Nếu bạn muốn đi du lịch một vòng quanh thế giới, bạn có thể làm được không?
Nếu bạn có giấc mơ Hà Nội sạch được như Singapore, bạn muốn đứng lên nói về vẻ đẹp của giấc mơ đó ở nơi đông người, bạn muốn mọi người ủng hộ bạn và cùng nhau biến giấc mơ thành hiện thực, bạn làm được chứ?
Tất nhiên, nếu bạn thật sự rất muốn.
Và bạn phải hành động, hành động và hành động. 🙂
Đó là thông điệp của bài hát nổi tiếng “You can get it if you really want” do anh Jimmy Cliff sáng tác.
Bài hát được thu âm đầu tiên bởi ca sĩ Desmond Dekker vào năm 1970 và xếp hạng 2 trong các bảng xếp hạng của Anh năm đó.
“You can get it if you really want” cùng những bài hát khác của anh Jimmy Cliff như “Many Rivers to Cross”, “Wonderful World Beautiful People” được dùng làm nhạc nền trong bộ phim “The Harder They Come”. Nhạc nền của bộ phim này được coi là bước đột phá để đưa dòng nhạc Reggae đến với nước Mỹ, mở đường cho Bob Marley và những nghệ sĩ Jamaca khác.
Mình được biết đến bài hát này vì đó là bài hát chủ đề của đội tranh luận của trường đại học Vermont vào năm 2007, tham gia giải tranh luận liên trường với các trường đại học khác.
Nước Mỹ có văn hóa tranh luận tốt và tranh luận là một môn học/môn giải trí ở các trường trung học và đại học.
Các bạn trong đội không có kinh nghiệm tranh luận gì từ trước. Nhưng các bạn sẽ biết chơi, chơi có văn hóa, và sẽ chiến thẳng bằng cách rất muốn chơi, và chơi, chơi và chơi như thông điệp lặp đi lặp lại của bài hát 🙂
Đọt Chuối Non cũng có một bài viết về tranh luận ở đây, “Tranh luận là gì?”
“You can get it if you really want” cũng là bài hát chủ đề trong các nhóm vận động chính trị ở nhiều nước. Sau đây là lời của đảng cộng hòa Anh vào năm 2008:
“”Rome was not built in a day, opposition will come your way; but the hotter the battle you see, it’s the sweeter the victory; you can get it if you really want.” 🙂
Sau đây, là lời hát, tiếp theo là video.
Chúc các bạn một ngày tươi hồng !
Hiển
.
You Can Get It If You Really Want Lyrics
You can get it if you really want
You can get it if you really want
You can get it if you really want
But you must try, try and try
Try and try, you’ll succeed at last
Persecution you must bear
Win or lose you’ve got to get your share
Got your mind set on a dream
You can get it, though harder them seem now
You can get it if you really want
You can get it if you really want
You can get it if you really want
But you must try, try and try
Try and try, you’ll succeed at last
I know it, listen
Rome was not built in a day
Opposition will come your way
But the hotter the battle you see
It\’s the sweeter the victory, now
You can get it if you really want
You can get it if you really want
You can get it if you really want
But you must try, try and try
Try and try, you’ll succeed at last
You can get it if you really want
You can get it if you really want
You can get it if you really want
But you must try, try and try
Try and try, you’ll succeed at last
You can get it if you really want – I know it
You can get it if you really want – though I show it
You can get it if you really want
– so don’t give up now
Malaysia là một trong những đất nước thân thiện và ổn định nhất Đông Nam Á. Nhiều thập kỷ tăng trưởng kinh tế bền vững và ổn định chính trị đã khiến cho Malaysia trở thành một trong những nước năng động và giàu có nhất trong khu vực. Diện tích của Malaysia là 33.000 km2. Dân số vào khoảng hơn 27 triệu người. Ngôn ngữ chính là tiếng Mã Lai và tiếng Indonesia. Tiếng Anh và tiếng Hán cũng được dùng phổ biến. Tiền tệ của Malaysia là đồng ringgit.
“Ma Lay” theo tiếng Mã Lai có nghĩa là “hoàng kim”. Malaysia đang là điểm đến được nhiều du khách trong khu vực lựa chọn bởi đường đến không quá xa, môi trương trong lành hiền hòa và đất nước này cũng mở nhiều chiến dịch quảng bá ngành du lịch hiệu quả đến thị trường khu vực và Việt Nam. Malaysia thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, quanh năm nắng gió, mưa nhiều với đầm lầy, rừng nhiệt đới xanh tốt, bờ biển vàng và nhiều núi. Ban ngày nhiệt độ khoảng 30 độ C, ban đêm nhiệt độ thường 22 độ C.
Malayxia là đất nước đa chủng tộc bao gồm các dân tộc chính như Malay, Hoa và Ấn Độ. Malaysia có nhiều dân tộc và nền văn hóa đa dạng đặc sắc, gồm người Mã Lai, người Hoa, người Ấn Độ và người phương Tây. Con người ở đây có sự dung hòa, tôn trọng lẫn nhau, gắn kết lòng người trong cả nước. Người dân Malaysia rất hữu nghị và mến khách.
Twin Tower ở thủ đô Kuala Lumpur
Thủ đô Kuala Lumpur: được xây dựng vào thế kỷ 19, nằm ở phía tây đảo Malaysia, diện tích 244 km2, dân số khoảng hơn 1,5 triệu người. Đây là thành phố đa sắc tộc, đa tôn giáo nhưng rất hòa hợp với nhiều điểm tham quan hấp dẫn, từ các khu phố cũ xung quanh quảng trường Merdeka tới khu vực của người Hoa, người Ấn Độ và Mã Lai sinh sống. Tháp đôi Petronas: tòa tháp đôi này nằm ở trung tâm Kuala Lumpur, cao 421 m, cho đến nay vẫn là công trình kiến trúc cao thứ ba trên thế giới, đồng thời là biểu tượng mới nhất của Malaysia xinh đẹp và hiện đại.
Hãy đến khám phá một đất nước được biết đến trên toàn thế giới như một “Châu Á đích thực” một điểm đến lý tưởng nơi những kỳ quan thiên nhiên và kỳ quan kiến trúc nhân tạo kỳ vĩ cùng hội tụ, nơi giải trí tuyệt vời mọi trò vui và nụ cười bất tận, nơi mua sắm là một thiên đường, nơi hội ngộ ẩm thực của khu vực và toàn thế giới, nơi các nền văn hoá lớn kết tinh tạo ra sự đa dạng dân tộc và văn hoá độc đáo, nơi mọi loại hình và nhu cầu du lịch đều được thoả mãn, từ nghỉ nghơi thư giãn thuần tuý hay du lịch mạo hiểm đến du lịch kết hợp khám chữa bệnh hay hội thảo, hội nghị hay du lịch kết ợp thăm thú các trường đại học để chọn một môi trường lý tưởng cho nền học vấn của thế hệ tương lai, nơi người dân luôn chào đón du khách bằng sự thân thiện và những nụ cười.
Hồng Hoa
ĐCN: Chị Nguyễn Thị Hồng Hoa là social worker, tốt nghiệp Master of Social Works tại Malaysia. Chị đang ở Malaysia và đi các nước trong khu vực ASEAN, kể cả Việt Nam, thường xuyên vì nhu cầu công việc.
Rất vui được gặp lại các bạn trong chuyên mục Nhạc Xanh sau một thời gian dài mình biệt tăm biệt tích vì công việc. Hy vọng là các bạn vẫn còn nhớ mình! Hehehe…
À, gần đây trên báo chí đưa nhiều thông tin về chương trình “Giai Điệu Mùa Thu 2009”, được diễn ra trong 3 đêm: 19/8, 20/8 và 21/8. Không biết có bạn nào đã đi xem rồi không nhỉ? Mình thì rất quan tâm đến chương trình này, nên vừa rồi cũng quyết tâm mua vé để xem (dù giá vé không rẻ tí nào do mình mua hơi trễ….hic hic…).
(“Giai Điệu Mùa Thu” là một chương trình do Nhà Hát Giao Hưởng Nhạc Vũ Kịch TP. HCM thiết kể và tổ chức hàng năm vào mùa thu tháng 8. Đây là một chương trình tập hợp nhiều nghệ sĩ trẻ trong nghệ thuật hàn lâm của cả nước và cả bạn bè quốc tế. Giai Điệu Mùa Thu được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005, và đến năm 2009 đã sang lần thứ 5 liên tiếp)
Và, đúng là “Tiền nào của nấy”, buổi biểu diễn ngày 21/8 của “Giai Điệu Mùa Thu 2009” thật ấn tượng và tuyệt vời, đặc biệt là phần hợp xướng tác phẩm “Carmina Burana” (Carl Orff) rất hoành tráng với khúc dạo đầu, cũng như kết thúc có tên gọi “O Fortuna” mà mình giới thiệu ngay sau đây với các bạn trong phần Nhạc Xanh ngày hôm nay.
1) Carmina Burana: tập hợp các bài thơ thời trung cổ, tiếng Latinh được viết vào thế kỷ thứ 13 nhằm phản ánh cuộc sống muôn mặt của con người thời đó. Một số bài rất vui nhộn, trẻ trung, một số bài lại ưu phiền, sâu lắng và một số bài pha chút thô kệch, mạnh mẽ nhưng mang tính nhân bản sâu sắc. Năm 1935 – 1936, nhà soạn nhạc tài ba người Đức Carl Orff đã sử dụng lời của những bài thơ ca này để viết thành một tác phẩm hợp xướng (gồm 25 chương, dài 70 phút) cực kỳ hoành tráng và đồ sộ. Đây là một trong những tác phẩm được hâm mộ nhất và trình diễn nhiều nhất trên thế giới trong thế kỷ 20.
2) “O Fortuna”: là một bài thơ trong tập thơ Carmina Burana. Fortuna là tên của nữ thần số phận trong thần thoại La Mã. “O Fortuna” là bước chuyển biến lớn nhất trong tác phẩm “Carmina Burana” của Carl Orff. Phần nhạc của bài thơ này đã trở nên hết sức nổi tiếng và được rất nhiều dàn hợp xướng biểu diễn. Tác phẩm này đã được sử dụng rất nhiều trong các bộ phim nổi tiếng như: Lord of The Rings, Star Wars, 300 …cũng như các chương trình truyền hình trên khắp thế giới.
.
.
(Theo wikipedia)
O Fortuna (Chorus)
Tiếng Anh
O Fortuna
velut luna
statu variabilis,
semper crescis
aut decrescis;
vita detestabilis
nunc obdurat
et tunc curat
ludo mentis aciem,
egestatem,
potestatem
dissolvit ut glaciem.
Sors immanis
et inanis,
rota tu volubilis,
status malus,
vana salus
semper dissolubilis,
obumbrata
et velata
michi quoque niteris;
nunc per ludum
dorsum nudum
fero tui sceleris.
Sors salutis
et virtutis
michi nunc contraria,
est affectus
et defectus
semper in angaria.
Hac in hora
sine mora
corde pulsum tangite;
quod per sortem
sternit fortem,
mecum omnes plangite!
O Fortune,
like the moon
you are constantly changing,
ever waxing
and waning;
hateful life
first oppresses
and then soothes
as fancy takes it;
poverty
and power
it melts them like ice.
Fate – monstrous
and empty,
you whirling wheel,
you are malevolent,
well-being is vain
and always fades to nothing,
shadowed
and veiled
you plague me too;
now through the game
I bring my bare back
to your villainy.
Fate is against me
in health
and virtue,
driven on
and weighted down,
always enslaved.
So at this hour
without delay
pluck the vibrating strings;
since Fate
strikes down the strong man,
everyone weep with me!
Và, ngay sau đây là 4 video clip “O Fortuna”. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một tuần làm việc thật hiệu quả.
Loan Subaru
1) Video clip do dàn hợp xướng Vienna Boys Choir biểu diễn.
Dam San bỏ mặc khách cầu hôn ngồi chật nhà cho chị em H’Âng, H’Lí tiếp. Chàng cuốn gọn mớ tóc dài trong chiếc khăn bịt đầu đỏ chói của tù trưởng, gỡ chiếc xagac treo trên vách, nhảy qua cửa sổ buông mình xuống giữa lưng ngựa, phóng đi không hề ngoảnh lại.
Bước chân ngựa vẫn như hàng ngày nhanh hơn cơn gió. Thân hình Dam San vẫn dẻo như nõn mây. Nhưng dường như hôm nay tai chàng không nghe được tiếng động nào, ngoài tiếng nói cứ nhắc đi nhắc lại trong đầu :
– Phải đến ngay nhà H’Bia Điết Klứt (*).
Tiếng con chim tao vao vắt vẻo trên cột gỗ ở cổng đầu buôn, chao chác gọi bạn tình chẳng lọt lỗ tai chàng. Cơn gió ù ào luồn qua rừng khộp, đùa giỡn tung những chiếc lá đỏ tơi tả bay đầy trời, không khiến mắt Dam San chú ý. Thúc ngựa lội ào qua suối, nước ngập tới ức ngựa , ướt cả đuôi khố, chàng không hay.
– Không! Không Không thể lấy H’Nhi, H’Bhi làm vợ. Dù cho hai nàng có đẹp, có giàu. Ta đã thuộc về H’Bia Điết Klứt.
Tiếng lách cách của khung dệt báo Dam San biết người yêu đang dệt vải. Vịn tay đầu sàn, chàng ghé nhìn qua khung cửa. H’Bia bên cửa sổ vẫn đang vừa luồn chỉ vừa hát:
Dệt tấm khố em mong anh về
Trao tấm áo để đón anh về
Mẹ bảo em rằng anh sẽ về
Mai mốt anh về như chim có bầy(**)
Nàng dệt đã sắp xong tấm khố để tặng chàng. Bên cạnh lại còn bày cả tấm chăn apăn lẫn chiếc áo tù trưởng knuky có hàng nút vàng và hàng dây đỏ rực như chim mlang đang giang cánh trước ngực, đã dệt xong. Nhìn những trang phục đó, nàng giục mình phải xe chỉ, luồn sợi nhanh tay hơn nữa, bởi đó chính là một phần những lễ vật nàng sẽ đem sang nhà để cưới chàng về làm chồng.
Dam San nắm lấy đôi bầu vú gỗ nơi đầu thang, đu thẳng người lên sàn. Bước nhảy mạnh mẽ của chàng dũng sĩ khiến cả căn nhà sàn dài rung rinh.H’Bia dừng tay dệt ngó ra cửa, nói dỗi :
-Dam San ! Mấy lần con gà lên ổ rồi em không thấy chàng. Hay Dam San để con diều mổ, con quạ tha em đi rồi mới tới đây chăng?
– H’Bia ơi ! Em mắng anh sao như nước sôi trên lửa vậy? Mai này cơm ai người đó ăn, rượu ai người đó uống.Em có còn được chờ, được mắng anh nữa không đây?
– Sao vậy Dam San ?
Bước tới sau lưng người yêu, Dam San cởi hộ nàng sợi dây buộc khung dệt, vén mớ tóc dài xõa đầy trên sàn, đỡ H’ Bia đứng dậy :
– Cột một ché rượu hai người uống đủ đi em. Ta uống với nhau một lần cho say, quên cả đường về, quên cả những gì đang chờ ở nhà anh kia nữa nhé.
Cảm thấy có điều gì xẩy ra, H’Bia lặng lẽ bới gọn mớ tóc rồi đi tới góc nhà phía Đông nơi mẹ ủ rượu, chọn lấy một ché ngon. Dam San với tay lên xà nhà, lấy cây cột gơng chống xuống sàn, chàng phụ H’Bia bưng tới, cột ché rượu cho chắc.Trong lúc H’Bia lui cui múc nước và soi lại cho thông cái cần hút, Dam San nhanh chóng đem về một ôm lá chuối khô, xoay tròn ấn vào ché. Họ lặng thinh làm, không nói gì với nhau, cũng không gọi tôi tớ.
Hai người ngồi bên nhau, tay cùng đặt lên cần rượu, chân đạp lên chân, mắt nhìn trong mắt. Nếu có hai chiếc cần, thày cúng, cái rìu và đôi vòng đồng nữa, thì đã thành lễ cưới của họ rồi. Mặt ché đầy nước sóng sánh như ánh mắt H’ Bia đắm đuối nhìn người yêu. Đam San dịu dàng nâng cần rượu đặt lên môi nàng :
– Uống đi H’Bia . Cho Dam San được tiếp em uống rượu lần sau chót. Rượu có đắng ta cũng coi là rượu ngọt mà uống cùng nhau.
Đôi mắt H’Bia mở to, lóng lánh như cặp mắt con mang nhỏ Dam San bẫy được mà không nỡ giết, lại chữa vết thương rồi giữ cho nó quen đùa với hai người mỗi lần đi thăm rẫy.
– Có việc gì Dam San ? Chị em nhà anh không cho hai đứa mình thương nhau sao?
– Không phải đâu H’ Bia. Chỉ là H’Nhi và H’Bhí cho các anh trai đem lời ông nội đến nhà. Đã đến lúc theo luật tục nối dây, anh phải về nhà hai nàng đó làm người đổi trâu bò lấy ching ché, lấy voi. Ngồi trên chiếu hoa làm sang cho nhà họ.
– Còn em sao Dam San ?
– Ờ, H’Bia ở đầy trong đầu, trong mắt, trong ngực Dam San đây nè. Nhưng bao đời nay, em có thấy ai cãi lời luật tục không? Việc này đã được ông Y Kla của anh dặn dò từ khi ông còn phải cõng H’Bhi trên lưng, bế Dam San bên vế trái, ôm H’ Nhi một bên vế phải, cách nay mười lăm mùa rẫy rồi đó em.
– H’Bia không chịu đâu Dam San. Mình thương nhau đã hai lần hoa tăng bi gửi hương cho gió rồi. Nhà em cũng danh giá, giàu sang đâu có kém gì H’ Nhi, H’Bhí? Dòng họ Êban cũng được quyền cưới họ Niê Kdam chứ.
– Nhưng còn sợi dây nối nòi , làm sao dứt đứt được ?
H’ Bia tựa đầu lên vai Dam San. Mái tóc dài thơm ngát của nàng xổ tung, quấn quýt lên cổ, lên vai, lên tấm lưng trần của chàng Dam San. Họ khép mắt im lặng ngồi bên nhau…..H’Bia đi trước trên con đường rừng vắng, hai bên dày đặc những bông hoa mnga phí vàng óng giữa đám lá xanh mướt.Đôi gót chân đỏ như bôi đất non của nàng bước tung tăng trong tiếng đinh năm dìu dặt. Tiếng kèn như nâng bước chân và tiếng hát H’ Bia.
Lược ngà anh dắt mái tóc xoăn
Để em mơ đêm thương ngày nhớ
Chiếc chiếu em một bên mốc dở
Bởi không có người nằm kề bên
Ơ anh…(***)
Dam San cũng say trong nhịp điệu của câu hát ai rei. Người chàng lắc lư, đôi chân và cả thân mình nhấc lên, nhún xuống, tua khố tung bay.Những con chim kơtia mỏ đỏ, chim nhông mỏ vàng kéo hàng đàn ríu rít sà xuống theo hai người. Góc rừng anh công kiêu hãnh xòe hết chiếc đuôi lóng lánh những hình mặt trời xanh, khoe mẽ với nàng công đang yểu điệu rón rén từng bước. Tiếng suối róc rách ngân nga đâu đây trong bài ca bất tận của núi rừng và tình yêu. Từng chùm hoa xoài trắng đung đưa trong nắng…Dam San ngửa mặt gọi thần mặt trời :
– Ông ơi, thả cho cháu cái thang.
Chiếc thang vàng óng kéo lên. Ông Gỗn cười ha hả hỏi Dam San :
– Hai vợ cháu đang đi đón đó, sao chưa về đi. Từ nay đừng làm con mang, con hoẵng lang thang trong rừng nữa nghe. Phải làm cây cột cái trong nhà chớ.
– Nhưng cháu thương H’ Bia Điết Klứt ông à. Nàng cũng ưng cưới cháu nữa. Chúng cháu muốn ăn cơm một mâm, ngủ chung một chiếu, hút cùng một ống điếu. Sao bắt cháu nối dây với H’ Nhi, H’Bhí? Cháu đâu có ưng hai nàng đó.
– Sợi dây ràng buộc dòng họ Niê với Mlô đã có từ ngàn xưa ông bà rồi.Bà H’Klu chết, họ Mlô phải đem H’ Nhí cho ông Y Kla. Bây giờ đến lượt cháu phải thay ông nội làm chồng H’Nhi, H’bhí. Niê với Mlô kết đôi, của cải mãi mãi sinh sôi, buôn làng đời đời no ấm. Dam San ưng làm tù trưởng hay làm tôi tớ giữ bò, giữ ngựa cho H’ Nhí?
– Có đúng cháu lấy hai nàng đó sẽ thành tù trưởng hùng mạnh, giàu có nhất vùng không?
– Ông Gỗn sao nói sai lời với cháu ?
Hai người mở bừng mắt. Họ vẫn ngồi bên nhau mà thiếp đi, mỗi người một giấc mơ. Chiếc cần rượu bị bỏ quên không ai uống, chảy tong tong xuống sàn, loang ướt cả vạt gỗ.
Dam San quấn mái tóc thơm của H’ Bia quanh cổ như tấm khăn.Hai tay chàng nâng khuôn mặt người yêu. H’ Bia nhắm mắt, dòng lệ trong veo lăn trên đôi má mịn màng. Dam San ghé môi nhấp cạn giọt lệ của người thương. Mắt chàng không rời khuôn mặt nàng, cố khắc ghi những nét yêu thương mai này không còn được ngó thấy…Này hàng mi dài, H’ Bia ưng ghé sát má chàng rồi chơm chớp, thích thú thấy chàng bị nhột.Cặp môi xinh, hàng răng trắng đều như bắp nếp, không còn được gửi cho chàng những nụ cười hoa nở nữa.Khắp bao bến nước, không có cô gái nào có suối tóc dài thơm ngát như H’Bia. Hương tóc ngọt ngào này chàng sẽ không bao giờ được úp mặt vào hít thở. Không còn nữa lời đinh năm buổi sáng, câu hát với đàn goong những đêm trăng xanh.Im lặng úp mặt trong tóc, họ ôm riết lấy nhau, bện trong nhau như con trăn quấn mồi, như đôi sam bơi trong biển. Nhà sàn rung rinh, bay, bay, bồng bềnh trôi trong gió, mỗi lúc mỗi dào dạt. Đóa hoa mây khổng lồ trắng muốt, sà xuống phủ kín căn nhà, bao bọc, ấp ủ, chở che. Đất trời, rừng suối, chòng chành trên con thuyền căng buồm lướt sóng…
Dam San cuốn lại tóc cho H’ Bia, thủ thỉ :
– Lúc nào nghe chiêng trống thì đến nhà anh nhé.
Đôi tay họ xoắn lại, níu lấy nhau không muốn rời ra. Dam San đi lui tới tận đầu thang nhà sàn. H’ Bia thổn thức tựa cửa nhìn ngựa của chàng mỗi lúc mỗi xa. Có gì sáng lên trong đầu, nàng quay lại thét gọi tôi tớ :
– Các con ! Chuẩn bị lễ vật ! Lấy váy áo đẹp cho ta. Đóng bành voi, đi tới nhà Dam San ngay.
Nàng ướm lên người chiếc váy đen lánh như cánh bướm đêm. Thấy chưa ưng lại thử tấm váy vàng rực như tia nắng mặt trời. Cuối cùng nàng lựa chiếc váy sáng nhóng nhánh như ánh trăng xanh, mặc với chiếc áo ngắn thêu hoa và chim rực rỡ. Từ hai bông hoa đỏ trên vai, thả xuống những sợi chỉ bím dài, khiến mỗi bước nàng đi thêm mềm mại. Một góc vạt váy buông lơi bên hông, càng tăng cho nàng vẻ duyên dáng. Tôi tớ đã kịp chuẩn bị xong lễ vật, voi đã đóng bành phủ tấm mền thổ cẩm đỏ đen rực rỡ, ghé lại bên sàn. H’ Bia ra lệnh nài thẳng hướng nhà Dam San giục bước chân voi.
Con đường trôi giữa hai bờ cỏ lau khô lút đầu. Mỗi lần làn gió xào xạc chạy qua, cỏ lau dịu dàng nhường nhịn nằm rạp xuống, rồi lại kiêu hãnh ngóc dậy. H’ Bia quyết đến giành lại người yêu trong tay H’Nhi và H’Bhí, cho dù có phải chống lại luật tục muôn đời.
Dam San bước lên cầu thang nhà sàn phía sau, kịp nghe tiếng Y Đ’hinh, anh của H’ Nhí lớn giọng :
– Anh Dam San đâu. Tôi muốn hỏi một lời thôi : gia đình ta có còn nhớ luật lệ ông bà, có nhớ lời dặn của ông nội Y Kla không?
Chàng chậm rãi bước tới, khoanh chân ngồi trên chiếc đệm tù trưởng phủ vải thổ cẩm ngay giữa nhà, xếp lại mép khố cho ngay ngắn. Đôi tay đặt trên đùi, đầu ngước cao. Đuôi chiếc khăn buộc đầu cũng ngẩng lên thách thức. Mọi người chợt im bặt. Chưa ai kịp nói lời nào thì một đàn voi xịch tới bên sàn. H’ Nhi, H’Bhí yểu điệu bước xuống dưới bàn tay dìu đỡ của anh Y Linh. Chị H’Âng tíu tít chạy ra đón khách. Chưa kịp mở lời mời ngồi, lại một đàn voi khác rầm rập quỳ gối ghé hiên nhà, H’ Bia mạnh mẽ bước xuống, khoanh tay đứng chờ nơi đầu sàn. H’LÍ lật đật thay chị chạy ra ríu rít mời mọc :
– Mừng chị H’ Bia tới chơi. Nhà chúng tôi bữa nay được đón toàn khách giàu khách quý. Các chị có tới nhầm nhà không đấy ?
– Không nhầm đâu ! Tôi tới hỏi anh Dam San về làm chồng đây. Các con ! Bưng đồ lễ lên.
Tiếng H’ bia lanh lảnh. Mọi người chưa kịp ngồi ấm chỗ đã nhấp nhổm đứng dậy. Đam San lặng người đăm đắm nhìn H’ Bia.Nàng đã công khai gây chiến rồi. Bụng chàng bên thương bên lo. Thương nàng dám một mình đương đầu với dòng họ Mlô danh giá, đưa ngay lễ cưới xin đón chàng, chứ không phải lễ hỏi. Nửa lo H’ Bia làm sao bẻ gãy được luật tục và miệng lưỡi của cả cộng đồng.
Đoàn tôi tớ nhà H’ Bia đứng chật đầu sàn. Nàng thủng thẳng bước đi trước mắt mọi người. Vẻ đẹp rực rỡ và ánh mắt cương quyết của H’ Bia khiến những kẻ rắp tâm muốn làm trò xấu cũng phải rẽ qua, kính nể nhường bước. Nàng ý tứ đứng lui sang phần đing ok dành cho phái nữ, khẽ gật đầu. Tên nô lệ đi đầu quỳ xuống dâng lên cho chị H’ Âng chiếc mâm đồng đựng đủ bảy món lễ vật : tấm mền, chiếc áo, khố, túi đeo, bát đồng và hai chiếc vòng. Sáu nô lệ tiếp theo đặt xuống ba chiếc ché tuk cao ngang ngực người rồi cúi đầu lui ra. Hai người khác khiêng một bộ ching Lao đặt xuống. Chắc chắn trâu bò heo còn đứng chật cả ngoài sân.
– H’ Bia Điết Klứt ! Con gái tù trưởng sao không theo đúng lệ của ông bà? Đi hỏi chồng sao không có cậu dăm dei, lại chưa nộp lễ hỏi đã trao lễ vật xin cưới?
– Ta không cần dăm dei. Nữ tù trưởng được quyền tự ý bắt chồng. Nhà ta bên đó với chị em Dam San bên này đều đã biết hai ta ưng nhau đằng mặt, thương nhau đằng lòng. Đó là xong lễ hỏi, nay ta xin rước chàng là đúng chớ. Y Đ’hinh không bẻ được lý phải của ta như bẻ trái bắp đâu.
Y Đ’hinh gập gãy cành củi đang cầm trên tay kêu cái rắc, cao giọng hơn :
– H’ Bia có biết Dam San được nối dây cho H’Nhi, H’Bhí từ mười lăm mùa rẫy trước rồi không?
– Ta biết! Nhưng luật tục đâu có ép nếu chàng không ưng. Dam San thương cái đẹp của ta, mến cái tình của ta. Luật tục có cấm Ê Ban với Niê Kdăm kết đôi không?
Y Đ’hinh vươn thẳng người lên dõng dạc :
– Không nói nhiều ! Tôi chỉ hỏi chị H’ Âng và anh Dam San : dòng họ Niê Kdam có còn giữ lề lối luật tục Radeh không? Có chịu kết đôi cùng em gái chúng tôi theo như lời ông nội Y Kla đã dặn không?
Trời đất bỗng dưng tối sầm, ngả nghiêng, sấm sét ầm ầm nổi lên từ bốn phía. Gió cuốn đất đá, cỏ cây bay mù mịt. Voi ngựa, trâu bò, heo ngoài sân gầm rống. Lũ con nít thét lên túm lấy váy mẹ. Tiếng ông Y Kla oang oang át cả tiếng sấm rền :
– Nếu Dam San và H’ Nhí, H’Bhí lấy nhau, họ sẽ thành tù trưởng hùng mạnh, giàu có nhất vùng. Ai làm ngược lại sẽ phải chịu thành nô lệ giữ trâu bò, giữ ngựa cho người kia. Ô hô…ô hô…
Yang sét thu búa về. Yang gió đẩy mây bay đi, trời lại xanh bao la, yên tĩnh. H’ Âng nhìn Dam San. H’Nhi, H’Bhí nhìn Dam San. Mọi người cùng nhìn Dam San. Như không có H’ Nhi, H’Bhí, như không còn có ai tồn tại, chỉ có ánh mắt Dam San và H’ Bia lặn trong nhau, gài vô nhau đau đớn. Đôi tay khỏe mạnh của Dam San nhắc lên như muốn đưa ra níu lấy, nhưng rồi lại nặng nề rơi xuống đùi. Thân hình xinh đẹp của H’ Bia thẳng căng đổ về phía trước như muốn lao tới với Dam San. Nhưng nàng vẫn bất động. Dường như sức nặng của luật tục ngàn đời đang đè lên hàng trăm con người trong căn nhà sàn dài mênh mông này.
H’ Ấng khe khẽ nén tiếng thở dài vô trong lồng ngực, từ từ đứng thẳng người dậy :
– Con cháu dòng họ Niê chưa bao giờ làm trái lời luật lệ ông bà. Chúng tôi thuận cho Dam San về làm chồng H’ Nhi, H’Bhí.
Tắt, tắt, tắt…chiêng mừng vang lên mỗi lúc một dồn dập. Char (***) ơi! Đem nỗi đau này của Dam San tới tận vực Srêpôk sâu thẳm, cho cả bày cá sấu ở dưới đáy sông Krông Nô kia thôi hững hờ, nổi lên đây cùng chia xẻ. Liang (***) ơi, hãy đem tình yêu của H’ Bia rải khắp chín tầng trời, bảy tầng đất. Cho những con chim có đôi, con người có bạn, cả những nàng tiên thanh thản suốt đời trên bầu trời bao la kia, cảm nỗi đớn đau của tình yêu bị cắt rời….
H’Nhi, H’Bhi và Dam San đã ngồi trên những chiếc bành có lọng che, bầy voi đã hươ vòi từ biệt và cất bước. Ngựa của anh em Y Đ’Hinh, Y Linh đã phóng nhanh như bay đi trước báo tin. Dam San ngoái lại nhìn H’Bia đơn độc đứng chênh vênh nơi mép sàn, dõi theo bước chân voi. Chàng càng đi xa, hình dáng nàng càng lớn lên , cao lên, tạc sâu vào nền trời xanh như ngọc. Rồi tất cả nhòa đi, chỉ còn một thân cây cao lớn sừng sững vươn những cánh tay dài lên bầu trời thăm thẳm cao, xa vời vợi. Những người đàn bà gọi đó là cây blang. Cây blang có hoa đỏ mùa hè, kết thành bông trắng mùa đông. Cánh đỏ như máu của hoa chính là từng mảnh trái tim đầy yêu thương đã tan nát của nàng H’ Bia. Gió đông tách những chùm bông trắng xóa, mang theo tình yêu của H’ bia theo Dam San tới tận cuối đất cùng trời. Các cô gái Radeh nhặt bông ấy xe chỉ, nhuộm nước lá rừng, dệt những tấm chăn, đắp ấm mọi lứa đôi yêu nhau.
_______________
(*) H’Bia Điết Klứt : là một nữ tù trưởng , người yêu của Dam San, mà theo luật tục, chàng buộc phải bỏ để cưới hai nàng H’Nhi & H’Bhí ( Theo sử thi Dam San)
(**) Dân ca Êđê
(***) tên các chiêng trong dàn
Có lẽ tên tuổi của nữ nghệ sĩ này cón mới lạ với một số bạn trẻ của Nhạc xanh, nhưng nữ danh ca Cher được nhiều người lớn tuổi biết đến như một nghệ sỹ có nhiều đóng góp cho lĩnh vực âm nhạc và điện ảnh. Trong hơn 40 năm sự nghiệp ở tất cả các lĩnh vực từ âm nhạc đến điện ảnh, bà đã giành 1 giải Oscar cho diễn viên nữ xuất sắc nhất, 1 giải Grammy cho Ghi âm nhạc dance hay nhất, 1 giải Emmy, 3 giải Quả Cầu Vàng và giải Thành tựu nghệ thuật của Billboard.
Cher tên thật là Cheryl Sarkisian LaPiere, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1946 tại California, Mỹ, là một diễn viên, ca sĩ, nhạc sĩ và nhà hoạt động giải trí. Cher sinh ngày 20 tháng 5 năm 1946 tại El Centro, California trong một gia đình nghèo, không cha. Mẹ của cô kiếm sống bằng cách hát biểu diễn tại những rạp hát hay đóng những vai diễn nhỏ. Với Cher, thật hạnh phúc khi xem mẹ biểu diễn trên sân khấu và sống một cuộc sống thanh bình trong căn hộ của gia đình.
Năm 16 tuổi, do chứng đọc khó nên Cher phải rời trường học, cô bắt đầu đến Los Angeles để học lớp diễn xuất. Với Cher, đây là một bước khởi đầu mới và bắt đầu một cuộc sống hoàn toàn mới. Cô không mong chờ điều gì sẽ tới mà chỉ biết đó sẽ là sự thay đổi. Năm 17 tuổi, Cher có lẽ sẽ không bao giờ quên được thời điểm mà cô gặp một người đàn ông có tên là Sonny. Hai người gặp nhau ở một quá cafe nơi những người nổi tiếng thường hay tới. Vào lúc đó, Cher là một cô gái thất nghiệp và tuyệt vọng trong khi Sonny lại là một người nổi tiếng với nhiều lần xuất hiện trên truyền hình. Hai người yêu nhau và Cher dọn đến ở với Sonny.
Tuy dọn đến ở cùng, nhưng đầu tiên hai người chỉ chung căn hộ chứ không chung phòng. Trong khi Sonny đi làm việc thì Cher ở nhà dọn dẹp và trông coi nhà cửa. Cuộc sống cứ thế cho đến một ngày mẹ của Cher phát hiện ra và bà đã cố gắng chia rẽ hai người, nhưng bà đã thất bại, hai người đã lên tiếng thừa nhận tình yêu của mình. 2 người hát chung với nhau “I’ve got you babe” “The Beat Goes On” và “Baby Don’t Go”. Đây là những đĩa gặt hái được thành công vang dội và đây cũng là cơ sở đầu tiên đưa Cher lên hàng ngôi sao.
Cher luôn đổi mới và chìm ngập trong thời trang, có thể là mặc đồ rất đẹp nhưng đôi khi cũng rất xấu. Và ít lâu sau, gia đình hạnh phúc của Cher cũng tan vỡ. Cher nói với cô con gái Chastity sinh năm 1969 rằng gia đình tan vỡ chính do ánh đèn sân khấu và cuộc sống gia đình không thể nào bền chặt được.
Sau đó ít lâu, Cher kết hôn cùng Allman nhưng cuộc sống của cô cũng không hạnh phúc khi Alman rơi vào con đường nghiện ngập và cuộc hôn nhân cũng nhanh chóng bị phá vỡ. Ở tuổi 33, trải qua những cuộc hôn nhân tan vỡ, Cher cũng có nguy cơ với sự nghiệp ca hát có vẻ như đi xuống của mình.
Cher tham gia một số bộ phim và đã đạt được những thành công lớn như bộ phim Moonstruck đã được đề cử cho giải Oscar và cô giành giải “Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất”. Ở tuổi 41, Cher trở thành một ngôi sao sáng của điện ảnh Hollywood. Tiếp theo đó là hàng loạt các thành công cũng như tai tiếng liên tiếp đến với Cher, nhưng dù sao, bà vẫn đứng trên bục vinh quang cùng với nhiều album nổi tiếng, những vai diễn xuất sắc trong sự nghiệp điện ảnh của mình.
Các Album của bà gồm :
1. All I Really Want to Do (1965)
2. The Sony Side of Cher (1966)
3. Cher (1966)
4. With Love, Cher (1967)
5. Backstage (1968)
6. 3614 Jackson Highway (1969)
7. Gypsys, Tramps & Thieves (1971)
8. Foxy Lady (1972)
9. Bittersweet White Light (1972)
10. Half-Breed (1973)
11. Dark Lady (1974)
12. Star (1975)
13. I’d Rather Believe in You (1976)
14. Cherished (1977)
15. Take Me Home (1979)
16. Prisoner (1979)
17. Black Rose (1980)
18. I Paralyze (1982)
19. Cher (1987)
20. Heart of Stone (1989)
21. Love Hurts (1991)
22. It’s a Man World (1995)
23. Believe (1998)
24. not.com.mercial (2000)
25. Living Proof (2001)
( theo Wikipedia)
Sau đây mời các bạn thưởng thức 6 bản nhạc Dance nổi tiếng của Cher cho ngày cuối tuần. (Và xin tặng riêng bản nhạc sôi động nhất cho Văn Quân)
1. BELIEVE ( bài hát được trao giải Grammy 1998)
No matter how hard I try
You keep pushing me aside
And I can’t break through
There’s no talking to you
So sad that you’re leaving
Takes time to believe it
But after all is said and done
You’re going to be the lonely one, Ohh Oh
Do you believe in life after love
I can feel something inside me say
I really don’t think you’re strong enough, now
Do you believe in life after love
I can feel something inside me say
I really don’t think you’re strong enough, now
What am I supposed to do
Sit around and wait for you
And I can’t do that
There’s no turning back
I need time to move on
I need love to feel strong
‘Cause I’ve had time to think it through
And maybe I’m too good for you, Ohh Oh
Do you believe in life after love
I can feel something inside me say
I really don’t think you’re strong enough, now
Do you believe in life after love
I can feel something inside me say
I really don’t think you’re strong enough, now
But I know that I’ll get through this
‘Cause I know that I am strong
I don’t need you anymore
Oh I don’t need you anymore
I don’t need you anymore
No I don’t need you anymore
Do you believe in life after love
I can feel something inside me say
I really don’t think you’re strong enough, now
Do you believe in life after love
I can feel something inside me say
I really don’t think you’re strong enough, now
Do you believe in life after love
I can feel something inside me say
I really don’t think you’re strong enough, now
Do you believe in life after love
I can feel something inside me say
I really don’t think you’re strong enough, now
2. ONE TIN SOLDIER (WITH THE ANIMATION )
One tin soldier
Listen, children, to a story
That was written long ago,
‘Bout a kingdom on a mountain
And the valley-folk below.
On the mountain was a treasure
Buried deep beneath the stone,
And the valley-people swore
They’d have it for their very own.
Go ahead and hate your neighbor,
Go ahead and cheat a friend.
Do it in the name of Heaven,
You can justify it in the end.
There won’t be any trumpets blowing
Come the judgement day,
On the bloody morning after….
One tin soldier rides away.
So the people of the valley
Sent a message up the hill,
Asking for the buried treasure,
Tons of gold for which they’d kill.
Came an answer from the kingdom,
“With our brothers we will share
All the secrets of our mountain,
All the riches buried there.”
Go ahead and hate your neighbor,
Go ahead and cheat a friend.
Do it in the name of Heaven,
You can justify it in the end.
There won’t be any trumpets blowing
Come the judgement day,
On the bloody morning after….
One tin soldier rides away.
Now the valley cried with anger,
“Mount your horses! Draw your sword!”
And they killed the mountain-people,
So they won their just reward.
Now they stood beside the treasure,
On the mountain, dark and red.
Turned the stone and looked beneath it…
“Peace on Earth” was all it said.
Go ahead and hate your neighbor,
Go ahead and cheat a friend.
Do it in the name of Heaven,
You can justify it in the end.
There won’t be any trumpets blowing
Come the judgement day,
On the bloody morning after….
One tin soldier rides away.
Go ahead and hate your neighbor,
Go ahead and cheat a friend.
Do it in the name of Heaven,
You can justify it in the end.
There won’t be any trumpets blowing
Come the judgement day,
On the bloody morning after….
One tin soldier rides away.
3. DANNY’S SONG
People smile and tell me I’m the lucky one, and we’ve just begun,
Think I’m gonna have a son.
He will be like she and me, as free as a dove, conceived in love,
Sun is gonna shine above.
Chorus:
And even though we ain’t got money, I’m so in love with ya honey,
And everything will bring a chain of love.
And in the morning when I rise, you bring a tear of joy to my eyes,
And tell me everything is gonna be alright.
Seems as though a month ago I beta chi, never got high,
Oh, I was a sorry guy.
And now a smile, a face, a girl that shares my name,
Now I’m through with the game, this boy will never be the same.
(To chorus:)
Pisces, Virgo rising is a very good sign, strong and kind,
And the little boy is mine.
Now I see a family where there once was none, now we’ve just begun,
Yeah, we’re gonna fly to the sun.
(To chorus:)
Love the girl who holds the world in a paper cup, drink it up,
Love her and she’ll bring you luck.
And if you find she helps your mind, buddy, take her home,
Don’t you live alone, try to earn what lovers own.
(To chorus:)
4. IF I COULD TURN BACK TIME
If I could turn back time
If I could find a way I’d take back those words that hurt you and you’d stay
I don’t know why I did the things I did I don’t know why I said the things I said
Pride’s like a knife it can cut deep inside
Words are like weapons they wound sometimes.
I didn’t really mean to hurt you I didn’t wanna see you go I know I made you cry, but baby
[Chorus:]
If I could turn back time
If I could find a way
I’d take back those words that hurt you
And you’d stay
If I could reach the stars
I’d give them all to you
Then you’d love me, love me
Like you used to do
If I could turn back time
My world was shattered I was torn apart
Like someone took a knife and drove it deep in my heart
You walked out that door I swore that I didn’t care
But I lost everything darling then and there
Too strong to tell you I was sorry
Too proud to tell you I was wrong
I know that I was blind, and ooh…
[Chorus]
Ooohh
If I could turn back time
If I could turn back time
If I could turn back time
ooh baby
I didn’t really mean to hurt you
I didn’t want to see you go
I know I made you cry
Ooohh
[Chorus #2]
If I could turn back time
If I could find a way
I’d take back those words that hurt you
If I could reach the stars
I’d give them all to you
Then you’d love me, love me
Like you used to do
If I could turn back time (turn back time)
If I could find a way (find a way)
Then baby, maybe, maybe
You’d stay
[to fade]
Reach the stars
If I could reach the stars
5. WALKING IN MEMPHIS
Put on my blue suede shoes
And I boarded the plane
Touched down in the land of the
Delta Blues In the middle of the pouring rain
W.C. Handy – won?t you look down over me
Yeah I got a first class ticket
But I’m as blue as a girl can be
Then I’m walking in Memphis
Walking with my feet ten feet off of Beale
Walking in Memphis
But do I really feel the way I feel
Saw the ghost of Elvis
On Union Avenue Followed him up to the gates of Graceland
Then I watched him walk right through
Now security they did not see him
They just hovered
’round his tomb
But there’s a pretty little thing
Waiting for the King Down in the Jungle Room
[Chorus]
They’ve got catfish on the table
They’ve got gospel in the air
And Reverend Green be glad to see you
When you haven’t got a prayer
But boy you’ve got a prayer in Memphis
Now Gabriel plays piano
Every Friday at the Hollywood
And they brought me down to see him
And they asked me if I would – Do a little number
And I sang with all my might
And he said – Tell me are you a Christian child?
And I said Man I am tonight
[Chorus]
Put on my blue suede shoes
6. ALIVE AGAIN
All alone
I must stand
Even when I’m running
And it feels, like a dream
I need to awaken from
I believe
When it hurts
We must keep on trying
But I want, And I need
Like a river needs the rain
There’s a bridge I need to burn before I leave
I just wanna breathe again
Like a summer’s day I need to feel the heat again
[Chorus:]
I only wanna keep the stone from rolling
I only wanna learn to feel the rain
Then maybe I could stop the leaves from falling
I only wanna learn to freeze the flame
I know I’ll be alive again
I wanna be alive again
Here’s the night, where’s the stars
‘Coz I need some guiding
and it cuts, like a knife
as I watch you walk away
There’s a bridge I need to burn before I leave
I just wanna live again
Like the stormy rain I need to hear it beat again
[Chorus]
‘Coz I did my best
Baby who’d have guessed
That I’ve failed the test
‘Coz when love ain’t blessed
And it’s laid to rest
It can leave a mess
[Chorus (x2)]
Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng và cuối tuần hạnh phúc
Hôm nay mình chọn viết về chủ đề này vì sau khi theo dõi chương trình Nhịp Cầu Hán Ngữ được tổ chức tại thành phố Trường Sa TQ vào tháng 7 vừa rồi, có rất nhiều bạn trẻ đã gặp vướng mắc trong phần hiểu biết về giai đoạn nội chiến, chia rẽ và dung hòa của các dân tộc,các nước phong kiến vào thời kì Tam Quốc-Nhị Tấn-Nam Bắc Triều. Bài viết này mình chủ yếu cung cấp các cột mốc thời gian, và tóm tắt sự thiết lập, chia rẽ của các triều đại. Lần thi thứ 8 vừa rồi có rất nhiều câu hỏi liên quan đến mảng thời gian, vì vậy bạn nào có ý định tham gia nhịp cầu Hán Ngữ vào năm 2010 nên lưu ý một chút nhé, mong rằng đội tuyển Việt Nam sẽ dành được kết quả tốt hơn trong năm tới. Tam Quốc: Trên cùng (màu lá cỏ)--Ngụy; Duới bên trái (màu nâu)--Thục; Dưới bên phải (màu lục)--Ngô
Tam Quốc-Nhị Tấn-Nam Bắc Triều hay còn gọi là Ngụy Tấn Nam Bắc Triều, bắt đầu từ năm 220 Tào Phi lên ngôi đế vương đến năm 589 Tùy diệt Trần thống nhất toàn quốc, kết thúc 360 năm chia rẽ và cai trị của các lãnh chúa.
Năm 220 Tào Phi thiết lập Ngụy quốc, năm 221 Lưu Bị thiết lập Thục quốc, năm 222 Tôn Quyền thiết lập Ngô quốc, hình thành lên Ngụy, Thục, Ngô tam quốc độc lập chia rẽ . Đô thành của tam quốc phân biêt nằm tại Lạc Dương, Thành Đô, và Nam Kinh. Tào Tháo (bố Tào Phi, vua đầu tiên của nước Ngụy)
Năm 263, Ngụy quốc diệt Thục quốc.
Năm 265 đại thần của Ngụy quốc Tư Mã Viêm cướp đoạt chính quyền nước Ngụy và lên ngôi hoàng đế, thiết lập Tấn triều, định đô thành tại Lạc Dương, và trong lịch sử gọi giai đoạn này là Tây Tấn.
Đến năm 280, Tư Mã Viêm diệt Ngô quốc, kết thúc thời kì chia cắt của tam quốc. Mặc dù thời kỳ này tương đối ngắn nhưng lại được đánh giá là thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Tây Tấn chỉ thống nhất tam quốc trong một thời gian ngắn, đến năm 316 Tây Tấn bị một dân tộc thiểu số tiêu diệt, Trung Quốc lại lâm vào giai đoạn chia cắt mới. Tượng Lưu Bị (nước Thục) tại đền thờ ở Tứ Xuyên
Năm 317, Tư Mã Nhuế của Tấn Vương Thất lên ngôi, thiết lập Đông Tấn Vương Triều, thành đô đóng tại Nam Kinh. Đồng thời, một vài dân tộc thiểu số di chuyển đến lưu vực sông Hoàng Hà cũng lần lượt thiết lập những vương quốc nhỏ riêng của mình. Thời kỳ phân cắt, chia rẽ kéo dài hơn 130 năm của các dân tộc phía Bắc trong lịch sử gọi là thời kỳ “thập lục quốc“.
Năm 439, chính quyền Bắc Ngụy do một vài dân tộc thiểu số thiết lập đã thống nhất toàn phía Bắc. Về sau, đế vương Lý Văn của Bắc Ngụy đã tiến hành cải cách, quy định các dân tộc thiểu số phải học hỏi các chế độ, ngôn ngữ, cách ăn mặc…của dân tộc Hán, thúc đẩy sự dung hòa giữa các dân tộc phía Bắc. Nhưng được một thời gian thì chính quyền Bắc Ngụy lại bị chia rẽ thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, tiếp theo đó là Bắc Tề thay thế Đông Ngụy, Bắc Chu thay thế Tây Ngụy. Trong lịch sử đã gộp 5 triều đại của phía Bắc trên thành Bắc Triều. Tôn Quyền (nước Ngô)
Sau thời Đông Tấn Vương Triều, phía Nam vào những năm 420 đến năm 589 trong khoảng 170 năm trở lại đã trải qua bốn triều đại thống trị là: Tống, Tề, Lương, Trần, thành đô của các triều đại này đều đóng tại Nam Kinh, và lịch sử gọi giai đoạn này là Nam Triều.
Vì Nam Triều và Bắc Triều cùng tồn tại vào một thời kỳ nên lịch sử gọi đây là thời kỳ Nam Bắc Triều.
Vào thời kỳ Tam quốc về các mảng chính trị, kinh tế, ngoại giao… mỗi cường quốc đều có những nét đặc sắc riêng, đồng thời xuất hiện các chính trị gia kiệt xuất như Tào Tháo, Gia Cát Lượng… Gia Cát Lượng, quân sư của Lưu Bị
Thời kỳ Tam Quốc-Nhị Tấn-Nam Bắc Triều cũng xuất hiện rất nhiều các tư tưởng gia, quân sự gia, văn học gia, họa gia, thư pháp gia, các nhà khoa học nổi tiếng… như: Lưu Bị, Lưu Thiên, Tào Tháo, Tào Phi, Tư Mã Siêu….
Có một loại hình âm nhạc mà các giai điệu êm ái, nhẹ nhàng nhưng không kém phần sâu lắng, như một cỗ xe kì diệu của những câu chuyện cổ tích đưa bạn đi vào cõi mộng. Loại nhạc đó gồm nhiều phong cách, thuộc thể loại nhạc không lời, nhằm khơi dậy cảm hứng, thư giãn, mỹ cảm và cảm xúc tích cực. Loại hình âm nhạc này rất phù hợp làm nhạc nền cho các hoạt động như yoga, thiền, thư giãn, massage, tìm cảm hứng, và đọc sách như một phương pháp giải tỏa stress. Âm nhạc như thế chắc chắn sẽ mang lại cho bạn một không khí an bình trong nhà và môi trường quanh bạn.
Bạn đã nghe loại nhạc này nhiều hay chưa một lần trong đời, hoặc giả bạn đã đôi lần nghe và thích thú nhưng không bận tâm nó thuộc dòng nhạc nào? Không sao cả, vì hôm nay Nhạc Xanh giới thiệu với các bạn thể loại âm nhạc khá thịnh hành và mang tính đương đại này như tên gọi: New Age.
Nhạc New Age gồm cả hai loại nhạc điện tử với những mảng giai điệu, những bản nhạc non-dance, được sắp đặt có chủ ý về mặt nghệ thuật và nội dung cần thể hiện, và cả loại nhạc âm thanh thực bao gồm các thứ nhạc cụ như sáo, pianio, đàn guitar thùng, và nhiều loại nhạc cụ đa dạng không thuộc phương Tây. Thanh nhạc về sau đã trở nên phổ biến với ca từ dựa vào các huyền thoại, vào vương quốc của chuyện thần tiên.
Nhạc cho thiền định của Tony Scott (1965) được xem là album nhạc đầu tiên của New Age. Đến giữa thập niên 1970s, nhạc New Age bao gồm thêm nhạc từ Châu Á, như nhạc của Kitaro.
Căn cứ theo quan điểm trên thì các nghệ sĩ và ban nhạc như Enigma, Enya, Vangelis, Yanni, Kitaro, Secret Garden, Gregorian, Loreena Mc Kennitt, Jean-Michel Jarre, Popol Vuh, Klaus Schulze, Shuzanne Ciani, Tangerine Dream … tất cả đều thuộc phạm vi âm nhạc New-Age.
Các đề tài đại chúng trong New-Age bao gồm: không gian và vũ trụ; môi trường và thiên nhiên; tính nhân bản của con người (chân-thiện-mĩ) ; sự hòa hợp của chính bản thân với thế giới; những giấc mơ hoặc những cuộc hành trình của tâm trí hay tinh thần.
Các bạn hãy lắng nghe lời tâm sự của Rolf Lovland, người nghệ sĩ bậc thầy trong nhóm nhạc 2 người Secret Garden, một nhóm nhạc tiêu biểu cho New Age.
Đâu đó trong con người của chúng ta hiện hữu một khu vườn bí mật. Đó là nơi chúng ta có thể nương náu khi cuộc sống trở nên khắc nghiệt, nơi chúng ta có thể trầm ngâm và suy nghĩ. Nhiều năm qua, tôi đã đến khu vườn bí ẩn ấy của riêng tôi, mong rằng sẽ tìm ra được những giai điệu hài hòa. Những khúc nhạc trong CD này là những gì tôi góp nhặt được từ khu vườn ấy. Năm 1994, tôi đã gặp được nghệ sĩ vĩ cầm người Ireland Fionnuala Sherry, người đã cất lên tiếng hát trong những khúc nhạc của tôi”.
Đến với Secret Garden, bạn sẽ đắm mình trong an bình trên làn cỏ xanh mát, nghe tiếng sóng hiền hòa của biển cả, ngắm cảnh bình minh mặt trời đỏ hồng, nghe chim hót líu lo hay tiếng mưa rơi tí tách hiên nhà, tiếng gió rì rào xa vắng. Phần lớn giai điệu thiên nhiên này là nhạc êm dịu hay thư giản. Ngoài ra đến với Secret Garden còn là sự khám phá tâm hồn của chính mình bằng những nét chấm phá của hồi tưởng và tâm linh thần bí
Secret Garden được thành lập cách đây 14 năm (1994) gồm 2 thành viên là nữ nghệ sĩ đàn violin người Ireland : Fionnuala Sherry và nhà soạn nhạc kiêm nghệ sĩ piano xuất sắc người Na Uy, Rolf Lovland. Trước đó, Rolf Lovland từng đại diện Na Uy dự thi Eurovision 1985 với ca khúc Let It Swing và đoạt giải quán quân cho Na Uy ; còn Fionnuala Sherry đã biết chơi violin từ khi lên tám và đã có thâm niên 10 năm trong dàn nhạc giao hưởng. Album đầu tay của họ: Songs From Secret Garden đã đoạt giải cao với Nocturne tại Eurovision Song Contest cho Na Uy lần thứ 2 năm 1995. Album này đã đc bán ra hơn 3 triệu albums. Nó đạt được đĩa bạch kim ở Na Uy và Hàn quốc, đĩa vàng ở Hongkong, Ireland và New Zealand, giữ vị trí trên Billboard New Age Chart trong hai năm 1996 và 1997. Nhạc phẩm nổi tiếng Nocturne, với giọng hát mang âm vực cao và trong trẻo của Fionnuala, đã mang về cho Secret Garden giải nhất cuộc thi Eurovision 1995. Hai giọng ca một trầm một bổng nhưng vẫn hòa quyện vào nhau biểu cảm tuyệt vời. Đây cũng là lần đầu tiên và duy nhất cho đến giờ một bản nhạc thiên về nhạc cụ (instrumental) đã đoạt giải tại Eurovision Song Contest
Album White Stones, được sáng tác tiếp năm 1997, dựa trên nội dung câu chuyện cổ tích Hai đứa bé tìm cha. : “Ngày xửa ngày xưa, có hai đứa trẻ nghe được cha mẹ mình bàn tính sẽ bỏ hai em trong rừng rậm vì họ không còn khả năng làm ra miếng ăn nữa. Hai đứa trẻ thông minh đã nhặt những viên sỏi trắng và rải trên đường đi. Đêm đến, ánh trăng chiếu sáng và những viên sỏi trắng hiện rõ trước mắt… và thế là câu chuyện về Hansel và Gretel tìm cha đã bắt đầu. Hãy xem mỗi khúc nhạc trong album như những viên sỏi trắng kia.
Hãy lắng nghe và nó sẽ dẫn bạn vào khu rừng bí ẩn của riêng các bạn”.
Album này cũng nằm trong danh sách Top Ten về New Age Chart. Dawn of a New Century, với ca từ của Petter Skavlan tiếp theo năm 1999. Dreamcatcher năm 2001 và Once in a Red Moon cũng thành công khắp thế giới
ở vị trí Top Ten
Sau đây mời các bạn thưởng thức một số bản nhạc được xem là tuyệt tác của Secret Garden như Nocturne, Silent Wings, Song From a Secret Garden, Sometimes When It Rains, Sleep Song, Prayer và You Raise Me Up
Thân ái chúc các bạn một ngày vui an bình, và một thoáng mơ màng trong khu vườn Secret Garden
1. Nocturne
Now let the day
Just slip away
So the dark night may watch over you
Velvet blue, silent true
It embraces your heart and your soul
Nocturne
Never cry, never sigh
You don’t have to wonder why
Always be, always see
Come and dream the night with me
Nocturne
Have no fear
When the night draws near
And fills you with dreams and desire
Like a child asleep
So warm, so deep
You will find me there waiting for you
Nocturne
We will fly, claim the sky
We don’t have to wonder why
Always be, always see
Come and dream the night with me
Nocturne
Though darkness lay
It will give way
When the dark night delivers the day
Nocturne
2. “Silent Wings” Moonlight & Sunsets
3. Song From a Secret Garden
4. Sometimes When It Rains
5. Sleep Song
Lay down your head
And I’ll sing you a lullaby
Back to the years
Of loo-li,lai-ley
And I’ll sing you to sleep
And I’ll sing you tomorrow
Bless you with love
For the road that you go
May you sail fair
To the far fields of fortune
With diamonds and pearls
At your head and your feet
And may you need never
To banish missfortune
May you find kindness
In all that you meet
May there always be angels
To watch over you
To guide you each step of the way
To guard you and keep you
Safe from all harm
Find More lyrics at http://www.sweetslyrics.com
Loo-li,loo-li,lai-ley
May you bring love
And may you bring happieness
Be loved in return
To the end your days
Now fall of to sleep
I’m not meaning to keep you
I’ll just sit for awhile
And sing
Loo-li,lai-ley
May there always be angels
To watch over you
To guide you each step of the way
To guard you and keep you
Safe from all harm
Loo-li,loo-li,lai-ley
Loo-li,loo-li,lai-ley
[repeat:looliloolailey]
6. Prayer
Let your arms enfold us
Through the dark of night
Will your angels hold us
Till we see the light
Hush, lay down your troubled mind
The day has vanished and left us behind
And the wind, whispering soft lullabies
Will soothe, so close your weary eyes
Let your arms enfold us
Through the dark of night
Will your angels hold us
Till we see the light
Sleep, angels will watch over you
And soon beautiful dreams will come true
Can you feel spirits embracing your soul
So dream while secrets of darkness unfold
7. You Raise Me Up ( West Life featuring Secret Garden- live 2005)
8. You Raise Me Up ( Secret Garden )
When I am down and, oh my soul, so weary;
When troubles come and my heart burdened be;
Then, I am still and wait here in the silence,
Until you come and sit awhile with me.
You raise me up, so I can stand on mountains;
You raise me up, to walk on stormy seas;
I am strong, when I am on your shoulders;
You raise me up� To more than I can be.
You raise me up, so I can stand on mountains;
You raise me up, to walk on stormy seas;
I am strong, when I am on your shoulders;
You raise me up� To more than I can be.
There is no life � no life without its hunger;
Each restless heart beats so imperfectly;
But when you come and I am filled with wonder,
Sometimes, I think I glimpse eternity.
You raise me up, so I can stand on mountains;
You raise me up, to walk on stormy seas;
I am strong, when I am on your shoulders;
You raise me up� To more than I can be.
You raise me up, so I can stand on mountains;
You raise me up, to walk on stormy seas;
I am strong, when I am on your shoulders;
You raise me up� To more than I can be.
BONUS : CHIỀU CUỐI TUẦN LÀM VIỆC – THÂN TẶNG CÁC BẠN CỦA NHẠC XANH MỘT KHÚC ÊM ĐỀM VỀ TÌNH YÊU. ( và mấy bài nữa trên screen của link này) 😀
LOVE ( POEM )
CENTRAL HIGHLANDS TOMBHOUSE STATUES: UNIQUE SCULPTURES
Tượng nhà mồ là loại hình nghệ thuật điêu khắc độc đáo, một nét đặc sắc trong văn hoá cổ truyền Tây Nguyên. Các tác phẩm thuộc loại hình này được ra đời ở thời điểm lễ bỏ mả với mục đích phục vụ người chết (người Tây Nguyên gọi là hồn ma).
Tombhouse statue is a unique kind of sculpture and a distinctive trait in the traditional Central Highlands cultures. These artworks are produced at the time of the Grave-abandoning Feast, to serve the dead (which Central Highlanders call “spirits”.
Lễ bỏ mả là một lễ hội gắn liền với hầu hết các tộc người thiểu số có cuộc sống du canh, du cư trên địa bàn Tây Nguyên. Họ quan niệm rằng, chỉ khi nào lễ bỏ mả được tổ chức xong thì hồn ma mới thực sự trở về với tổ tiên, ông bà, để bắt đầu một “cuộc sống” mới ở thế giới bên kia. Kể từ đó, mối quan hệ giữa kẻ sống với người chết mới không còn. Mang ý nghĩa thiêng liêng như thế, nên lễ bỏ mả là một lễ lớn hàng năm, thu hút đông đảo người tham gia, thường diễn ra vào mùa xuân tại nghĩa địa các buôn làng.
Grave-abandoning Feast is deeply attached to most nomadic ethnic minorities living in the Central Highlands. They think that, only when the Grave-abandoning Feast has been conducted would the spirits really return to their ancestors, to start a new “life” in the other world. From that point on, the relationship between the dead and hís/her survivors no longer exists. Because of its sacred meaning, Grave-abandoning Feast is one of the big annual feasts, attracting large numbers of participants. It usually takes place at the villages’ cemeteries in springtime.
Để chuẩn bị tổ chức lễ, ngoài việc sửa sang nhà mồ, chuẩn bị lương thực, thực phẩm, rượu cần…, người ta không quên làm tượng để đặt ở nhà mồ. Ở những ngôi nhà mồ to đẹp, tượng được làm bằng những loại gỗ quý có thể chịu được mưa nắng qua nhiều năm ở ngoài trời. Những cây gỗ này phải trên 10 năm tuổi (dài khoảng 2 sải tay, đường kính xấp xỉ 30cm) mới đủ tiêu chuẩn để làm tượng. Trước khi đẽo tượng, người ta phải cúng Thần Nhà Rông, Thần Bến Nước để xin phép.
Apart from repairing the tomb houses, and preparing cereals, food-stuffs and jar wines…, people also make statues to lay around the tomb houses for the grave-abandoning celebration. At big, beautiful tomb houses, the statues are made of different kinds of rare wood that can withstand the elements years after years. A tree has to be at least 10 years old (with circumsference of about 2 arm legnths and the diameter of about 30 cm) to meet the standards for statue making. Before starting to sculpt, local people must submit offerings to the god of Roong House and the god of Watering Place to get their permission.
Tượng nhà mồ thể hiện chủ yếu bằng các mảng, khối, chứ không quá đi sâu vào chi tiết. Tư thế, thần thái của tượng thì muôn hình muôn vẻ. Người bế con, người lấy nước, người mang gùi, người ngồi khóc, người đánh trống đánh chiêng, người chia phần cơm lam, người phụ nữ khoả thân… Đó chính là sự tái hiện cuộc sống thật một cách sinh động, phong phú. Các bức tượng còn trở nên ấn tượng hơn khi được tô điểm màu sắc xanh, đỏ, vàng, đen, trắng… Các nét hoa văn trên trang phục tượng cũng được phối màu rất linh hoạt.
Tombhouse statues are expressed mainly in generalities and masses, not focused on details. They may have many different forms and appearances, such as a mom holding her baby, a water fetcher, a person carrying a backbag, a drummer, a gong player, a person delivering bamboo rice, the naked woman… These statues describe life in a rich and vivid way. The statues become more striking when painted with different colors–green, red, yellow, black, white… The clothing patterns on the staues are lively mixed in colors as well.
Tượng nhà mồ đa dạng cả về kích cỡ, người ta thường dùng đơn vị đo là sải tay để ước lượng. Mỗi tượng trung bình được tính bằng một sải rưỡi, trong đó có nửa sải chôn xuống đất, một sải nhô lên là thân tượng. Tất cả tượng đều được chôn bao quanh khu nhà mồ.
Tombhouse statues are diversified in size, and local people use the arm length as the measurement unit. Each statue is measured by one and a half arm lengths, of which a half arm length is buried and the remainder of the statue’s body is jutted out above the ground. All the statues are planted around the tomb house.
Tượng nhà mồ Tây Nguyên, qua bàn tay sáng tạo của các nghệ nhân, chứa đựng những thông tin mang tính xã hội, cộng đồng sâu sắc. Chúng vừa là những tác phẩm nghệ thuật, vừa mang ý nghĩa tâm linh nhưng không hề tạo ra cảm giác cách biệt mà trái lại, rất thân quen, gần gũi với mọi người. Hầu như ở bất cứ buôn làng Gia Rai, Ba Na, Ê Đê, Xơ Đăng… nào, chúng ta cũng có thể bắt gặp những quần thể tượng nhà mồ. Vẻ quạnh hiu, u tịch của những bức tượng đã dần dần bớt đi vì du khách bốn phương ngày càng lui tới nhiều hơn để chiêm ngưỡng…
Central Highlands tombhouse statues, through the artisans’ hands, carry a lot of profound social and communal information. They are both artistic works and spiritual symbols, without generating any feelings of separation; on the contrary, they are so familiar and close to everyone. In almost all the villages of Jarai, Bana, Ede or Xedang…, we can encounter a complex of tombhouse statues. The statues’ solitary and silent looks have been disappearing little by little, because tourists from everywhere have been visiting them more and more to show admiration.
(Nguồn:Tiếng Việt: Báo Bình Thuận) Dịch sang Tiếng Anh: Jun Quan
Một trong những điểm đặc sắc của văn hóa Phi Luật Tân là các vũ điệu truyền thống. Vì có nhiều hải đảo với nhiều nhóm thổ dân khác nhau, cộng với ảnh hưởng Tây Ban Nha và Mỹ, Phi Luật Tân có cả trăm điệu vũ truyền thống, từ các vũ điệu thổ dân nguyên thủy, đến các vũ điệu mang nặng ảnh hưởng Tây Ban Nha.
Sau đây chúng ta sẽ xem qua một số vũ điệu này qua các video trên Youtube. Đa số các video này không có chất lượng cao về hình ảnh và âm thanh, tuy nhiên chúng cho ta một khái niệm rất rõ về vũ điệu.
Chúng ta sẽ có giải thích về ý nghĩa mỗi vũ điệu, ngay trước video.
.
Lulay là mjột điệu vũ quốc gia, với thay đổi nho nhỏ tùy theo vùng. Chúng ta có thể thấy ảnh hưởng quý phái của nhạc Valse Âu Châu trong vũ điệu này, và tiếng đàn mandolin.
.
Lawiswis Kawayan là vũ phổ thông của các vùng đảo Leyte and Samar. Các vũ công thường mặc trang phục như của các nông dân Visayan ở những vùng nà, đôi khi mày mè như nông dân trong các dịp lễ hội.
.
La Jota de Paragua. La jota là một loại vũ và hát trong truyền thống Tây Ban Nha. Paragua là tên cũ của tỉnh Palawan ngày nay. Điệu vũ ảnh có ảnh hưởng của Tây Ban Nha cổ điển (castillian) rất rõ rệt. Nhạc nền là nhạc Flamenco, dù là không chơi theo kiểu Flamenco guitar. Zapateados (bước chân), cubrados (cánh tay vòng), và Sevillana (áo quần rộng và nhiều giải ren, theo kiểu quý tộc của thue đo Seville cũ của Tây Ban Nha). Phụ nữ thướt tha với mantón (khăn quàng), và các ông or decorative shawl, trong khi các ông gõ nhịp với các phách nhịp (castanet) làm bằng tre.
Jota de Maninela: Là một lọai Jota (hát và vũ truyền thống Tây Ban Nha) ở vùng Manilam, thư đô Phi Luật Tân hiện nay. Các phách nhịp bằng tre cũng được dùng (như trong nhạc Flamenco của Tây Ban Nha). Nhưng ta có thể nhận thấy ảnh hưởng của các vũ điệu truyền thống của Âu châu ở đây.
.
KATSUDORATAN điễn tả “cách đi” của các vương phi của bộ lạc Maranao, sống quanh Hồ Lanao. Điệu vũ này thường được các vương phi biễu diễn trong các dịp lễ lạy quan trọng.
.
Kappa Malong. Đay là vũ malong theo truyền thống Hồi giáo, của dân Maranao. Malong là một chiếc khăn rộng quấn quanh người thành chiếc áo của người phụ nữ. Điệu vũ này là để trình bày cách mặc Malong. Video sau đây có hai phần, phần đầu giải thích chi tiết vũ điệu, phần sau là phần biểu diễn.
.
Vũ singkil mranaw. Đây là vũ điệu đi qua các thanh tre nhịp nhàng nỗi tiếng của Phi Luật Tân, từ bộ lạc Maranao.
.
Vũ Janggay. Janggay hay ‘Igal Janggay là một loại vũ pangalay (múa ngón tay) của bộ lạcTausug ở vùng bán đảo Sulu. Đây là vũ điệu có tính cách Á châu nhất trong các vũ điệu Phi Luật Tân. Các chuyển động trong vũ điệu giống như chuyển động trong vũ thuật kontaw silat.
.
Vũ Lumba. Lumba có nghĩa là “trang trí” hay “trình bày.” Đây là dịp để cho các gia đình trong cộng đồng trìnhbày cờ quạt gia đình, gọi là pandala. Các pandala có thể có nhiều màu sắc và hình thù khác nhau tùy theo từng gia đình, mỗi pandala biểu hiện cho chức vị và thế lực của một gia đình. Trong vũ điệu này, vũ không phải là điều chính, mf cờ và gió là chính. Vũ công làm thế nào để cờ bay cho thật đẹp là việc chính.
Điệu vũ này thường dùng trong các dịp lễ hội vui, đám cưới, thăng chức trong hòang tộc, v.v…
.
Vũ Kabpagagani. Kabpagagani, còn gọi là kapag-ani, có nghĩa là “mùa gặt”. Đay là vũ điệu của bộ lạc Maguindanaos ở đảo Kipangol và đảo Sinumpalay. Họ là nông dân và vũ điệu này biểu hiện các hoat động trồng lúa, và gặt lúa, đập lúa, xay lúa, làm sạch ruộng cho mùa sau… Vũ điệu này thường biểu diễn vào mùa gặt, nhất là dịp nghĩ sau mùa gặt.
.
Vũ Lanceros de Tayabas là một điệu vũ từ vùng Tayabas, dùng trong các màn biểu diễn Komedya. Komedya là một lọai nhạc kịch của người Phi Luật Tân theo công giáo, nói về thánh chiến giữa Công giáo và Hồi giáo, dĩ nhiêm là với Công giáo chiến thắng và người Hồi giáo đổi đạo qua công giáo. Lanceros de Tayabas hàm ý các dũng sĩ (knights và lanciers) của vua Arthur của Anh, người hùng trong cuộc chiến chống Hồi giáo.
Vũ Tumahik là một loạii vũ chiến tranh (war dance) do đàn ông của bộlạc Yakan biểu diễn để luyện tập kỹ thuật chiến đấu. Vũ bộ thường theo các bộ của vũ thuật, như là đi bằng đầu gối, nhào lộn, đá cao…
.
Vũ Bulaklakan là một vũ điệu của người công giáo Phi Luật Tân thường biểu diễn trong ngày lễ thánh Santa Cruz de Mayo (Thánh Giá tháng Năm) dẫn đường đoàn rước kiệu.
.
Vũ Jota Cabangan là một cuộc tán tỉnh giữa nam nữ, ở vùng Cabangan, Zambales, và thường được biểu diễn bởi tân lang và tân nương trong ngày lễ tiệc ngay trước ngày cưới (gọi là ngày sinadag).
.
Vũ Pastores là vũ dịp lễ Giáng Sinh, thương là nói về cấu chuyện các mục đồng viếng thăm chúa Giêsu. Các “mục đồng” đi đến hát từng nhà (gọi là daygon). Các daygon thường ằng tiến Waray của Phi, nhưng có bài bằng tiếng Tây Ban Nhà trôn với tiếng thổ dân diglot. Vũ là một phần của dịp hò hát vui sướng này.
.
Vũ Sinakiki là một vũ điệu vui của đảo Rapu-Rapu, Albay. Thường biểu diễn trong các dịp lễ hội nhiều màu sắc của tộc dân này. Vũ điệu này biểu thị một chú gà trống theo đuổi nàng gà mái.
.
Vũ Kumakaret là một vũ điệu nói về việc tán tỉnh của dân vùng sasa, tình Dorungan, Pnagasinan, Dân vùng này làm rượu, giấm và kèn tuba.
.
Vũ La Jota là một jota (hát và vũ) của vùng Paoay, Ilocos Norte. Các vũ công ăn mặc như nông dân Ilocano của vùng này.
.
Vũ Banga hay Vũ Nồi (đất) là vũ của vùng núi Kalinga. Dân vùng này là chiến binh có tiếng. Các nồi đất mang trên đầu trong khi vũ và giữ thăng bằng, cũng như các cô làm thế khi đi múc nước hàng ngày.
Hôm qua, ngày 17 tháng 8 chúng ta có một tin thật buồn: “Trẻ em nhiễm HIV bị từ chối đến trường”. Mình rất sốc và chắc chắn các bạn cũng rất đau lòng vì tin này.
Joan Baez trong Freedom March, Washington DC 1963
Có lẽ thích hợp hôm nay, mình giới thiệu với các bạn bài hát “We shall overcome”, bài hát mạnh mẽ nhất trong thế kỷ 20.
Bài hát khởi đầu là bản thánh ca do mục sư Charles Tindley sáng tác tại một nhà thờ người da đen ở Philadelphia năm 1901, hát về sự vươn tới sự tốt đẹp bằng trái tim sâu thẳm của con người, với sự giúp đỡ của Thượng đế, giữa nỗi thống khổ của cuộc sống.
Freedom March, Washington DC 1963
Bài hát được hát vào cuối mỗi ngày đình công trong những năm tháng rét mướt để tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho công nhân nhà máy thuốc lá của Mỹ ở South Carolina vào năm 1945.
Tới những năm 1950s, bài hát là bản quốc ca của những người đấu tranh dân sự bình quyền cho những người da đen ở Mỹ, bằng phương cách bất bạo động.
Tháng 8 năm 1963, ca sĩ Joan Baez dẫn đầu đoàn 300 ngàn người đồng ca hát vang “We shall overcome” trong cuộc biểu tình dân sự lớn nhất thế kỷ 20, the March on Washington, đòi việc làm, hòa hợp trường học và chống kỳ thị với người da màu ở Mỹ.
Martin Luther King, Freedom March, Washington DC 1963
Ở cuộc biểu tình này, mục sư Martin Luther King đã đọc bản diễn văn nổi tiếng “I have a dream” về giấc mơ hòa hợp giữa những người Mỹ da đen và da trắng.
Năm 1972, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson dùng ngữ “We shall overcome” để nói với toàn nước Mỹ sau cuộc biểu tình bạo động “Bloody Sunday” đòi quyền dân sự, và hợp pháp hóa nhiều quyền lợi cho người da đen.
Ngày hôm nay, nước Mỹ đã có tổng thống đầu tiên người da đen, Barack Obama.
Bài hát đã đi vào dòng máu của dân Mỹ để vượt qua sự bất công, vượt qua những cơn bi kịch bằng sức mạnh của sự đoàn kết và trái tim trong sáng của con người. Khi đau buồn, từng câu từng chữ của bài hát mang sức mạnh ghê gớm. Có lẽ lời ngắn, đơn giản của bài hát là những từ ngữ mạnh mẽ nhất trong vốn tiếng Anh có thể có.
Tượng chúa Giêsu khóc, đài tưởng niệm nơi bị đánh bom ở Oklahoma, Mỹ
Sau vụ đánh bom khủng bố do một người da trắng ở Oklahoma năm 1995, nhiều nhà thờ khắp nước Mỹ hát “We shall overcome”.
Trong nhà thờ Unitarian Universalist ở Burlington Vermont vào năm 2007, mọi người nắm tay nhau hát bài hát này để chia sẻ sự cảm thông với đau buồn của chiến tranh ở Dafur, Sudan.
Bài hát cũng được dịch và hát lên ở Ấn Độ, phòng tráo chống kỳ thị ở châu Phi, Tiệp Khắc và nhiều nước khác trên thế giới.
Thánh giá tại đài tưởng niệm Oklahoma
Dưới đây là hai phiên bản của “We shall overcome” đều do ca sĩ Joan Baez hát.
Phiên bản 1 do chị hát ở đại hội nhạc Woodstock năm 1969, giữa đỉnh cao của phong trào phản đối cuộc chiến tranh Việt Mỹ.
Phiên bản 2 do chị hát rất ngẫu hứng vào tháng 7/2009 vừa rồi để gây quỹ cho ứng cử viên đảng Xanh. Ở bản 2, chị thay đổi lời bài hát thành các từ ngữ ủng hộ cho môi trường như “”We Do Not Need Disneyland”.
Lời nhạc theo sau videos.
Chúc các bạn một ngày khoan dung,
Hiển.
.
.
WE SHALL OVERCOME, Words and Music by Zilphia Hart., Frank Hamilton, Guy Carawan and Pete Seeger
We shall overcome,
We shall overcome,
We shall overcome, some day.
Oh, deep in my heart,
I do believe
We shall overcome, some day.
We’ll walk hand in hand,
We’ll walk hand in hand,
We’ll walk hand in hand, some day.
Oh, deep in my heart,
We shall live in peace,
We shall live in peace,
We shall live in peace, some day.
Oh, deep in my heart,
We shall all be free,
We shall all be free,
We shall all be free, some day.
Oh, deep in my heart,
We are not afraid,
We are not afraid,
We are not afraid, TODAY
Oh, deep in my heart,
We shall overcome,
We shall overcome,
We shall overcome, some day.
Oh, deep in my heart,
I do believe
We shall overcome, some day.
Có thể nói, các môn giải trí dân gian là một trong những yếu tố mang tính văn hóa truyền thống cao đẹp của mọi dân tộc. Sự tồn tại của nó đã đem lại cho con người những khoảnh khắc thăng hoa, giúp người già như trẻ lại, người lao động trở nên yêu đời hơn sau những giờ làm việc căng thẳng, và góp phần quan trọng trong việc giúp cho trẻ em có những giây phút thư giãn. Hôm nay mình muốn giới thiệu với các bạn đôi chút về nguồn gốc của trò chơi thả diều nhé:
Thú thả diều có nguồn gốc từ nghệ thuật làm mo vào thời cổ đại của người Trung Quốc. Nghe nói, chiếc diều đầu tiên xuất hiện là vào thời kỳ Xuân Thu (cách đây khoảng hơn 2000 năm) do người thợ có tên Lỗ Ban dùng gỗ chế tạo thành, thời đó cũng đã có sự xuất hiện của diều được làm bằng trúc và đến thời nhà Hán thì có sự xuất hiện của Diều được làm bằng giấy, được gọi là “纸鸢” tức “chỉ diên” (diều hình chim diều hâu), nhưng không được phổ biến rộng rãi cho lắm, do nghành giấy lúc này mới bắt đầu hình thành.
Vào thời cổ đại, cứ mỗi dịp tết Thanh Minh đến, sau khi đã làm lễ cúng bái tổ tiên, người dân Trung Quốc đều có phong tục thả diều. Người xưa cho rằng, thả diều có thể xua đuổi tà khí và những điều rủi ro, xúi quẩy. Họ ghi hết tên những loại bệnh dịch nguy hiểm lên trên thân diều, sau khi đã thả cho diều bay thật cao sẽ dùng kéo cắt đứt dây. Họ muốn nhờ gió đưa diều đến chân trời góc biển và đem theo những loại bệnh dịch này cách xa con người, tránh cho con cháu của họ thoát khỏi bệnh tật…Không những vậy diều còn được các nhà sư dùng với ý nghĩa cầu sự yên bình tốt lành, do đó mỗi lần diều rơi các nhà sư đều làm lễ cúng bái để xua đuổi tà khí và cầu an. Hay diều còn được coi là vật dâng hiến các đấng thần linh của vua và các quần thần trong những đêm trăng sáng….
Cùng với sự phát triển của thời đại, ý nghĩa của việc thả diều cũng dần dần thay đổi. Trong lịch sử, diều đã từng được dùng trong quân sự, hay để đưa tin tức…, có rất nhiều sử sách tư liệu đều nhắc đến việc khi quân của Hạng Vũ bị quân của Lưu Bang bao vây,tướng quân Hàn Tín (thời nhà Hán) đã dùng diều được làm bằng da trâu để thả lên trời, dựa vào độ dài của dây diều để ước tính khoảng cách đến Vị Ương Cung (nơi đang bắt giữ quân của Hạng Vũ)…
Đến giai đoạn giữa của nhà Đường (nền kinh tế lúc này phát triển phồn vinh ổn định), từ chức năng dùng trong quân sự diều đã được dùng trong việc giải trí, tiêu khiển…. Đồng thời cùng với sự phát triển của nghành giấy, nguyên liệu chế tạo diều từ gỗ, trúc, da trâu…cũng dần chuyển biến hoàn toàn sang chất liệu giấy. Diều đã dần dần đi sâu vào cuộc sống của người dân, và góp phần làm đa dạng, phong phú cho cuộc sống của họ.
Đến thời nhà Tống, diều được lưu truyền càng ngày càng rộng rãi hơn, trở thành trò chơi phổ thông của trẻ con. Đồng thời do nhu cầu của xã hội về diều càng ngày càng cao, nên việc chế tạo diều đã trở thành một ngành nghề được người dân công nhận.
Đến thời kì Minh Thanh, diều phát triển đến mức tột đỉnh. Từ kích cỡ, hình thức, kỹ thuật chế tạo, cách buộc dây lèo, nghệ thật hình họa, nghệ thuật âm thanh… đều tiến bộ vượt bậc so với các thời đại trước. Thời này đã bắt đầu dùng bản gỗ niên hoa để in các hình họa trên giấy làm thân diều, các nguyên liệu giấy thì rất đa dạng gồm: giấy thiếp, giấy chạm nổi, giấy tiễn…về âm thanh cũng có chuyển biến lớn, ở các thời đại trước chỉ dùng dây lèo mỏng gắn trên đầu diều, nhờ gió thổi sẽ phát ra âm thanh nghe giống tiếng đàn cổ, nhưng đến thời này thì người dân ở khu vực ven biển còn buộc thêm hồ lô…làm thành còi trên thân diều, khi thả diều sẽ phát ra âm thanh rất vui nhộn và to, cách đó vài mét đều có thể nghe thấy. Vào thời Minh Thanh cũng có rất nhiều văn học gia, họa gia đều lấy diều làm đề tài để sáng tác tác phẩm của mình, ví dụ như họa gia Từ Vị (Công nguyên 1521-1593) đã vẽ hơn 30 bức họa chuyên về diều và hiện các tác phẩm của ông vẫn còn được lưu giữ tại bảo tàng lịch sử Trung Quốc.
Tại Bắc Kinh, Thiên Tân, Sơn Đông, Tô Giang, Quảng Đông Dương Giang…là những nơi có nhiều xưởng sản xuất diều nổi tiếng của Trung Quốc. Các loại diều được chế tạo rất đa dạng, gồm có các loại hình họa về động vật như: gia cầm, sâu bọ, cá.. trong đó thường gặp nhất là hình chim yến, bướm, chuồn chuồn…cũng có các loại diều về các nhân vật thần thoại như Tôn Ngộ Không, hay các loại diều dạng chuỗi dài như hình con rết, hình rồng…Chế tạo diều, cần phải có nghệ thuật rất tinh xảo, người thả diều cũng cần phải có kỹ xảo riêng, có như vậy mới làm cho diều bay một cách vững trãi và tự do trên trời.
Thả diều hiện nay được coi là một hoạt động thể thao có lợi cho sức khỏe. Người dân Trung Quốc không chỉ coi thả diều là một hoạt động thể thao giải trí, mà còn dùng diều để treo trên tường, coi như một nghệ thuật trang trí và để thưởng thức. Hiên nay, diều của Trung Quốc đã được vận chuyển đến Nhật Bản, các nước Đông Nam Á, Âu Mỹ…và nhận được sự chào đón,ưa thích của rất nhiều người dân trên thế giới. Mấy năm gần đây, tại Sơn Đông hàng năm đều tổ chức lễ hội thả diều và có sự tham gia của rất nhiều nước trên thế giới, do đó, có thể coi Trung Quốc là quê hương và xứ sở của diều.
Ai yêu Đường thi cũng đều biết đến bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị.
Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu;
Mày chau tay gảy khúc sầu,
Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn.
Nhưng không mấy chúng ta thực sự nghe đàn tỳ bà, nhất là nghe nó một mình.
Đàn tỳ bà có một ngôi vị rất lớn trong văn học và thi ca Trung Quốc.
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỹ nhân hồi
(Lương Châu Từ của Vương Chí Hoán)
Dịch nghĩa:
Rượu bồ đào, chén dạ quang
Muốn uống nhưng tiếng tỳ bà đã giục lên ngựa
(Nếu) tôi nằm say trên chiến trường, bạn đừng cười
(Vì) xưa nay thời chiến chinh ai đi mà trở lại.
TDH
Đàn tỳ bà được xem là đàn Flamenco của Trung Quốc vì tỳ bà rất phổ thông trong âm nhạc truyền thống Trung Quốc, và cách biểu diễn, nhất là các tiếng rung nghe rất giống kỹ thuật tremolo của nhạc Flamenco.
Hôm nay chúng ta có ở đây bài Tỳ Bà Hành, qua lời dịch của Việt của Phan Huy Thực (có nơi ghi là Phan Huy Vịnh). Tiếp theo là lời tiếng Anh của Francis Chin; một bài dịch rất rõ nghĩa, đã đăng năm 1979 ở báo Business Times của Singapore.
Sau đó chúng ta có một số bản nhạc solo tỳ bà của Liu Fang, nhạc sĩ Trung Quốc, tuổi trẻ tài cao, danh cầm số một thế giới về tỳ bà. Tiếng đàn của Liu Fang khi vũ bão như sấm động, khi nhẹ nhàng như gió thoảng, khi nhức nhối như giọt lệ.
Liu Fang sinh năm 1974 tại thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Học tỳ bà năm 6 tuổi và 9 tuổi bắt đầu trình diễn. Năm 11 tuổi trình diễn cho Nữ Hoàng Anh Elizabeth khi bà qua thăm Trung Quốc năm 1985. Liu Fang cũng học thập lục huyền cầm, nhưng nổi tiếng ngày nay như là danh cầm tỳ bà số một trên thế giới. Năm 2001 chị được giải ‘Future Generation Millennium Prize’ của Hội Đồng Nghệ Thuật Canada, dành cho các nhạc sĩ dưới 30 tuổi. Chị đã trình diễn trên nhiều chương trình TV ở các nước trên thế giới. Đĩa Silk Sound của chị được giải Academie Charles Cros Award của Pháp (như là Grammy của Mỹ). Hiên nay chị ở Canada.
Sau các video trình diễn của Liu Fang là một bài viết nói thêm về Phan Huy Thực và bài dịch Tỳ Bà Hành, để các bạn cần tham khảo có thêm tài liệu.
Trước khi vào bài thơ Tỳ Bà Hành, Bạch Cư Dị có một lời giới thiệu về bài thơ. Lời này không thấy trong bản dịch tiếng Việt, nhưng có trong bản tiếng Anh của Francis Chin. Mình dịch lời giới thiệu này sang tiếng Việt, đặt trước bài dịch của Phan Huy Thực.
Kính mời!
Hoành
.
Giới thiệu (bởi Bạch Cư Dị)
Năm thứ mười đời Hoàng Đế Yuan Ho, tôi bị giáng chức và bị đày về huyện Jiu-jiang làm tùy viên. Mùa hè năm sau đó, khi tôi đang tiễn một người bạn ra đi, chúng tôi nghe trên thuyền bên cạnh có tiếng tỳ bà theo điệu nhạc kinh đô.
Hỏi thăm thì biết là người chơi đàn từng là một ca kỷ ở kinh đô ngày trước và ngày nay là vợ của một thương nhân. Tôi mời cô ấy qua thuyền tôi chơi nhạc. Cô ấy kể lại cho chúng tôi nghe chuyện đời cô và nỗi bất hạnh của cô. Từ ngày rời kinh đô đến nay tôi không hể thấy buồn, nhưng từ đêm hôm đó, tôi bắt đầu cảm nhận gánh nặng của cuộc đời đi đày của tôi. Vì vậy, tôi viết bài thơ 612 chữ này.
Say những luống ngại khi chia rẽ,
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.
Đàn ai nghe vẳng bên sông,
Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.
Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá?
Dừng dây tơ nấn ná làm thinh
Dời thuyền ghé lại thăm tình,
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.
Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ,
Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua,
Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng hay.
Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu;
Mày chau tay gảy khúc sầu,
Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn.
Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt,
Trước Nghê Thường sau thoắt Lục Yêu,
Dây to dường đổ mưa rào,
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng.
Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy,
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu,
Trong hoa oanh ríu rít nhau,
Nước tuôn róc rách, chảy mau xuống ghềnh.
Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt,
Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ;
Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ,
Tiếng tơ lặng ngắt, bây giờ càng hay.
Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,
Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao;
Cung đàn trọn khúc thanh tao,
Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.
Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,
Một vầng trăng trong vắt lòng sông;
Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,
Áo xiêm khép nép hầu mong giãi lời.
Rằng: “Xưa vốn là người kẻ chợ,
Cồn Hà Mô trú ở lân la;
Học đàn từ thuở mười ba,
Giáo phường đệ nhất chỉ đà chép tên.
Gã thiện tài so phen dừng khúc,
Ả thu nương ghen lúc điểm tô,
Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua,
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn.
Vành lược bạc gãy tan dịp gõ,
Bức quần hồng hoen ố rượu rơi;
Năm năm lần lữa vui cười,
Mải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu.
Buồn em trảy, lại lo dì thác,
Sầu hôm mai đổi khác hình dong;
Cửa ngoài xe ngựa vắng không,
Thân già mới kết duyên cùng khách thương.
Khách trọng lợi khinh đường li cách,
Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi;
Thuyền không, đậu bến mặc ai,
Quanh thuyền trăng giãi, nước trôi lạnh lùng.
Đêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ,
Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen”.
Nghe đàn ta đã chạnh buồn,
Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời:
“Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau,
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.
Chốn cùng tịch lấy ai vui thích,
Tai chẳng nghe đàn địch cả năm:
Sông Bồn gần chốn cát lầm,
Lau vàng, trúc võ, âm thầm quanh hiên.
Tiếng chi đó nghe liền sớm tối:
Cuốc kêu sầu, vượn hót véo von;
Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn,
Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng.
Há chẳng có ca rừng, địch nội?
Giọng líu lo buồn nỗi khó nghe.
Tỳ bà nghe dạo canh khuya,
Dường như tiên nhạc gần kề bên tai.
Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca”.
Đứng lâu dường cảm lời ta,
Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây.
Nghe não nuột khác tay đàn trước,
Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi;
Lệ ai chan chứa hơn người?
Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh.
(Người dịch: Phan Huy Vịnh
Xuất bản: Thơ Đường (tập 1) – NXB Văn học, 1987)
.
The Song of the Pipa
Introduction
In the 10th Year of Emperor Yuan Ho, I was banished and demoted to Jiu-jiang district as an assistant official. In the summer of the following year, as I was seeing a friend off, we heard from a neighbouring boat a pipa [four-string lute] played in the style of the Capital.
On inquiry, I learnt that the player used to be a sing-song girl from the Capital who was now married to a merchant. I invited her to my boat to play for us. She also related to us her story and unhappiness. Since my departure from the Capital I had not felt sad; but since that night, I began to feel the weight of my exile. So, I wrote this poem in 612 words:
By the head water of the Hsin-yang River
Where maple leaves and reeds sigh in the autumn wind,
I said goodbye to a friend departing in the night.
When I got down from my horse, my guest was already in the boat.
Silently, we lifted our cups for a final farewell toast
But the wine could not soothe our sadness
That rose with the rising tide and flooded the moon.
Suddenly we heard a pipa across the water.
I, the host, forgot my return, the guest the journey on.
In the darkness we asked for the player.
The music broke off, whoever wishing to reply seemed uncertain.
So we re-lit the lamp, reset our table with food and wine,
And moved our boat nearer, hoping to see the player.
But only after much urging did she appear
Still clutching her pipa that half-covered her face.
She turned the pegs and tested the strings
And as she strummed we could sense her deep feeling
For every note was heavy with thought
Telling a sorrowful tale of life.
With lowered brows and sure hands, she poured into the music
The limitless depths of her heart.
She plucked the strings, brushed them and swept on…
With a song of the Rainbow Skirt and the Six Little Ones.
The major chords chanted like falling rain,
The minor chords whispered secrets,
In a delightful medley
Like the clinking of pearls on a jade plate,
Like the notes of a nightingale among flowers,
Like the singing of a brook as its water rushed the bank.
A cold touch suddenly froze the music,
And in the silence we heard her innermost sorrow
For now the stillness told more than any music could.
A silver jar shattered and water gushed out,
And armoured horsemen clashed in their fighting gear.
Once more she swept all four strings like the tearing of silk.
East and west, the boats were hushed by her music,
While the autumn moon rose white above the water.
Finally she inserted the peg under the strings,
Adjusted her clothes, composed herself and told her story:
“I was a girl from the Capital,
living at the foot of the Hsia-mo Hill.
At thirteen, I had already mastered the pipa
and critics praised me as the best player ever.
I was familiar with the tunes of popular songs and dances
And my talent and beauty made many girl envious.
The young men of the city competed for my favours.
One song could bring me rolls of silk,
Jewelled hairpins and silver combs.
My clothes too were often crimsoned with wine.
Year after year, the feasting and laughter went on,
As autumn changed to spring in carefree abandon.
“Then my brother left for the Army and my aunt died.
Evening and morning passed and my beauty waned.
At last, no longer young, I was married to a merchant.
But he cares more for his business than his wife.
Last month, he left for Fouliang town to buy tea
Leaving me to look after an empty boat.
With only the moon and cold river for companions.
In the deep of the night, I dreamt of my girlhood
But the happy memories hastened my tears.”
When I heard her playing the pipa, I sighed
When I heard her story, I became sadder still.
“There are no strangers on the world’s horizon,
Meeting and sharing the same fate,
What does past acquaintance matter?
“A year ago, I left the Capital
To become a sick exile in this town.
The place is so forsaken there is no good music.
For an entire year I heard nothing of string or pipe.
My house near the river is low and damp,
Surrounded by reeds and rushes.
Morning and night, all I hear
Are the blood-cuddling cuckoo calls and the cries of apes.
“In spring mornings among the flowers
And under a moon in autumn nights,
I would bring wine, only to drink alone by the river.
There are mountain songs and village piping
But they cut my ears with their grating sound.
Tonight, hearing you play the pipa
Is like listening to fairy music from afar.
Don’t go just yet, but play us another tune
And I will compose the words of a song for you.”
Moved by my words she stood for a moment,
Then sitting down she began strumming anew.
But the forlorn notes were different from before
And everyone listening could not hold back their tears.
Who among them was most affected?
The author, a junior official, with his blue sleeves wet.
Translated by Francis Chin,
published June 9, 1979 in Business Times newspaper, revised May 24, 2008 for the Web
.
Bản này có nhan đề “Vua Chu cởi chiến bào” (King Chu doffs his armour — Ba Wang Xie Jia), là một bản nhạc tỳ bà truyền thống. Nói lại một câu chuyện thương tâm xảy ra năm 202 trước công nguyên.
.
Bản này tên là “Tuyết bay làm đẹp ngàn thông” (Swirl snow decorating the evergreen — Fei Hua Dian Cui). Đây là một bản nhạc rất nhẹ nhàng, ngược với các bản nhịp quân hành (như bản trên).
.
Bản này gọi là Trên Nhịp Vũ (On a theme to dance — Ge Wu Yin), do Liu Tianhua (1895-1932) viết. Video này là trình diễn tại hội chợ TFF Rudolstadt ngày 9 tháng 7 năm 2006, do German TV (ARD1) phát sóng.
.
Bản này Liu Fang biểu diễn cùng tiếng trống của Ziya Tabassian. Nhan đề Đêm lễ hội lửa trại (The night of bonfire festival) do Wu Junsheng soạn trong thập niên 1980s cho tỳ bà solo, thu hình buổi trình diễn ngày 27 tháng 3 năm 2002.
Gần đây do một sự tình cờ chúng tôi phát hiện được một bài viết có nhan đề “Tỳ bà hành bạt” chép chung trong cuốn Nam phong giải trào ở Thư viện Quốc gia (R1674). Bài dài khoảng 450 chữ. Sau lời bạt là nguyên văn chữ Hán bài “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị và lời dịch ra quốc âm. Đáng chú ý là bài viết có ghi cụ thể dòng lạc khoản “Minh Mệnh thập nhị niên ngô nguyệt trung hoán. (Hà ái) Nhâm Ngọ Hội nguyên Tiến sĩ Hình bộ Thị lang sung biện Nội các sự vụ Phương Trạch Hà Tốn Phủ cẩn bạt”. Hà Tốn Phủ chính là Hà Tông Quyền bạn đồng liêu với dịch giả bài Tỳ bà hành mà ở đoạn đầu lời bạt ông đã giới thiệu dịch giả là “Cựu Bộ trưởng Xuân Khanh” (Tên hiệu Phan Huy Thực).
Hà Tông Quyền (1789-1893) quê huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, đỗ Hội nguyên năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), lúc nhỏ đi học nổi tiếng thông minh, làm quan đến chức Lại bộ Tham tri, Sung đại thần Viện cơ luật, khi mất được truy tặng Thượng thư bộ Lại. Ông là một nhà khoa bảng nổi tiếng văn chương, được các sĩ phu đương thời ca ngợi. Ngoài thơ chữ Hán ông còn để lại 30 bài vịnh Kiều bằng chữ Nôm hưởng ứng cuộc thi vịnh Kiều do Minh Mệnh đề xướng năm 1830. Ông được Minh Mệnh tin dùng và thường xuyên được vào bái kiến nhà vua.
Trong lời bạt ông ca ngợi và đánh giá cao bài dịch “Tỳ bà hành” của họ Phan, đồng thời ông cũng nêu lên quan điểm về dịch thuật của mình là không nên quá chú trọng về mặt kỹ xảo mà làm sai lạc nội dung của nguyên tác. Qua lời bạt chúng ta còn được biết thêm về thời điểm ra đời của bản dịch (trước năm 1831).
Thực ra từ trước tới nay đã có nhiều người đề cập đến địch giả bài “Tỳ bà hành” nổi tiếng của Bạch Cư Dị. Ngay từ năm 1926 Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến cũng đã thông báo trên tạp chí Nam Phong dịch giả “Tỳ bà hành” là Phan Huy Thực. Tiếp đó Hoàng Xuân Hãn, Hoàng Ly, Trương Linh Tử và sau này Phạm Văn Diêu, Tạ Ngọc Diễn, Hoàng Thị Ngọ cũng khẳng định như vậy. Khi viết về dòng họ Phan Huy ở Sài Sơn, GS. Phan Huy Lê cho biết gia phả họ Phan ở Thạch Châu và Sài Sơn đều chép thống nhất người dịch “Tỳ bà hành” là Phan Huy Thực. Chúng tôi cũng đã được đọc cuốn Phan tộc công phả hiện đang lưu giữ ở Thư viện Quốc gia (A2963) do Phan Huy Dũng – cháu nội Phan Huy Thực biên tập, trong đó có ghi tóm tắt tiểu sử 6 người con của Phan Huy ích. Trong đoạn nói về Phan Huy Thực, gia phả có ghi rõ các trước tác của ông như: Hoa thiều tạp vịnh, Tỳ bà hành diễn âm khúc, Nhân ảnh vấn đáp… Riêng đối với Phan Huy Vịnh thì gia phả không hề nói đến việc ông dịch “Tỳ bà hành”.
Như vậy gia phả họ Phan Huy là nguồn tư liệu duy nhất đáng tin cậy để xác định người dịch Tỳ bà hành và đồng thời cũng để đính chính những ngộ nhận lâu nay được gán ghép cho Phan Huy Vịnh. Sở dĩ có sự nhầm lẫn kéo dài có lẽ là do nguồn tư liệu của Trần Trung Viên trong cuốn Văn đàn bảogiám (soạn năm 1926) và nhất là cuốn Thi văn hợp tuyển dùng trong các trường trung học trước năm 1945 đã có ảnh hưởng sâu rộng trong giới học sinh lúc bấy giờ. Hai cuốn sách này gần đây đã được in lại vài ba lần nhưng vẫn không được đính chính, ngay cả bộ Từ điển văn học 2 tập in năm 1983-1984 cũng ghi Phan Huy Vịnh là người dịch “Tỳ bà hành” và Phan Huy Thực không có tên trong bộ Từ điển này (Cuốn Từ điển văn học bộ mới in năm 2004 đã có đính chính và bổ sung). Vì đã thành thói quen nên những cuốn sách mới gần đây như Thơ Đường trong nhà trường dùng cho học sinh Trung học, sinh viên và người yêu thích thơ Đường hoặc cuốn Bạch Cư Dị – Tỳ bà hành của Hồ Sỹ Hiệp tập hợp những bài viết của nhiều nhà nghiên cứu và cuốn Thơ Bạch Cư Dị của NXB Hội Nhà văn vừa mới in xong trong quí IV-2006, vẫn để tên người dịch là Phan Huy Vịnh.
Để góp thêm một minh chứng cho vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu toàn văn lời bạt của Hà Tông Quyền cho bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực.
*
Lời bạt cho bài dịch “Tỳ bà hành”
“Tỳ bà hành” là tác phẩm của Bạch Lạc Thiên, các sĩ phu nước ta rất hâm mộ và đã diễn ra quốc âm, nhưng vì lời văn dài mà ngôn ngữ lại có phần mới nên đôi khi vẫn gặp những chỗ khó dịch và người dịch thường giữ lấy ý chính mà lại bỏ qua nhiều chi tiết trong nguyên bản. Khi dịch một bài văn nếu chỉ chú ý về mặt kỹ xảo (cầu công) mà không bám sát nội dung của nguyên tác thì có khác gì “gãi không đúng chỗ ngứa” và thử hỏi như vậy đã phải là người hiểu được thi sĩ họ Bạch chưa?
Khi tôi tiếp xúc với bài diễn âm của cựu Bộ trưởng Xuân Khanh họ Phan, tiên sinh bảo: Đó là bài tôi dịch ra đấy. Khi xem tôi thấy lời dịch bám sát nội dung, từng chữ từng câu răm rắp không sai mà âm vận thì lại vừa khoan thai vừa hùng tráng. Tôi đã ngâm nga, đọc đi đọc lại nhiều lần và rất lấy làm tâm đắc tưởng như đang được tiếp xúc với thi nhân cự phách đời Đường – người đang bị biếm trích ở đất Giang Châu trước cảnh thê lương của hơi thu và lau lách đìu hiu để tạo nên một thiên tuyệt bút, như đang được chứng kiến cảnh:
“Bình bạc vỡ tuôn đầy mặt nước Ngựa sắt dong sàn sạt tiếng đao” [1]
Tiên sinh đã diễn ra quốc âm trong lúc chưa gặp vận còn đang phải ẩn náu nơi sơn dã, chẳng khác cảnh sông Bồn và đã mượn chén rượu của người khác để giải nỗi sầu riêng, nếu không phải là người có thiên tư và chịu ảnh hưởng truyền thống học vấn của gia đình thì làm sao mà có được? Tiên sinh vốn sở trường về văn chương, thanh luật, nên âm vận trong câu dịch hài hoà toát lên cảnh phong lưu tao nhã, xứng đáng cùng với Lạc Thiên là những bậc hào hoa một thủa. Có những chỗ Lạc Thiên chưa diễn đạt hết thì tiên sinh lại dùng thanh âm mà giãi bày một cách tường tận.
Tôi thô vụng và quê mùa, không biết được nhiều, nhưng bề trên đã bảo, tôi không dám từ nan, bèn mạo muội viết ra lời bạt này và nếu như tác phẩm của tiên sinh nổi tiếng thì tôi cũng được thơm lây và cũng coi như được dự buổi tiễn đưa trong đêm trăng trên bến Tầm Dương để được cùng chia sẻ nỗi niềm u hoài của kẻ cô thần khoáng phụ, như thế còn gì sung sướng cho hơn, chắc tiên sinh cũng không cười tôi là kẻ ngông cuồng và Bạch Lạc Thiên cũng sẽ thông cảm cho tôi.
Trung tuần tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 12 (Hà ái) Nhâm Ngọ Hội nguyên Tiến sĩ Hình bộ Thị lang sung biện Nội các sự vụ Phương Trạch Hà Tốn Phủ cẩn bạt.
*
Qua lời bạt ta thấy Hà Tông Quyền đánh giá rất cao bài dịch của Phan Huy Thực. Trước Phan Huy Thực cũng đã có người dịch “Tỳ bà hành”. Trên tạp chí Văn học số 4/1975, Trần Thị Băng Thanh cho biết đã tìm được một bản dịch chép trong cuốn Thạch Động tiên sinh thi tập. Sau Phan Huy Thực, Phan Văn Ái cũng dịch “Tỳ bà hành” thành hai bài: một bài theo thể thất ngôn trường thiên, một bài theo thể thất ngôn bát cú. Trên tạp chí Nam Phong thỉnh thoảng cũng có sưu tầm được một vài bài dịch không đề tên người dịch. Tuy nhiên những bài xuất hiện trước và sau bản dịch của Phan Huy Thực đều không có mấy tiếng vang và đã nhanh chóng bị quên lãng. “Tỳ bà hành” được phổ biến rộng rãi và xem như một di sản văn học quí giá của Việt Nam chủ yếu là thông qua bản dịch của Phan Huy Thực. Nghệ thuật hát ca trù tồn tại đã lâu đời và từ khi có bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực thì nó đã lan nhanh và đã trở thành một điệu hát trữ tình, giàu chất thơ, nhạc điệu, làm phong phú và bổ sung thêm cho hàng chục làn điệu ca trù khác trong các ca quán thời xưa. Những người mê ca trù trước đây thường thuê thuyền đón ả đào hát “Tỳ bà hành” trong những đêm trăng huyền ảo để thưởng thức và làm sống lại nguồn cảm xúc của nhà thơ với người ca nữ trên bến nước Tầm Dương.
“Tỳ bà hành” không những là nguồn cảm hứng cho những nhà Nho tài tử và các bậc tao nhân mặc khách trước đây như Nguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh… mà cả những thi nhân hiện đại cũng mượn trăng nước Tầm Dương đưa vào tác phẩm của mình. Nhà thơ tình Xuân Diệu thì “Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người” hoặc “Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi”, Vũ Hoàng Chương cũng than “Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu”, nữ sĩ Ngân Giang thì “Bến Tầm Dương trăng nước một con thuyền, ngán tình canữ” và nhà thơ chân quê Nguyễn Bính thì dành Cây đàn tì bà cho một chuyện thơ dài.
Bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực là một kiệt tác đã có những câu thần bút làm say đắm bao thế hệ các nhà thơ. Xuân Diệu cũng đã phải thốt lên: “Ai đã đọc bản dịch ‘Tỳ bà hành’ quên những đoạn nào thì quên, thậm chí nếu quên cả bài, thì bốn câu mở đầu cũng không quên được”.
Bốn câu mở đầu đó là:
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti
Nguyễn Hiến Lê cũng có nhận xét như sau khi ông so sánh mấy câu trên đây với câu thơ của Bạch Cư Dị:
“Mới đầu chúng ta thấy có cái gì khác nhau, mặc dù cũng bảy chữ và bản dịch rất sát nguyên bản: Tầm Dương giang đầu dạ tống khách không buồn, không vắng vẻ, không mông lung bằng Bến TầmDương canh khuya đưa khách. Tôi có cảm tưởng như vậy, có lẽ do chữ dạ dịch ra là canh khuya. Dạ (đêm) không gợi ý nhiều bằng canh khuya. Tài năng của họ Phan, tinh thần của tiếng Việt ở chỗ đó.
Đọc câu thơ thứ hai: Phong diệp địch hoa thu sắt sắt và câu dịch Quạnh hơithu lau lách đìu hiu thì câu của họ Phan làm tôi rung động hơn nhiều nhờ những chữ lau lách đìu hiu, cả chữ quạnh, chữ hơi nữa, vì tôi thấy lau lách buồn hơn địch hoa;hơi thu, đìu hiu gợi cảm hơn là thu sắt sắt.
Bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực là một tác phẩm toàn bích, và có lẽ cũng vì thế mà Tản Đà tài hoa cũng không dịch lại bài này và nhà thơ đã chọn một bài trường thiên nổi tiếng khác của Bạch Cư Dị là bài “Trường hận ca” và ông cũng đã thành công.
(Tác giả hiện làm việc tại Hội Ngôn ngữ học Việt Nam.)
[1]Lấy hai câu dịch của Phan Huy Thực để điển đạt ý “ngân bình thiết kỵ”.
Buôn Tuor Sra ( xã Nâm ka, Huyện Lăk, Đăk Lăk) là một vùng dân cư hỗn hợp, do những cuộc hôn nhân giữa nhóm tộc người Mnông Gar và người Êđê- Bih thuộc vùng Krông Nô mà hình thành.Địa bàn cư trú cũng nằm giữa trục giao lưu thông thương giữa huyện Lăk ( tỉnh Đăk Lăk ) và huyện Krông Nô( nay thuộc tỉnh Đăk Nông). Chính vì điều này mà cư dân trong buôn ứng xử theo phong tục tập quán của cả hai dân tộc Êđê và Mnông.
Đã cuối năm, mưa dứt hẳn. Dáng núi Nâm Ka in rõ nét trên bầu trời xanh ngăn ngắt.Màu đỏ ngầu của phù sa trên dòng Krông Knô nhạt dần. Dòng nước cũng không còn hung hãn cuồn cuộn đe doạ nữa, mà từ từ trở lại trong xanh, hiền hoà hẳn. Cà phê, lúa, bắp, đậu…đều đã ngoan ngoãn nằm im trong các chòi kho của mọi nóc nhà trong những buôn quanh chân núi Nâm ka. Dường như chúng cũng bằng lòng rủ nhau cùng nghỉ ngơi, sau những tháng ngày vật vã trên cành, ngoài đồng, giữa rẫy, chống chọi cùng mưa ,nắng và gió đại ngàn, để chín dần mà đem no đủ đến cho con người .
Nhà nhà trong buôn Tuôr Sra đều đã làm xong lễ đóng cửa kho lúa hoặc lễ ăn cơm gạo mới.
Ama Ben người Êđê Bih, vợ anh là người Mnông Gar. Đã học xong Trung học sư phạm ở tận ngoài thành phố Buôn Ma Thuột, lại ở riêng, nên Ama Ben không mấy chịu sức ép vì những tập quán và tín ngưỡng truyền thống của gia đình. Nhưng lần này thì anh phải nghe lời cha.
Về làm giáo viên trường tiểu học của xã đã được hai năm, công đoàn trường vừa ưu tiên cho anh được vay tiền của ngân hàng để mua chiếc xe máy đi dạy, đi họp cho thuận lợi ( Buôn Tuor Sra nằm ngay trung tâm xã, nhưng lại ở bên này con sông Krông Knô, nên việc đi lại khá khó khăn). Hai năm qua, cả gia đình anh trúng mùa lúa nước hai vụ. Đã không phải lo cái ăn giáp hạt, lại nhờ giá cà phê tăng, bán cũng được kha khá, có chút tiền để dành. Vợ chồng đã ra ở riêng, nên nhà Y Hung sắm được chiếc Tivi từ lâu, nay lại vừa mua thêm một bộ salon tiếp khách cho đàng hoàng. Với người ở vùng sâu, vùng xa cách trở như Tuor Sra và mấy Uôn quanh đây, thế này là nhà thày giáo “ hên” lắm. Chính vì vậy mà cha anh khuyên phải tổ chức một lễ tạ ơn các vị thần linh đã đem may mắn tới và xua đuổi cho gia đình những điều xui xẻo.
Từ mấy hôm trước , cả hai bên gia đình nội ngoại đều đã tất bật với công việc chuẩn bị cho lễ Chraih, nhất là làm rượu cần và kiếm các con thịt . Già làng Ama Huê của buôn Tuôr Sra, già làng Ama Biêng của buôn Boch…cùng mấy già làng cao tuổi khác, đã được mời đến bàn bạc. Khó ở chỗ là hai gia đình – hai tộc người khác nhau. Họ đã cùng chung sống như thế nhiều năm, không hề có chuyện phân biệt người Mnông, hay người Êđê. Gia đình nào muốn làm theo lệ tục nào thì làm. Thế nhưng lần này là nhà thày giáo, vừa cúng tạ ơn lại còn cúng xả xui nữa… làm sao cho đúng phong tục đây?
Hết mấy đêm gật gù bên vài ba ghè rượu cần, cuối cùng các già làng và cha cũng cho gọi vợ chồng Ama Ben tới, để nói cho rõ. Lễ Chraih này là mừng cho hai người thuận hoà, nên việc làm ăn mới phát triển, mua sắm được vật dụng đắt tiền cho gia đình. Do đó sẽ phải làm theo phong tục cả hai bên. Ở trong nhà, thày cúng – MJâo – sẽ làm lễ tạ ơn theo tập tục và cúng bằng tiếng Êđê. Còn thày bói – Jưr – sẽ làm lễ xin xả xui ngoài bờ sông, theo tập tục và cúng bằng tiếng Mnông. Do vậy mà lễ vật hiến sinh ngoài các con vật heo, gà, sẽ còn có cả con chó để làm vật xả xui. Làm sao phải đủ gạo thịt và rượu để lo cho ba phần : Cúng các Yang, đãi đằng bà con ăn tại chỗ và xẻ chia cho họ mang về nữa.
Các già làng đã cùng thoả thuận xong. Cả buôn và hai dòng họ xúm vào giúp lo cho vợ chồng Ama Ben. Ai đi mời khách gần khách xa thì đi. Ai vô rừng kiếm rau thì kiếm. Ghè rượu nhà nào mang tới góp cũng được buộc quanh Gơng giữa nhà. Ai có gì góp nấy : con gà, nắm gạo, gùi củi, lẫn mớ rau môn thục, trái đu đủ… Tiếng gà quang quác, heo eng éc lẫn trong tiếng chó sủa ăng ẳng đầy sân, khiến lũ heo, gà, chó trong buôn cũng nháo nhác gào nhặng xị cả lên.
Sương vừa tan trên mặt sông Krông Nô, cả thày cúng và thày bói đều đã có mặt ở nhà gia chủ. Những vị trung niên được phân công làm những con thịt hiến sinh cũng đã hoàn tất công việc của mình. Rượu lấy dâng các thần linh đã được thày cúng hút ra từ những chiếc ghè lớn nhất. Rượu huyết heo đựng trong bát đồng, Mjâo nhận lấy . Rượu huyết chó đựng trong vỏ bầu khô đã lên nước đen bóng, được giao cho Jưr.
Trong phòng, thày cúng Mjâo ôm một con gà trống sống ngồi trước mặt hai vợ chồng Ama Ben, trước mặt họ là chén rượu huyết, chén nước uống và những đĩa thịt heo bóp huyết đỏ hồng, chiếc đầu heo, con gà luộc vàng ươm, chén cơm trắng muốt, thuốc, trầu cau…đủ mỗi thứ một ít. “Ơ yang Atâo ! Yang Hruê, Yang Cư, Yang êlăn…Wit kơ buôn, wit kơ sang… Cơm thịt này Yang ăn, rượu này Yang uống…”. bằng tiếng Êđê, Mjâo bắt đầu gọi mời, kể lể. Nào là cảm tạ các Yang đã thương mà cho vợ chồng Ama Ben không chỉ cái chữ về dạy dỗ con cháu trong buôn, mà còn lúa , bắp đầy kho, cà phê bao đầy bao chất chồng… nhờ các Yang mà họ có tivi thấy được việc khắp mọi nơi, có xe máy đi về nhanh hơn con cáo chạy qua rừng; nay lại mới có thêm bộ bàn ghế đẹp nhất làng…Bơi hơi, Yang….! Ông nhúng miếng bông gòn vào chén rượu huyết, bôi lên chân Ama Ben ba lần. Nâng con gà lên quay ba vòng, lại lầm râm khấn vái trong tiếng chiêng sầm sập, sầm sập ở nhà ngoài. MJâo đứng dậy mang chén rượu huyết đi bôi lên thành bếp, cột nhà, cột kho lúa, lên cả những bao cà phê chồng chất nơi góc nhà. Vợ chồng Ama Ben nhón tay lấy một miếng cơm, mỗi thứ thức ăn một miếng. Vậy là xong nghi lễ , các Yang linh thiêng đã nhận tạ ơn, đã ban phước cho mùa sau cũng yên ổn làm ăn. Gia chủ cũng đã nhận phước lành của các Yang. Con gà trống là phần của Mjâo được mang về nhà.
Thày bói Jưr bây giờ mới bắt đầu phận sự của mình. Ôm bầu rượu huyết chó, ông dẫn Ama Ben và vài người nhà, mang theo trong chiếc gùi 1 tô thịt, một bát cơm, một chai rượu , 4 chiếc chân và đầu chó. Trong gùi còn có một nắm muối gói trong lá, một bộ quần áo cũ của chủ nhà, một gói hạt ngải, một chiếc cung và tên. Ra đến bờ sông, mấy người nhanh chóng dùng tre nứa dựng một chiếc bàn nhỏ để Jưr bày các thứ đồ cũng mang theo. Tất cả ngồi xổm quanh dàn cúng. Giọng khàn khàn của Jưr vang vang trên bờ sông vắng lặng, hoà lẫn trong tiếng u u của gió đại ngàn quật vào những đám cây cối xung quanh, nghe thật hoang dại và thần bí. Những con sóng vỗ bờ cát oàm oạp như có ma lực nào xô đẩy. “Ơ hồn mẹ hồn cha, hồn đất, hồn sông Krông Nô, núi Nâm Ka…Đây là cơm Ama Ben, lúa trên rẫy Ama Bu. Hãy nhận lấy mà xua đuổi cho họ mọi xui xẻo . Ơ Yang !”….Ông bắn mũi tên xuống sông, rảy muối về bốn hướng, rồi đập cho bẹp chiếc gùi. Sau đó đeo gói hạt ngải vào người Ama Ben, dùng rượu huyết chó bôi lên quần áo anh rồi bảo xuống sông tắm gội , rửa sạch những xui xẻo trong năm.
Ama Ben ở dưới sông lên, Jưr rẩy nốt chỗ muối còn lại, bôi hết rượu huyết chó lên người chủ nhà và khấn vái lần nữa. Bưng theo chiếc đầu chó và bầu rượu huyết, Ama Ben lội ra giữa dòng, thả trôi sông những thứ mang theo, kể cả quần áo đang mặc trên người (chỉ còn lại chiếc quần đùi), rồi lên bờ. (Xa xưa, các gia đình giàu có cúng xả xui bằng trâu, dê…hay bất cứ loài bốn chân nào, cũng đều phải đem đầu của con vật hiến sinh thả trôi sông sau khi cúng như thế).
Jưr và những người giúp lễ cùng đi ngồi tại chỗ ăn uống hết số rượu thịt còn lại, rồi mang những thứ gì còn để bên cạnh dàn cúng (gùi, chén đựng đồ ăn…) vứt hết xuống sông. Họ cùng nhau ra về. Nghi lễ xả xui vậy là xong. Các Yang đã nhận lễ, đã nhận lời không mang xui xẻo đến trong năm tới cho vợ chồng nhà Ama Ben.
Tiếng chiêng lan lan trong khắp buôn, mừng cho vợ chồng thày giáo năm tới cũng sẽ gặp nhiều may mắn. Rượu chảy rong róc trong cần, mùi con thịt nướng thơm tràn cả trong gió. Vui quá, vui quá! Không sót một ai trong buôn không đến chia xẻ cùng gia đình Ama Ben.
Khi một người nào đó hỏi về vai trò của tình bạn trong cuộc đời bạn, bạn sẽ trả lời sao? Một điều chắc chắn là không ai trong chúng ta coi nhẹ giá trị của tình yêu và tình bạn trong cuộc đời mình.
Có một bạn của Nhạc Xanh gửi cho mình câu hỏi nêu trên và một yêu cầu về Nhạc Xanh với ý rằng mình “hơi thiên về tình yêu khi post hơi nhiều tình ca mà ít quan tâm đến tình bạn”. Hôm nay xin được trả lời bạn trên chuyên mục này. Câu trả lời của mình rất đơn giản: Thiếu tình yêu và tình bạn thì cũng không có hạnh phúc. Tình bạn, như thế, còn quí giá với chúng ta hơn vàng hoặc kim cương, bởi hai thứ này không chắc mang lại cho ta hạnh phúc nếu thiếu đi tình yêu và tình bạn.
Ngay từ thời cổ đại những Aristotle (384- 322 BC), Epicurus (341-270 BC), và Cicéron, sử gia nổi tiếng thời La Mã cổ đại cũng đã khẳng định vai trò của tình bạn:
“Frienship ís one soul dwelling in two bodies. (Aristotle, triết gia Hi Lạp cổ đại)
Tình bạn là một tâm hồn trong hai thể xác.
“Of all the means which wisdom gives us to ensure happiness throughout ours lives, by far the most important is friendship”. ( Epicurus, triết gia Hi Lạp )
Trong tất cả các cách thức mà sự hiểu biết đem lại cho ta nhằm bảo đảm hạnh phúc trong cuộc đời, quan trọng nhất là tình bạn.
“ Friendship redoubles joys and cut grieves in halves”.
Tình bạn nhân đôi niềm vui và giảm đi một nửa nỗi buồn (Francis Bacon, 1561- 1626, triết gia và chính trị gia Anh)
Những câu nói sau đây cũng là những câu nói hay về tình bạn mà mình yêu thích:
“ A single rose can be my garden… a single friend, my world.” ( Leo Buscaglia) Chỉ một đóa hồng cũng đủ là một khu vườn cho tôi, … một người bạn, là thế giới của tôi.
A friend hears the song in my heart and sings it to me when my memory fails. ( Anonymous)
Bạn là người nghe được bài ca trong tim tôi, và hát lại cho tôi, khi trí nhớ của tôi đã mòn.
Hôm nay chúng ta cùng nhau nghe mấy ca khúc về tình bạn qua nhiều giọng hát với lời chúc bạn luôn có mặt trời của tình bạn cho mỗi ngày trong đời mình
1. THE FRIENDSHIP SONG- FRIENDS ARE QUIET ANGELS (Molly Pasutti )
.
Friends are quiet angels
Who lift us to our feet
When our wings have trouble remembering how to fly
They stand by us and give us
the strength to try
Friends are quiet angels
Who somehow make you see
The light that’s in the darkness
before the dawn
All at once the journey’s not so long
But it’s the laughter and the fun
Sometimes the feeling that we’re one
All the tears we cry together you and I
That will keep us heart to heart
as time goes by
Friends are quiet angels
Who fill your life with grace
Thrilled to share your joy
when a dream comes true
And on this special day
I’m blessed ’cause I can say
I’ve found a quiet angel
You’re a special angel
I found a quiet angel in you
Yo, I’ll tell you what I want, what I really really want,
So tell me what you want, what you really really want,
I’ll tell you what I want, what I really really want,
So tell me what you want, what you really really want,
I wanna, I wanna, I wanna, I wanna, I wanna really
really really wanna zigazig ha.
If you want my future forget my past,
If you wanna get with me better make it fast,
Now don’t go wasting my precious time,
Get your act together we could be just fine
I’ll tell you what I want, what I really really want,
So tell me what you want, what you really really want,
I wanna, I wanna, I wanna, I wanna, I wanna really
really really wanna zigazig ha.
If you wanna be my lover, you gotta get with my friends,
Make it last forever friendship never ends,
If you wanna be my lover, you have got to give,
Taking is too easy, but that’s the way it is.
What do you think about that now you know how I feel,
Say you can handle my love are you for real,
I won’t be hasty, I’ll give you a try
If you really bug me then I’ll say goodbye.
Yo I’ll tell you what I want, what I really really want,
So tell me what you want, what you really really want,
I wanna, I wanna, I wanna, I wanna, I wanna really
really really wanna zigazig ha.
If you wanna be my lover, you gotta get with my friends,
Make it last forever friendship never ends,
If you wanna be my lover, you have got to give,
Taking is too easy, but that’s the way it is.
So here’s a story from A to Z, you wanna get with me
you gotta listen carefully,
We got Em in the place who likes it in your face,
we got G like MC who likes it on an
Easy V doesn’t come for free, she’s a real lady,
and as for me..ah you’ll see,
Slam your body down and wind it all around
Slam your body down and wind it all around.
If you wanna be my lover, you gotta get with my friends,
Make it last forever friendship never ends,
If you wanna be my lover, you have got to give,
Taking is too easy, but that’s the way it is.
If you wanna be my lover, you gotta, you gotta, you
gotta,
you gotta, you gotta, slam, slam, slam, slam
Slam your body down and wind it all around.
Slam your body down and wind it all around.
Slam your body down and wind it all around.
Slam your body down zigazig ah
If you wanna be my lover.
.
3. BEST FRIEND SONG ( IN THE MOVIE My Best Friend’s Wedding)
Wishin’ and Hopin’
Originally by Dusty Springfield
Wishin’, and hopin’, and thinkin’, and prayin’,
Planning and dreamin’ each night of his charms.
That won’t get you into his arms
So if your’re looking for love you can share
All you gotta to is hold him, and kiss him, and love him,
And show him that you care.
Show him that you care, just for him.
Do the things that he likes to do.
Wear your hair just for him, ’cause,
You won’t get him, thinkin’ and a prayin’,
Wishin’ and hopin’.
‘Cause wishin’, and hopin’, and thinkin’, and prayin’,
Planning and dreamin’ his kisses will start.
That won’t get you into his heart!
So if you’re thinking how great true love is
All you gotta to is hold him, and kiss him, and squeeze him, and love him.
Yeah, just do it!
And after you do, you will be his.
You gotta show him that you care just for him.
Do the things that he likes to do.
Wear your hair just for him, ’cause,
You won’t get him, thinkin’ and a prayin’,
Wishin’ and a hopin’.
‘Cause wishin’, and hopin’, and thinkin’, and prayin’,
Planning and dreamin’ his kisses will start.
That won’t get you into his heart!
So if you’re thinking how great true love is!
All you gotta to is hold him, and kiss him, and squeeze him, and love him.
Yeah, just do it!
And after you do, you will be his.
You will be his.
You will be his!
.
4. YOU’RE MY BEST FRIEND ( TIM McGRAW)
I never had no one
I could count on
I’ve been let down so many times
I was tired of hurtin’
So tired of searchin’
‘Til you walked into my life
It was a feelin’
I’d never known
And for the first time
I didn’t feel alone
You’re more than a lover
There could never be another
To make me feel the way you do
Oh we just get closer
I fall in love all over
Every time I look at you
I don’t know where I’d be
Without you here with me
Life with you makes perfect sense
You’re my best friend
You’re my best friend, oh yeah
You stand by me
And you believe in me
Like nobody ever has
When my world goes crazy
You’re right there to save me
You make me see how much I have
And I still tremble
When we touch
And oh the look in your eyes
You’re more than a lover
There could never be another
To make me feel the way you do
Oh we just get closer
I fall in love all over
Everytime I look at you
And I don’t know where I’d be
Without you here with me
Life with you makes perfect sense
You’re my best friend
You’re my best friend
You’re more than a lover
There could never be another
To make me feel the way you do
Oh we just get closer
I fall in love all over
Everytime I look at you
And I don’t know where I’d be
Without you here with me
Life with you makes perfect sense
You’re my best friend
You’re my best friend (my best friend)
You’re my best friend (my best friend)
YOU’RE MY BEST FRIEND ( DON WILLIAMS)
.
You’re My Best Friend Lyrics
Artist(Band):Don Williams
Review The Song (1) Print the Lyrics
Send “You’re My Best Friend” Ringtones to Cell
Verse 1:
You placed gold on my finger.
You brought love like I’ve never known.
You gave life to our children
and to me a reason to go on.
Chorus:
You’re my bread when I’m hungry,
You’re my shelter from troubled winds,
You’re my anchor in life’s ocean,
but most of all You’re my best friend.
Verse 2:
When I need hope and inspiration
You’re always strong when I’m tired and weak.
I could search this whole world over
You’d still be everything that I need.
Chorus:
You’re my bread when I’m hungry,
You’re my shelter from troubled winds,
You’re my anchor in life’s ocean,
but most of all You’re my best friend.
You’re my bread when I’m hungry,
You’re my shelter from troubled winds,
You’re my anchor in life’s ocean,
but most of all You’re my best friend.
5. FRIENDSHIP SONG ( Carly Simon song in Pooh’s Heffalump Movie)
We stand shoulder to shoulder
We see eye to eye
We dive deep under water
We jump high in the sky
High
We stand shoulder to shoulder
We stand side to side
When one of us gets a tiny bit tired
One gives the other a ride
Ride
I’ve never had a best friend before
So I can’t be sure
What it feels like
But I think it feels more like this, I do
I think I feel more like myself
When I’m with you
Finding, finding
Losing and finding
Making, making a bond that is strong
Building, building a house for a friendship
Breathing a breath for our song
Song
For our song
.
6. Hymne A L’Amitie (Tiếng Pháp – Céline Dion)
Hymne a L’amitie Lyrics:
Si c’est un ami
S’il est pour toi
Ce que tu es pour lui
Celui qui peut t’aimer
Sans jamais te juger
Celui qui reste quand les autres t’ont déjà quitté
Je dis que si c’est un ami
Alors tu as bien réussi ta vie
Tu as déjà trouvé l’étoile du berger
Et tu n’es plus seul sur la route
Si c’est un ami
Donne ton pain et ton vin et ta vie
Et refais le monde comme l’ont fait trois cents fois
Don Quichotte et son vieux Sancho Panza
Si c’est ton ami
Dis-lui qu’il chante et puis chante avec lui
L’amitié c’est le plus beau pays
Si c’est un ami
S’il devient fou quand tu fais des folies
S’il te montre parfois qu’il avait peur pour toi
Si rien de moins que le meilleur ne le satisfait pour toi
Je dis que si c’est un ami
Alors tu as réussi ta vie
Chacun de son côté
On n’est que deux moitiés
A deux on franchit des montagnes
[ Find more Lyrics on http://www.mp3lyrics.org/BtP ]
Si c’est un ami
Donne ton pain et ton vin et ta vie
Et refais le monde comme
L’ont fait trois cents fois
Don Quichotte et son vieux Sancho Pança
Si c’est ton ami
Dis-lui qu’il chante et puis chante avec lui
L’amitié c’est le plus beau pays
Si c’est un ami
S’il a ton rire, s’il a tes larmes aussi
Si les mêmes colères
Le prennent quand la Terre
Avec ses trompettes et ses guerres
S’en va de travers
Je dis que si c’est un ami
Tu peux dire un grand merci à la vie
Puisqu’elle a fait de lui
Un frère que tu choisis
Et le compagnon de la chance
Si c’est un ami
Donne ton pain et ton vin et ta vie
Et refais le monde comme
L’ont fait trois cents fois
Don Quichotte et son vieux Sancho Pança
Si c’est ton ami
Dis-lui qu’il chante et puis chante avec lui
L’amitié c’est le plus beau pays
Si c’est un ami
Donne ton pain et ton vin et ta vie
Et refais le monde comme
L’ont fait trois cents fois
Don Quichotte et son vieux Sancho Pança
Si c’est ton ami
Dis-lui qu’il chante et puis chante avec lui
.
7. TRUE FRIEND ( Hannah Montana)
“True Friend”
[Verse 1]
We sign our cards and letters BFF
You’ve got a million ways to make me laugh
You’re lookin’ out for me; you’ve got my back
It’s so good to have you around
You know the secrets I could never tell
And when I’m quiet you break through my shell
Don’t feel the need to do a rebel yell
Cause you keep my feet on the ground
[Chorus 1]
You’re a true friend
You’re here till the end
You pull me aside
When something ain’t right
Talk with me now and into the night
‘Til it’s alright again
You’re a true friend
[Verse 2]
You don’t get angry when I change the plans
Somehow you’re never out of second chances
Won’t say “I told you” when I’m wrong again
I’m so lucky that I’ve found
[Chorus 2]
A true friend
You’re here till the end
You pull me aside
When something ain’t right
Talk with me now and into the night
‘Til it’s alright again
[Bridge]
True friends will go to the end of the earth
Till they find the things you need
Friends hang on through the ups and the downs
Cause they’ve got someone to believe in
[Chorus 3]
A true friend
You’re here till the end
You pull me aside
When something ain’t right
Talk with me now and into the night
No need to pretend
You’re a true friend
You’re here till the end
Pull me aside
When something ain’t right
Talk with me now and into the night
‘Til it’s alright again
You’re a true friend [3x]
.
8. WITH A FEW GOOD FRIENDS BY CARLY SIMON
With a few good friends
And a stick or two
A house is built at a corner called Pooh
With a friend and a stick
Or three or four
A house is built where it wasn’t before
With a window here
And there a door
And a nail and peg
For the coat of Eeyore
With a few good friends
And a stick or two
A house is built at a corner called Pooh
With a friend and a stick
Or three or four
A house is built where it wasn’t before
Dress it down
Or dress it up
Invite Tigger for tea
And Owl for supper
With a few good friends
And a stick or two
A house is built at a corner called Pooh
With a friend and a stick
Or three or four
A house is built where it wasn’t before
Đoạn đường từ trung tâm huyện Tây Giang, giữa tỉnh Quảng Nam đến xã Axan mất khoảng 50 km đi xe ô tô, qua một khung cảnh đẹp như tranh hòa quyện cùng núi rừng. Những cánh đồng lúa xanh ngát thanh bình, nằm sát bên những đỉnh núi nép mình dưới nắng mai, đem đến sự thảnh thơi sau những bức bách của cuộc sống.
Đặc điểm văn hóa của đồng bào dân tộc K’tu chính là nét đặc sắc nhất của xã Axan. Những ngôi nhà Guol truyền thống trong bản giờ trở thành nơi tụ họp cho các hoạt động cộng đồng. Người đồng bào K’tu có lối hát đối đáp độc đáo – hát lý – một loại hình nghệ thuật thi thố của những người cao tuổi. Bản làng cũng thu hút du khách bởi những lễ hội đặc sắc, gồm cả Lễ Cúng Được Mùa và Lễ Hội Đâm Trâu, và những món ăn đủ loại như là cơm lam (gạo nếp trộn với nước dừa được nấu trong ống tre), cơm nắm và thịt nướng trong ống tre.
Cuộc sống dân bản K’tu êm đềm và yên bình. Khi ngày mới lên, thung lũng ngập chìm trong làn sương khói. Nằm ở độ cao 1260 m, nên tiết trời mát lạnh như Sapa và Đà Lạt. Tảng sáng, dân bản náo nức ra đồng và dắt trâu bò ăn cỏ. Phong cảnh tĩnh lặng lúc chiều tàn mang đến cho du khách những cảm giác thư thái tuyệt vời.
Quan Jun dịch
COLORS AT A FRONTIER
by AXAN VALLEY; Saigontimes
The 50-kilometer drive from the center of Tay Giang district in the central province of Quang Nam to Axan commune is through a picturesque landscape in harmony with forests. The quiet green paddy fields, framed in the sunlight by the mountain peaks, provide relief from life’s pressures.
The cultural features of the K’tu ethnic group are the highlights of the Axan commune. The traditional Guol gouses in the villages are now venues for community activities. The K’tu people have a unique style of extempore singing, an art of competition between senior villagers. The commune also attracts tourists with its distinctive traditional festivals, including the celebration of Bumper Crops and Buffalo Stabbing Festival, and diversified gastronomy such as bamboo rice (sticky rice mixed with coconut cooked in bamboo pipe), steamed rice roll and meat grilled in bamboo rice.
The village life of the K’tu people is cozy and peaceful. As day begins the valley is shrouded in patches of fogs. At 1260 m, the weather is as cool as it is Sapa and Dalat. When the sun rises, the villagers flock to fields or takes their herds of cattle to the grass fields. The calm scenery in sunset offers travelers pleasant dreams.