like a candle – it consumes itself to light the way for others.
~Author Unknown

.

Người thầy giỏi nhất dạy từ trái tim chứ không phải từ sách.
The best teachers teach from the heart, not from the book.
~Author Unknown

.

Người thầy thực khôn ngoan không mời bạn vào ngôi nhà thông thái của ông mà dẫn dắt bạn đến ngưỡng cửa trí tuệ của bạn.

The teacher who is indeed wise does not bid you to enter the house of his wisdom but rather leads you to the threshold of your mind.
~Kahlil Gibran

.

Mục đích của người thầy không phải tạo nên học trò trong hình ảnh của thầy, mà là giúp học trò có thể tạo dựng hình ảnh của chính trò.
A teacher’s purpose is not to create students in his own image, but to develop students who can create their own image.
~Author Unknown

.

Mục đích dạy dỗ một đứa trẻ là làm cho nó tiến bộ được không cần người thầy.
The object of teaching a child is to enable him to get along without his teacher.
~Elbert Hubbard

.

Thầy thế nào quan trọng hơn thầy dạy cái gì.
What the teacher is, is more important than what he teaches.
~Karl Menninger

.

Đừng cố chú ý vào học sinh, hãy chú ý chính mình trước nhất. Thầy giỏi làm trò dở thành giỏi và trò giỏi thành xuất sắc. Khi học sinh thất bại, chúng ta, vì là thầy, cũng thất bại.
Don’t try to fix the students, fix ourselves first. The good teacher makes the poor student good and the good student superior. When our students fail, we, as teachers, too, have failed.
~Marva Collins

.

Người thầy trung bình nói. Thầy tốt giải thích. Thầy giỏi chỉ dẫn. Thầy xuất sắc truyền cảm hứng
The mediocre teacher tells. The good teacher explains. The superior teacher demonstrates. The great teacher inspires.
~William Arthur Ward

.

Người thầy tốt nhất là người gợi ý hơn là giáo điều, và truyền cảm hứng để người nghe muốn tự học
The best teacher is the one who suggests rather than dogmatizes, and inspires his listener with the wish to teach himself.
~Edward Bulwer-Lytton

.

Người thầy nên có ảnh hưởng tối đa và uy quyền tối thiểu.
A teacher should have maximal authority, and minimal power.
~Thomas Szaz

.

Khi dạy, bạn không thể thấy kết quả của một ngày làm việc. Nó vô hình và nguyên vẹn thế, có thể tới 20 năm.
In teaching you cannot see the fruit of a day’s work. It is invisible and remains so, maybe for twenty years.
~Jacques Barzun

.

Người Thầy là người làm cho mình dần dần trở thành không cần thiết.
A teacher is one who makes himself progressively unnecessary.
~Thomas Carruthers

.

Phạm Kiêm Yến dịch

Danh ngôn nhà giáo

In teaching you cannot see the fruit of a day’s work. It is invisible and remains so, maybe for twenty years.

Jacques Barzun

Trong việc dạy học chúng ta không thể nhìn thấy thành quả của một ngày làm việc. Nó vô hình và cứ như vậy, có lẽ đến 20 năm.

.

A good teacher is like a candle – it consumes itself to light the way for others.

Author Unknown

Một thầy giáo tốt như ngọn nến – đốt chính mình để soi sáng đường cho những người khác.

.

A teacher’s purpose is not to create students in his own image, but to develop students who can create their own image.

Author Unknown

Mục tiêu của người dạy học không phải là tạo ra những học trò rập khuôn mình, mà phát triển học trò để học trò có thể tạo ra khuôn mẫu riêng cho chúng.

.

What the teacher is, is more important than what he teaches.

Karl Menninger

Người thầy giáo như thế nào quan trọng hơn những gì người đó dạy.

.

A teacher is a compass that activates the magnets of curiosity, knowledge, and wisdom in the pupils.

Ever Garrison

Thầy giáo như chiếc com-pa khơi dậy cục nam châm của sự tò mò, tri thức, và trí khôn trong học trò.

.

The average teacher explains complexity; the gifted teacher reveals simplicity.

Robert Brault

Thầy giáo trung bình giải thích những rắc rối,thầy giáo có năng khiếu tiết lộ sự đơn giản.

.

Who dares to teach must never cease to learn.

John Cotton Dana

Người dám dạy, phải không bao giờ ngừng học.

.

Hồng Hải dịch

Trái tim nhà giáo

Như các bạn tôi chọn ngành sư phạm
Vì tôi yêu những đôi mắt ngây thơ
Long lanh sáng tròn xoe tinh nghịch
Nét xinh tươi ngoan ngoãn vô tư

    ***

Như các bạn tôi một lòng tâm huyết
Đưa các em vững bước đi lên
Bằng khối óc, bằng trái tim nhà giáo
Bằng tấm lòng yêu trẻ đến vô cùng

    ***

Trang giáo án tôi làm người họa sĩ
Vẽ con đường các cháu đến tương lai
Của đất nước hòa bình độc lập
Mang trái tim nhân hậu an bình

    ***

Có người bảo làm nghề nhà giáo
Như lái đò đưa khách sang sông
Bến trống vắng người lái đò hiu quạnh
Sang sông rồi khách sẽ đi xa

    ***

Ta không ngại vì trong nền văn hóa
Chúng ta là những chiến sĩ tiên phong
Dù hy sinh thầm lặng
Hay gặp muôn vạn những khó khăn

    ***

Ta không ngại vì ta là nhà giáo
Niềm tự hào nhà giáo Việt Nam

Minh Tâm

Làm Cô Giáo Thật Khó

    Viết theo bài thơ của nhà thơ Trần Quốc Toàn

Vâng

Khó

Làm cô giáo thật khó

Bởi màu son không thể quá hường

Không thể mặt chiếc áo sờn nhàu nếp

Không thể nhiều điều …Cả với người thương*

Mà bạn ạ

Còn khó hơn thế nữa

Bởi bây giờ mọi trật tự đảo tung

Cái xấu hiện rõ hơn trên tấm gương cuộc sống

Bài học nhân văn sức thuyết phục giảm dần

Vây chung quanh không ít chuyện buồn

Cô không thể mang vào lớp học

Nét ưu tư ánh nhìn ủ dột

Các em ngỡ ngàng

Giờ học còn đâu!

Khó làm sao là nhóm lửa ước mơ

Nhen hy vọng trong tâm hồn thơ trẻ

Không ít lần nước mắt rơi lặng lẽ

Bất lực thấy mình đơn độc biết bao

Không mong là thần tượng vời cao

Không mong nhận về danh xưng hư huyễn

Chỉ một điều cô giáo hằng tâm niệm

Chăm mầm uốn cây

Sao khó quá bạn ơi

Tôn Nữ Ngọc Hoa

(*) Ý của nhà thơ Trần Quốc Toàn

Đóa Hồng Của Cô

“Cô ơi,
Cô đã dùng tim mình để thắp sáng trái tim em,
dùng tình yêu để dạy em biết cách yêu thương,
có cô em cảm thấy thế giới này thật ấm áp….”

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, em xin gửi đến tất cả các thầy các cô, đặc biệt là chị Huệ, anh Ái, mama của em, và mama của Khánh Hòa nữa nhỉ, lời chúc tốt đẹp nhất. Kính chúc thầy cô cùng gia đình sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong lĩnh vực giảng dạy nghiên cứu.

Trong ngày đặc biệt này em xin phép cả nhà cho em được thử sức mình trong lĩnh vực thơ văn , em nghĩ là nó không được hay và đúng luật nhưng chủ yếu là để mọi người cùng vui thôi ạ. Bài thơ có tựa đề “Đóa hồng của cô”, sau đây em xin được mời cả nhà cùng thưởng thức:
.

Đóa hồng của cô

Bạn dâng lên một đóa hoa,
Tôi dâng lên một đóa hoa,
Chúng ta cùng tết thành một bó hoa lớn,
Để dâng tặng người cô thân yêu.
Cô là người gieo hạt giống,
Mồ hôi của cô là nguồn nước cho những mầm non.
Mắt của cô sáng như những vì sao
Giọng hát của cô như dòng suối nhỏ,
Đem lại niềm vui cho tất cả mọi người.
Dù cho chúng ta có đi xa đến đâu
Sẽ mãi ghi nhớ tình thương của cô,
Dù cho chúng ta có đi xa đến đâu
Vẫn mãi ghi nhớ lời dạy của cô.
Dù cho chúng ta có đi xa đến đâu,
Vẫn mãi ghi nhớ mình là một đóa hồng của cô.
…..

Trong ngày đặc biệt này em mong được nhìn thấy nụ cười của mẹ, chị Huệ, anh Ái rất nhiều.

Kiều Tố Uyên

Nhặt

Nhặt một cánh phượng rơi

Nhớ hoài thời đi học

Nhặt một ánh mắt cười

Nhớ nhỏ bạn đã xa

Nhặt chút nắng vàng tươi

Nhớ sân trường rộn rã

Nhặt một giọt mưa buồn

Nhớ cái lạnh mùa đông

Nhặt nỗi nhớ mênh mông

Nhớ trường xưa yêu dấu

Nhặt một tiếng giảng bài

Nhớ bóng dáng thầy xưa

Nhặt một buổi ban trưa

Tiếng ve sầu li biệt

Sao cái gì cũng nhặt

Vì ta lỡ đánh rơi

Ngày xưa trôi qua rồi

Bất chợt nay thật nhớ!

Đột nhiên ta bỡ ngỡ

Đã xa rồi trường xưa.

Hà Thị Thùy Duyên

Tôi Mơ Làm Cô Giáo

Tôi mơ làm cô giáo
Bởi không có nghề nào được trao và nhận nhiều đến vậy.
Tôi trao em tình người, và nhận ở em tình yêu thương, lòng kính trọng.
Tôi trao em trái tim người thầy nồng ấm, và nhận ở em ánh mắt rực sáng niềm hi vọng.
Tôi trao em tâm huyết một đời, và hân hoan trong niềm vui chiến thắng, ấy là lúc em thành công trên bước đường đời.
Tôi mơ làm cô giáo
Để cùng em bước đi trên con đường trải thẩm đỏ.
Cha mẹ em cầu mong em tròn đầy, thì hà cớ gì tôi lại để em đi trên những con đường gấp khúc.
Tôi mơ làm cô giáo.
Tôi sẽ không đánh giá em bằng những bài kiểm tra, bằng những con điểm mà em đạt được, những kì thi mà em đã vượt qua.
Mà bằng chính ý thức, sự lạc quan, niềm vui sống, những tình cảm âu yếm mà em dành cho mọi người xung quanh và cả thế giới này.
Tôi mơ làm cô giáo.
Ước mơ là của riêng em, thành công hay không cũng là do em quyết định.
Tôi không thể cho em những gì em mơ ước, bởi tôi không có quyền năng, lại càng không thể trao em phép nhiệm màu, bởi tôi không là bà tiên trong truyện cổ tích.
Nhưng tôi có thể thắp sáng ngọn lửa niềm tin trong em.
Và đắp đầy hành trang em bằng tri thức mà tôi có được, và cả tình yêu thương.
Và tôi chỉ sẽ là chiếc cánh quạt rẽ nước mà không là bác thuyền trưởng độc đoán.
Tôi mơ làm cô giáo.

Tình yêu trong tôi sẽ hóa phép lạ để biến mặc cảm của em thành tự tin, biến khó khăn thành nghị lực, biến tuyệt vọng thành ý chí.
Một ánh mắt biết sẻ chia, một đôi tai biết lắng nghe, một trái tim chan chứa yêu thương…
Tôi mơ làm cô giáo.

Võ Thị Thanh Thủy

Giáo dục đại học Mỹ và cơ cấu biên chế

Với hơn 4,000 trường, hệ thống đại học ở Mỹ rất phong phú và đa dạng về chương trình học, lĩnh vực nghiên cứu với các mức độ khác nhau. Ví dụ, cùng là một chương trình học về Kinh tế học (economics), so sánh hai trường ở hai bang của nước Mỹ sẽ cho ra những kết quả như sau: theo xếp hạng của US News and World Reports[1] trường A xếp thứ 50, trong khi trường B xếp thứ 100; chương trình học của trường A là 2 năm, của trường B là 1 năm rưỡi; trường A có nhiều môn thiên về kinh tế lượng và toán trong khi trường B lại có một số môn như kinh tế chính trị, kinh tế môi trường mà trường A không có vv…

Về mặt nghiên cứu và giảng dạy, hệ thống giáo dục đại học và sau đại học (Higher Education) chia làm hai dạng (tạm dịch): đại học nghiên cứu (research university) và đại học giảng dạy (teaching university). Về sở hữu thì chia làm đại học quốc lập (public university) và đại học tư (private university). Cũng chính vì sự phong phú của giáo dục đại học Mỹ mà có rất nhiều các cơ quan xếp hạng các trường đại học theo những tiêu chí khác nhau. Các bảng xếp hạng có uy tín được nhiều người sử dụng như US News and World Reports, hay xếp hạng do các tổ chức chuyên ngành như The Center of Measuring University Performance.

Theo CMUP, các tiêu chí xếp hạng một trường đại  học nghiên cứu hàng đầu bao gồm: tổng số bài nghiên cứu, số tiền nhận tài trợ (endowment), số tiền cấp cho nghiên cứu hàng năm, số lượng giải thưởng của giáo viên trong khoa, số lượng sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ vvv…Các trường nghiên cứu hàng đầu theo xếp hạng năm 2008 [2]là Columbia University, MIT, Standford University, Havard University. Điểm đáng chú ý là 7 trường top đầu của bảng xếp hạng này đều là trường đại học tư. Khác với Việt Nam hay các trường ở châu Âu, các trường tư tại Mỹ rất hoạt động hiệu quả và luôn dẫn đầu trong hệ thống giáo dục bậc cao.

Mỹ là một trong số ít các nước áp dụng chế độ biên chế (tenure) trong giáo dục đại học và sau đại học. Thông thường muốn làm giảng viên đại học ở Mỹ thì ứng viên phải có ít nhất bằng tiến sĩ (Doctor of Philosophy). Tùy thuộc trường mà ứng viên được vào làm việc và xét biên chế là trường thiên về nghiên cứu hay giảng dạy mà tiêu chí xét biên chế sẽ khác nhau. Có 3 mức bổ nhiệm cho vị trí giảng viên đại học: Assistant Professor, Associate Professor, và (Full) Professor. Giảng viên mới được gọi là Assistant Professor và kí hợp đồng làm việc với nhà trường trong một vài năm đầu (6-7 năm).

Trong giai đoạn thử việc (probationary period) các giảng viên thường được yêu cầu phải có một số lượng bài nghiên cứu nhất định đăng trên tạp chí chuyên ngành hàng đầu của Mỹ hoặc thế giới, xin được tài trợ từ các tổ chức uy tín, viết sách hoặc là đồng tác giả viết sách, được trao giải thưởng về thành tích nghiên cứu hay giảng dạy xuất sắc, có những đóng góp tích cực trong các công tác xã hội khác (ví dụ, là thành viên quản trị của một tổ chức nào đó trong ngành/lĩnh vực liên quan) vv…  Sau 6 hoặc 7 năm của giai đoạn xét biên chế sẽ có một hội đồng thẩm định các kết quả làm việc của ứng viên. Nếu được chấp nhận biên chế, ứng viên sẽ được gọi là Associate Professor, sau một vài năm nếu tiếp tục có những nghiên cứu đáng kể thì sẽ được bổ nhiệm thành Professor.

Ví dụ, trường Rice University có quy định về biên chế như sau[3]: Assistant Professor được kí hợp đồng 4 năm đầu tiên, và được hội đồng xem xét vào năm thứ 3. Nếu được tiếp tục bổ nhiệm và kí hợp đồng làm việc 4 năm nữa, ứng viên sẽ được phép nghỉ 1 kì học chỉ để tập trung vào nghiên cứu, tìm nguồn tài trợ, hoặc các hoạt động sáng tạo khác, thường là vào năm thứ 4 hoặc thứ 5 trong khi vẫn nhận lương đầy đủ. Nếu sau lần xét đầu tiên vào năm 3 mà ứng viên không đạt yêu cầu thì họ sẽ có 1 năm để đi tìm việc và kết thúc hợp đồng vào năm thứ 4. Tương tự như vậy với hợp đồng lần 2 vào năm thứ 7.

Năm 1: bổ nhiệm chức Asssistant Professor và giao nhiệm vụ

Năm 3: xét lần đầu và bổ nhiệm lần hai hoặc chấm dứt hợp đồng

Năm 5: giai đoạn 2 bắt đầu

Năm 4 hoặc 5: nghỉ phép (cho phép nghỉ một kì để ứng viên tập trung vào nghiên cứu trong khi vẫn nhận lương đầy đủ)

Năm 7 hoặc sớm hơn: xét lần 2

Hết năm 7: thăng chức hoặc chấm dứt hợp đồng (có 1 năm sau đó để ứng viên đi tìm việc).

Lí do áp dụng chính sách biên chế được giải thích là giúp cho các học giả nghiên cứu có được sự tự do trong nghề nghiệp. Các giảng viên đại học hoặc giáo sư đôi khi không dám đi sâu nghiên cứu những ý tưởng mới lạ do bị sức ép từ phía giám hiệu nhà trường để đạt thành tích nghiên cứu, giải thưởng, hay thu hút nhiều sinh viên theo học. Nếu như không có chế độ biên chế, nhiều người sẽ chấp nhận chọn một con đường an toàn hơn là đề xuất những ý tưởng đột phá.

Hơn nữa việc xét biên chế cũng giúp các trường giữ chân người tài, tránh các chi phí tuyển dụng người mới hay cạnh tranh giữa các trường để thu hút giáo viên giỏi từ trường khác.

Các giáo sư lâu năm cũng nhiệt tình giúp đỡ những người mới vào vì không bị lo “mất ghế”.

Ngoài ra sự hấp dẫn của chế độ biên chế cũng là động lực giúp cho các giảng viên trẻ tích cực nghiên cứu và có những công trình xuất sắc trong lĩnh vực của mình.

Một điểm đặc biệt trong hệ thống giáo dục Mỹ không thể không nhắc tới đó là chế độ nghỉ phép (sabbatical leave) dành cho các giáo sư đã có biên chế. Cứ sau mỗi 6 năm giảng dạy toàn thời gian, các giáo sư sẽ được nhà trường cho phép nghỉ 1 năm có lương để hoàn toàn tập trung vào các hoạt động nghiên cứu, xin tài trợ, hoặc đi khảo sát thực địa vv…

Tuy nhiên chế độ biên chế cũng có những hạn chế của nó đó là một số giáo sư sau khi có được biên chế thì không còn hứng thú với nghiên cứu nữa và gần như không có đóng góp gì đáng kể trong lĩnh vực của họ. Để tránh việc này nhiều trường ở Mỹ hiện nay có chính sách cấp biên chế với số lượng có hạn, còn lại là tuyển dụng theo hợp đồng hoặc thời hạn.

Hoàng Khánh Hòa

20.11.2009


[1] http://www.usnews.com/

 

[2] http://mup.asu.edu/research2008.pdf

[3] http://professor.rice.edu/professor/Faculty_Appointments,_Promotions,_Tenure.asp

Thơ Không Vần

Có ai nói rằng thầy giáo là người làm vườn chăm bón cây đời. Tôi nay đã là người làm vườn, cũng tại ngôi trường Quế Sơn này, tôi không quên cái ngày tôi hãy còn là một thứ trái xanh. Không chỉ là trái, hãy còn là hoa. Không chỉ là hoa, hãy còn là một nụ mầm. Có vui vẻ gì chăng khi tôi nhắc lại cái ngày lũ chúng tôi đói áo đói cơm cố níu ghì con chữ. Cái ngày lũ học trò chúng tôi chung đèn chung sách, chung mộng đẹp, chung quần áo đến trường, chung cả những đặc điểm lẽ ra là phải riêng: Chung hắc lào, ghẻ ngứa, chung cả bệnh phù chân. Ôi cái thời vinh quang và đói khổ. Đói khổ thuộc về chúng tôi. Vinh quang cũng thuộc về chúng tôi. Có nụ mầm xưa chỉ kịp se mình làm chiếc lá xanh, thành chiếc lá vàng, lá rụng. Song cũng có nụ mầm đã kịp cho đời quả ngọt, kịp rụng xuống để mọc lên thành kĩ sư, bác sĩ, công nhân… Và tôi, từ cây đời ấy, nay lại mọc lên thành người làm vườn. Một vụ mùa bội thu của thầy cô.

Tôi nhớ về những người làm vườn năm xưa ấy. Thầy Cao Thiệp, hiệu trưởng, rất hấp dẫn chúng tôi mỗi câu chuyện dưới cờ. Đôi tay tài hoa của thầy Thu dạy toán, nét chữ cứ đều như cấy, và vòng tròn tròn hơn cả com pa. Thầy Thuyết đến lớp và ra lớp làm chuẩn mực cho bác phu trường điểm từng tiếng trống. Thầy Quang dạy văn, và chúng tôi thực sự đã được học văn… Và còn nhiều,nhiều những thầy những cô, trực tiếp hoặc chưa trực tiếp dạy chúng tôi con chữ, song mỗi ánh mắt, mỗi dáng đi cũng là một chấm, một nét vẽ nên cuộc đời chúng tôi hôm nay.

Tôi trở về trường Quế Sơn không vì trôi theo dòng khẩu hiệu “ tiếp tục sự nghiệp trồng người”. Mà tôi đã về, tự nguyện, có thể buồn, có thể vui, mà không thể dửng dưng. Nay đã hai mươi năm rồi tôi sống trong giấc mơ xưa, giấc mơ làm thầy giáo. Mộng đời thật đẹp, mà đời cũng thật gian nan. Có lúc vỗ cánh bay, có lúc đi khập khiễng. Có lúc làm người hào phóng. Cũng có lúc xót xa nhìn ánh mắt vợ con.

Ngày ấy tôi chỉ gặp thầy cô tôi vào những giờ lên lớp, những bữa cơm tập thể của thầy tôi chưa hề biết đến. Chúng tôi tưởng thầy giáo thì khỏi phải ăn. Khu tập thể giáo viên chỉ dành riêng cho những người độc thân, chúng tôi nghĩ thầy giáo thì chẳng cần có vợ. Và tôi đã chiêm ngưỡng ánh hào quang đơn độc và tinh khiết của thầy cô mình như trẻ em thích thú ngắm nhìn các vì sao xa.

Nay tôi đã về lại trường xưa mà khắc khoải làm thầy, nhớ oặn lòng về thầy cô , bè bạn. Thương và nợ những thầy, những cô, những đời thường đã cố hóa thân thành những vì sao xa xcho chúng tôi chiêm ngưỡng. Tôi thực sự hiểu cái giá để được làm thầy. Tôi hiểu, nhà văn thì có quyền chọn cửa để hóa thân- hiện thực hay lãng mạn. Nhà giáo chỉ duy nhất một độc chiêu chân truyền của bổn môn: Làm kiểu người lí tưởng.

Tôi về lại trường xưa làm một người thầy. Giữa bài giảng văn chợt nao nao nhớ về thằng bạn, thằng ấy giờ phiêu bạt phương trời để lại trong lòng tôi câu thơ nhoi nhói:

Cây phượng tương tư nối những hiên trường
Cho bên nớ bên ni cùng tâm sự


Cây phượng già năm xưa vẫn còn đó, khó nhọc với thời gian nhắc tôi nhớ lời thầy tôi thủ thỉ “chỉ cây phượng già hiểu người năm cũ, cứ âm thầm trút nhỏ một mùa thu.”

Tôi lại về trường Quế Sơn gắng gỏi làm thầy, qua đèo Le nhớ mùa sim chín muộn, nhớ con bé miệt mài cắm cúi để lưng đèo còn đọng giọt mồ hôi.

Nhớ ơi là nhớ! Thương ơi là thương!

Cậu học trò năm xưa lại về trên bục giảng. Chập chững làm thầy, khó nhọc làm thầy. Tôi đã dạy các em tôi những điều tôi chưa làm được. Tôi mời các em cùng tôi theo đuổi lí tưởng làm người. Lắm lúc rạng rỡ vui khi có những học trò vượt qua mình mà vươn vai hóa thành Phù Đổng. Thi thoảng buồn khi bạn bè xưa lối hẹn, bỏ cuộc, hoặc đành lòng làm một thứ hoa ôi!

…Rồi sau tôi , còn có cả một thế hệ học trò. Các em sẽ viết tiếp về thầy cô mình ngày ấy. Yêu toán, yêu luôn mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ. Yêu văn, cố nhịn ăn để có vóc dáng hao gầy. Yêu lí, yêu cả những ai thật thà gan góc… Còn yêu, sẽ yêu hơn những thầy, những cô đã khiêm nhường hóa thân cho các em có một ngày mai.

Hai mươi năm kỉ niệm, hai mươi năm làm thầy, với tôi, trường lớp đã là một thứ của riêng, vừa muốn phô phang, vừa muốn âm thầm cất giấu. Nói ra và im lặng. Một thứ ngôn ngữ dở dang. Nhưng tôi vẫn chưa đi hết một đời nhà giáo. Hãy để thời gian viết tiếp những dòng xanh về chốn sinh thành. Và những dòng tâm sự của tôi, ước ao sao hãy cứ là tiếng nói của trẻ thơ vừa rời khỏi vòng nôi- bập bẹ khuyết mòn ý tưởng. Song rất mực chân thành. Như một bài thơ không vần. Mùa tặng mình. Tôi khe khẽ xướng ngâm.


Quế Sơn, Nguyễn Tấn Ái.

Tư duy tích cực mỗi ngày