‘Giải phóng’ đất nông lâm trường: Đã đến lúc cần ‘cuộc cách mạng’ quyết liệt hơn (5 bài)

Không ít nơi, chính quyền địa phương thu hồi đất của lâm trường nhưng lại không giao cho người dân tại chỗ mà giao cho các công ty tư nhân. Các lâm trường có nhiều đất cũng giao lại cho những người giàu có. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

***

‘Giải phóng’ đất nông lâm trường: Đã đến lúc cần ‘cuộc cách mạng’ quyết liệt hơn

Lời giới thiệu

Đất đai là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của nông/lâm nghiệp và là trụ đỡ quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Chính vì thế, mục tiêu mà Bộ Chính trị, Chính phủ và Quốc hội đã liên tiếp đặt ra từ năm 1991 đến nay là cần tháo gỡ các vướng mắc từ cơ chế chính sách cũng như bất cập từ thực tiễn quản lý ở cơ sở để “giải phóng” nguồn lực đất đai, nhất là đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường cho phát triển kinh tế. Đây cũng là giải pháp để đảm bảo an sinh xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cũng như đạt được mục tiêu phát triển thịnh vượng, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Không thể phủ nhận, sau gần 30 năm “sắp xếp, đổi mới,” đến nay việc quản lý, sử dụng đất đai của các nông, lâm trường trên cả nước đã có bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, bất cập gây thất thoát, lãng phí nguồn lực đất đai; thậm chí nhiều công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng còn buông lỏng quản lý để mất rừng với hơn một nửa diện tích được giao trước đó.

Trong khi đó, nhiều địa phương thi hành các “mệnh lệnh” về quản lý, sử dụng đất nông lâm trường còn mang tính trên giấy; nhiều nơi vẫn chưa hoàn thành việc xác định ranh giới, cắm mốc thực địa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hệ quả của thực trạng trên là cả nước hiện có khoảng 58.000 hộ dân đang thiếu đất ở, hơn 300.000 hộ dân tại các vùng “lõi nghèo của cả nước” đang thiếu đất sản xuất.

Để có cái nhìn toàn diện hơn về thực trạng trên, mời độc giả cùng phóng viên Báo điện tử VietnamPlus đi vào thực tế điều tra – từ đó hiểu vì sao Nhà nước đã ban hành rất nhiều “quyết sách lớn” đốc thúc các địa phương triển khai đổi mới nhưng rừng vẫn bị mất; đất đai liên tiếp bị lấn chiếm, tranh chấp; tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thiếu đất sản xuất ở mức cao.

Trên cơ sở thông tin đã ghi nhận, Báo Điện tử VietnamPlus đăng tải loạt bài “Giải phóng đất nông lâm trường: Cần ‘cuộc cách mạng’ quyết liệt hơn” như một hồi chuông cảnh tỉnh, lời kiến nghị, thúc giục các cơ quan chức năng liên quan, các nhà hoạch định chính sách lưu ý, sớm triển khai các giải pháp và nhiệm vụ cụ thể hơn, để không gây lãng phí nguồn lực đất đai cũng như giải quyết được hiệu quả vấn đề thiếu đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên cả nước.


GIẢI PHÓNG ĐẤT NÔNG LÂM TRƯỜNG: 30 NĂM MỚI ‘ĐỔI MỚI’ PHẦN NGỌN

Việc sắp xếp, đổi mới và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất nông lâm trường là nhiệm vụ quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Trước bối cảnh các nông lâm trường quốc doanh đang bộc lộ nhiều yếu kém do được giao quá nhiều diện tích rừng và đất nhưng “đuối sức” trong quản lý, sử dụng không hiệu quả, bắt đầu từ năm 1991, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông lâm trường. Đến nay, việc triển khai các “quyết sách” liên quan đến đời sống của hàng vạn người dân đã bước vào năm thứ 30.

Không thể phủ nhận, sau gần 3 thập kỷ điều chỉnh, các nông lâm trường đã có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, những đổi thay ấy vẫn chỉ là “bình mới, rượu cũ”.

Đầu tháng 10/2020, phóng viên VietnamPlus nhận được thông tin từ một số chuyên gia, tổ chức nghiên cứu rằng hiện nay tình trạng quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông lâm trường đang rất phức tạp. Nhiều công ty lâm nghiệp “ôm” quá nhiều đất – dù đã “sắp xếp đổi mới,” nhưng tình hình sản xuất vẫn không hiệu quả; trong khi đồng bào dân tộc thiểu số tại các “vùng lõi nghèo của cả nước” vẫn thiếu đất sản xuất, đặc biệt là tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên.

Một trong những lý do dẫn tới thực trạng trên là việc triển khai sắp xếp đổi mới nông lâm trường quốc doanh vẫn còn mang nặng tính hình thức. Nghĩa là các nông, lâm trường mới chỉ tập trung vào “phần ngọn” là sắp xếp tổ chức (đổi tên gọi từ nông lâm trường quốc doanh thành ban quản lý hoặc công ty nông, lâm nghiệp.) Trong khi đó, “phần gốc rễ” của việc đổi mới là rà soát, đánh giá hiệu quả sử dụng đất còn ít được quan tâm; chưa có sự thay đổi căn bản về phương thức hoạt động, cơ chế quản lý và điều hành dẫn đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh rất thấp.

Nhiều công ty lâm nghiệp “ôm” quá nhiều đất, trong khi đồng bào dân tộc thiểu số tại các “vùng lõi nghèo của cả nước” vẫn thiếu đất sản xuất

Đáng nói hơn là phần lớn các địa phương không chủ động xây dựng phương án đổi mới mà để cho các nông, lâm trường “tự rà soát, tự đánh giá” và chưa có sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan, nhất là sự tham gia của người dân địa phương.

Mặt khác, các nông lâm trường vẫn quản lý, sử dụng gần như toàn bộ diện tích được giao, chỉ có những khu vực nào thực sự bị tranh chấp, bị lấn chiếm – mới trả lại. Thế nhưng, phần lớn diện tích đất trả lại cũng không còn quản lý được nữa vì thực chất dân đã sản xuất kinh doanh, sử dụng từ lâu đời.

Hệ quả của việc “thay bình chưa thay rượu” trên là sau gần 30 năm đổi mới, từ 663 nông lâm trường quốc doanh (một số nông lâm trường hoạt động thua lỗ đã giải thể) được sắp xếp lại còn 252 công ty nông, lâm nghiệp song tình trạng tranh chấp, mua bán, chuyển nhượng đất đai vẫn xảy ra. Thậm chí, một số công ty còn để mất đất, mất rừng với hơn một nửa diện tích từng được Nhà nước giao quản lý trước đó…

Hiện có khoảng 58.000 hộ dân đang thiếu đất ở, hơn 300.000 hộ dân tại các vùng “lõi nghèo của cả nước” đang thiếu đất sản xuất. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Trong chuyến đi thực tế tại các tỉnh Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, chúng tôi đã thực sự đau xót khi tận mắt chứng kiến cảnh hàng chục quả đồi từng được Nhà nước giao cho các ban quản lý rừng, công ty lâm nghiệp quản lý – nay cây cối bị chặt hạ, đốt cháy, bỏ hoang, chẳng khác gì những “cánh rừng chết.”

Chỉ riêng trên quãng đường từ tỉnh Kon Tum qua tỉnh Đắk Lắk, chúng tôi đã tận mắt chứng kiến trên dưới 20 lần cảnh những vạt rừng bị thiêu rụi. Tiếng máy cưa xăng “thở dốc” khi đốn hạ cây cối vang khắp núi rừng. Hàng trăm ngôi nhà, kho xưởng và cả trụ sở xã được xây dựng trên đất nông, lâm trường… Tất cả những cảnh tượng đó đã góp phần tạo nên “bức tranh màu xám,” một thực tế không thể phủ nhận, đó là rừng Tây Nguyên đã và đang bị mất, bị xâm lấn do việc giám sát, quản lý yếu kém việc chuyển đối đất nông lâm trường.

Theo dữ liệu phóng viên thu thập được, trong vòng 10 năm (giai đoạn từ 2010-2020), diện tích rừng trên cả nước đã bị mất khoảng hơn nửa triệu hécta. Riêng năm 2019, diện tích rừng bị thiệt hại là 2.575 hécta. Trong 8 tháng năm 2020, diện tích rừng bị thiệt hại 1.881,1 hécta; trong đó thiệt hại do cháy là 1.362,9 hécta.

Tại khu vực Tây Nguyên, trong giai đoạn này, rừng đã bị mất khoảng 0,314 triệu hécta; tốc độ mất rừng tự nhiên bình quân vào khoảng 46.267 hécta/năm.

Về việc chuyển mục đích sử dụng rừng, vùng Tây Nguyên có hơn 750 dự án đề nghị chuyển mục đích sử dụng với diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm 48.980ha. Kết quả phân tích biến động sử dụng đất lâm nghiệp cho thấy trong giai đoạn 2014-2017, có tới 13% diện tích rừng bị mất đã được chuyển sang sản xuất nông nghiệp như càphê, sắn, tiêu hoặc cây sản xuất hàng năm. Tuy nhiên, nhiều diện tích trong số đó trong quá trình sản xuất đã không mang lại hiệu quả.https://e.infogram.com/5f33143d-f327-40ec-91a3-bea872b5f160?parent_url=https%3A%2F%2Fspecial.vietnamplus.vn%2Fgiai-phong-dat-nong-lam-truong-da-den-luc-can-cuoc-cach-mang-quyet-liet-hon%2F&src=embed#async_embed

Đơn cử như tại xã Ea Wer, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, trước đây, đất của các hộ dân sinh sống ở xã này thuộc quản lý của lâm trường Ea Tul sau chuyển thành ban quản lý rừng phòng hộ Buôn Đôn, nhưng người dân xâm canh, lấn chiếm và chuyển mục đích sử dụng thành đất ở. Ngay cả diện tích đất canh tác cũng thuộc về ban quản lý rừng phòng hộ, nhưng do người dân bản địa xâm chiếm, sau bán lại cho các hộ gia đình người Kinh và chuyển quyền sử dụng sang chính chủ.

Theo người dân xã Ea Wer, đất rừng giao cho ban quản lý rừng phòng hộ quản lý và sử dụng không hiệu quả, hay nói cách khác “ban quản lý còn đất chứ không còn rừng”…

Tiến sĩ Trương Thị Hạnh, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên, cho biết từ khi sắp xếp, đổi mới đến nay, trên địa bàn Đắk Lắk có 13 công ty lâm nghiệp đang quản lý khoảng 200.000ha. Tuy nhiên, theo Báo cáo số 24/BC-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh này về “thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh giai đoạn từ năm 2004-2014,” trong số 13 công ty lâm nghiệp trên chỉ có 1 đơn vị sản xuất duy nhất có mức lãi 4,9% sau thuế, 8 công ty chỉ đạt mức lãi thấp dưới 0,1% và 4 đơn vị thua lỗ.

Bên cạnh việc sử dụng đất kém hiệu quả, nhiều công ty lâm nghiệp còn sử dụng đất sai mục đích, bỏ hoang đất, rừng cũng như để xảy ra lấn chiếm, tranh chấp đất. Theo kết quả kiểm tra, rà soát, đánh giá các dự án phát triển nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, năm 2017 đã có hơn 16.254ha đất sử dụng sai mục đích; trên 3.786ha đất chưa sử dụng; hơn 12.598ha diện tích đất xảy ra tranh chấp…

Tại khu vực Tây Nguyên, trong giai đoạn 2010-2019, rừng đã bị mất khoảng 0,314 triệu hécta; tốc độ mất rừng tự nhiên bình quân vào khoảng 46.267 hécta/năm

Trả lời câu hỏi của phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus về nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên, đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk khẳng định có rất nhiều lý do dẫn tới việc phá rừng, lấn chiếm, tranh chấp đất nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu nhất là do tình trạng đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc di cư tự do đến địa phương vẫn tiếp tục diễn ra, chưa được kiểm soát. Bên cạnh đó, các chủ rừng còn buông lỏng quản lý rừng và đất lâm nghiệp; đặc biệt là một số trường hợp làm ngơ, tiếp tay cho một số đối tượng lấn chiếm, mua bán đất rừng, trục lợi trái phép,… dẫn tới nhiều diện tích đất bị lấn chiếm trong thời gian dài.

Tại Kon Tum – tỉnh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn nhất so với các tỉnh còn lại ở khu vực Tây Nguyên, sau khi thực hiện sắp xếp, đổi mới các nông lâm trường, hiện nay trên toàn tỉnh còn 7 công ty trách nhiệm nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp quản lý gần 280.000ha rừng và đất rừng (chiếm 37,4 diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh) do Ủy ban Nhân dân tỉnh quản lý. Nhưng sau khi rà soát, diện tích còn lại hiện nay là 258.000ha, bị hụt so với trước gần 22.000ha.

Chỉ riêng trên quãng đường từ tỉnh Kon Tum qua tỉnh Đắk Lắk, chúng tôi đã tận mắt chứng kiến trên dưới 20 lần cảnh những vạt rừng bị thiêu rụi. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Toàn tỉnh Kon Tum có hơn 32.000ha đất lâm nghiệp đã bị người dân lấn chiếm để làm nương rẫy, thậm chí Ủy ban Nhân dân các huyện cũng “giao nhầm đất” cho người dân “chồng” lên diện tích của các lâm trường.

Một trong những hạn chế lớn nhất là việc hồ sơ kỹ thuật, số liệu diện tích đất giữ lại và trả về địa phương còn có sự chênh lệch nhau do số liệu chủ yếu dựa vào sổ sách mà chưa thực hiện công tác chi tiết như đo đạc, kiểm kê đất đai để xác định ranh giới, cắm mốc thực địa. Chính vì thế, nhiều công ty lâm nghiệp ở các địa phương đã không quản lý được, dẫn đến tình trạng lấn chiếm, tranh chấp…

Đối lập với thực trạng các ban quản lý rừng, công ty nông lâm nghiệp được giao quản lý quá nhiều đất nhưng hiệu quả thấp, gây lãng phí nguồn lực đất đai…, trong vòng 30 năm qua, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi – nơi đang là “vùng lõi nghèo của cả nước”  vẫn đang gặp khó khăn do không có hoặc thiếu đất sản xuất.

Trong câu chuyện với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, anh Hoàng Văn Quân (38 tuổi, dân tộc Dao ở bản Qoa, xã Tân Dương, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai) cho biết là người dân tộc thiểu số sinh ra và gắn bó với núi rừng – bao năm qua, gia đình nhỏ với 5 nhân khẩu của anh chỉ biết trông cậy vào “nồi cơm” duy nhất là 1 sào ruộng và 1 hécta đất rừng do ông bà khai hoang canh tác từ lâu đời để lại.

Thiếu đất sản xuất, đói nghèo, gần năm nay, tôi đã phải đi khắp nơi làm thuê làm mướn để 3 đứa con không phải bỏ học giữa chừng. Thiếu đất sản xuất vất vả lắm!

Anh Hoàng Văn Quân (38 tuổi, dân tộc Dao ở bản Qoa, xã Tân Dương, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai)

“Với nguồn tư liệu đất đai ít ỏi trên, hàng ngày, hai vợ chồng tôi cần mẫn bán mặt cho đất, bán lưng cho trời cày cuốc để trang trải cuộc sống. Cứ tưởng cố gắng rồi trời thương, ai ngờ – năm ngoái, Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai lại có quyết định thu hồi 1 hécta đất nằm xen kẽ trong rừng phòng hộ bấy lâu nay gia đình đang sử dụng (nhưng không có sổ đỏ), để triển khai dự án trạm nghiên cứu thực nghiệm mây tre. Vậy là, ‘nồi cơm bể đôi.’ Thiếu đất sản xuất, đói nghèo, gần năm nay, tôi đã phải đi khắp nơi làm thuê làm mướn để 3 đứa con không phải bỏ học giữa chừng. Thiếu đất sản xuất vất vả lắm anh ạ!” anh Quân rưng rưng chia sẻ.

Không chỉ riêng hộ gia đình anh Quân, hiện nay trên địa bàn xã Tân Dương còn khoảng hơn 100 hộ cũng đang thiếu đất sản xuất. Phần lớn đồng bào đã và đang thiếu đất đều rất khó khăn, phải đi làm thuê làm mướn để trang trải cuộc sống.

Theo số liệu điều tra thực trạng kinh tế-xã hội đối với 53 dân tộc thiểu số, hiện nay cả nước có đến 68,5% hộ dân tộc thiểu số có nhu cầu cần thêm đất để sản xuất; trong đó nhiều nhóm dân tộc ở Tây Nguyên có trên 80% số hộ thiếu đất sản xuất.

Nhiều công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng còn buông lỏng quản lý để mất rừng với hơn một nửa diện tích được giao trước đó. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Đáng chú ý, mặc dù thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về giải quyết đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số giúp hàng trăm ngàn hộ thoát nghèo, song theo báo cáo tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc Hội mới đây về thực hiện Nghị quyết số 76/2014/QH13 đẩy mạnh giảm nghèo bền vững đến năm 2020, nước ta vẫn còn 58.000 hộ dân thiếu đất ở và 303.578 hộ thiếu đất sản xuất. Những con số này cho thấy vấn đề đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều vướng mắc cần được quan tâm nghiêm túc và có giải pháp triệt để hơn.

Thực tế trên cũng đã được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà thẳng thắn chỉ ra rằng việc “giải phóng” nguồn lực đất đai mới chỉ làm được một phần và vẫn còn những xung đột, nhiều thủ tục là rào cản trong tiếp cận đất đai…

Đơn cử như vùng Tây Nguyên, theo ông Nguyễn Văn Tiến, Vụ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Ban Kinh tế Trung ương), dân số của toàn vùng này có hơn 5.800 nghìn người với 47 dân tộc sinh sống, trong đó có khoảng 37 dân tộc ít người. Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều tại khu vực này khá cao, chiếm 13,8%; cao hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước là 8,4%.

Vì thế, để đảm bảo đời sống của người dân, các tỉnh Tây Nguyên đã xây dựng một số mô hình sản xuất nông lâm kết hợp trên đất lâm nghiệp để nâng cao thu nhập, đời sống, ổn định sản xuất cho người dân. Tuy nhiên, đất sản xuất nông nghiệp trên đất lâm nghiệp không được cấp sổ đỏ, không được hướng dẫn kỹ thuật canh tác, không được vay vốn đầu tư… dẫn đến tình trạng người dân thiếu ăn, vay nặng lãi, đến khi thu hoạch phải trả lãi khá cao. Có trường hợp do mất mùa, không có tiền trả nợ, một số hộ gia đình đã phải trả nợ bằng nhà, bằng rẫy đang canh tác.https://www.youtube.com/embed/FkLLNRnPN4A?version=3&rel=1&showsearch=0&showinfo=1&iv_load_policy=1&fs=1&hl=vi&autohide=2&wmode=transparent

Thực tế trên đã tạo áp lực đến sinh kế của người dân. Đơn cử như tại huyện Ea Súp (Đắk Lắk), hộ nghèo chiếm 39%; huyện Đắk Glong (Đắk Nông) 40,9%…

Nêu con số tổng quan hơn, ông Triệu Văn Bình, Vụ Dân tộc, Văn phòng Quốc hội cho biết Tây Nguyên hiện có 180 công ty nông, lâm nghiệp và ban quản lý rừng đang quản lý trên 2,6 triệu hécta. Nguồn gốc đất của các công ty này quản lý còn nhiều bất cập, hạn chế nhưng chậm được khắc phục, dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện kéo dài. Hệ quả là khu vực Tây Nguyên hiện còn có khoảng 15.846 hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất ở, 32.000 hộ dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất.

“Ngoài ra, một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đang thiếu đất sản xuất, không có việc làm, cuộc sống gặp nhiều khó khăn, dẫn đến người dân tự phát chặt phá, đốt rừng lấy đất làm nương rẫy,” ông Bình nhấn mạnh.

Nhiều công ty lâm nghiệp ở các địa phương không quản lý được rừng đã để xảy ra tình trạng lấn chiếm, tranh chấp. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Tiến sĩ Trương Thị Hạnh, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên cũng cho rằng một số công ty lâm nghiệp sau sắp xếp, đổi mới vẫn chưa đóng góp được nhiều cho sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Thậm chí có công ty còn khoán trắng, lợi dụng đất của nhà nước giao để “phát canh thu tô;” không hoặc ít đầu tư làm dịch vụ nông nghiệp cũng không thay đổi định mức khoán; vườn cây giao khoán đã hết khấu hao nhưng các công ty vẫn tiếp tục thu sản phẩm nên người dân chống đối, đòi công ty trả đất về địa phương để địa phương giao cho người dân.

Trong khi đó, cơ chế chính sách, pháp luật trong công tác quản lý sử dụng đất đai, sử dụng rừng, quản lý dân cư còn nhiều bất cập, chồng chéo. Các chính sách và nguồn lực đầu tư để tạo động lực thúc cho các lực lượng tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế, cơ chế chính sách còn bất cập.

Tác giả: Hùng Võ

***

‘PHÁT CANH THU TÔ’: MÔ HÌNH LIÊN KẾT

‘TƯ LỢI’ TRÊN LƯNG DÂN NGHÈO

Phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã nhận được nhiều thông tin phản ánh của người dân, giới chuyên gia cho thấy rằng trong nhiều năm qua, một số địa phương đã mặc tình cho các ban quản lý rừng, các công ty lâm nghiệp lợi dụng chính sách giao đất, giao rừng để chuyển nhượng đất đai, liên kết sản xuất làm giàu trên lưng của người dân nghèo.

Điều đáng nói là, việc liên doanh liên kết theo kiểu “phát canh thu tô” này đã khiến công tác quản lý đất nông, lâm trường tại nhiều địa phương bị đảo lộn, dẫn tới làn sóng chuyển nhượng, mua-bán đất từ người này qua nhiều người khác.


1

LÂM TRƯỜNG “ĐẮC LỢI” – DÂN OẰN MÌNH CHỊU KHỔ

Hơn 15 năm trước, ông Nguyễn Đình Thìn – người dân ở tỉnh Hà Nam quyết định xa quê, vào xã Cư Ealang (huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk) lập nghiệp. Sau một thời gian đi làm thuê, làm mướn cho người dân trên địa bàn, ông quyết định mua lại đất của chủ cũ để chủ động phát triển sản xuất với khát vọng “biến sỏi đá thành cơm.”

Đến nay, quyết định của ông Thìn đã thành hiện thực khi đang “sở hữu” một khu rẫy rộng lớn bạt ngàn cao su và mít cao sản. Dù vậy, cuộc sống của gia đình ông Thìn vẫn gặp phải vô vàn khó khăn. Nguyên nhân chính là bởi cơ chế liên doanh liên kết do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên lâm nghiệp EaKar đặt ra, khiến gia đình ông và nhiều người dân trong xã phải oằn mình gánh vác…

Chỉ ra một loạt bất hợp lý khiến gia đình mình bị vắt kiệt sức người lẫn sức của, ông Thìn buồn bã kể: Từ nhiều năm trước, gia đình ông đã nhận khoán đất do Công ty lâm nghiệp EaKar quản lý theo hình thức liên danh liên kết trồng mít cao sản. Theo đó, hàng năm gia đình ông phải đóng sản với những khoản phí rất bất công.

Theo hợp đồng liên kết sản xuất trồng mít cao sản, nhiều năm qua, ông Nguyễn Đình Thìn phải “đóng sản” cho Công ty lâm nghiệp EaKar 1-2 triệu đồng/ha/năm, dù phía công ty không hề bỏ ra một khoản chi phí hay có đóng góp gì. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

“Bất cập nhất là phí cây. Mỗi năm, nhà tôi phải nộp cho công ty từ 1-2 triệu đồng/ha; khi cây đến tuổi khai thác thì chia cây trên diện tích thực tế, công ty lâm nghiệp mặc nhiên hưởng 30%, trong khi họ không hề bỏ ra một khoản chi phí hay có đóng góp gì. Như thế, dân nghèo sao mà khá lên được,” ông Thìn giãi bày.

Câu chuyện ông Nguyễn Đình Thìn – 1 trong 63 “Nông dân Việt Nam xuất sắc năm 2018,” đại biểu nông dân duy nhất của tỉnh Đắk Lắk được tham dự “Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X năm 2020” kể với tôi qua một cuộc điện thoại kéo dài tới gần 48 phút, khiến tôi không khỏi bất ngờ.

Khi đi vào tìm hiểu thực tế và cầm trên tay những bản chiết tính từ hồ sơ liên kết trồng mít cao sản của ông Thìn với công ty, tôi thật sự giật mình.

Năm 2013, với quyết tâm mở rộng quy mô sản xuất, ông Thìn bàn với vợ mua 11,7 hécta đất lâm nghiệp từ 2 cá nhân có địa chỉ tại tỉnh Tiền Giang và tỉnh Bình Phước (là những người từng nhận giao khoán, liên doanh liên kết trồng mít cao sản với Công ty lâm nghiệp EaKar, nhưng vì hoàn cảnh gia đình, sản xuất kém hiệu quả nên đã bán lại đất) thông qua “giấy ủy quyền.” Việc này được Công ty lâm nghiệp EaKar xác nhận và tiếp tục ký hợp đồng liên kết trồng mít với hộ ông Thìn.

Theo hợp đồng trên, Công ty lâm nghiệp EaKar (bên A) có trách nhiệm giao diện tích đất lâm nghiệp cho hộ gia đình ông Thìn (bên B) để thực hiện trồng mít với mật độ 278 cây/ha; hướng dẫn kỹ thuật, chịu chi phí thiết kế kỹ thuật, chăm sóc, bảo vệ và đầu tư vốn ban đầu bằng 1/4 cây giống cho bên B (8.000 đồng/cây).

Đổi lại, bên B phải nộp bảo lưu hợp đồng cho bên A 25 triệu đồng và phải chấp hành theo chỉ đạo kỹ thuật của bên A; chịu chi phí cây giống còn lại, trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ. Khi trồng mít đến năm thứ 4 thì phải nộp sản cho bên A (quy ra thành tiền) 1 triệu đồng/ha, từ năm thứ 6 trở đi tăng lên 2 triệu đồng/ha. Khi mít đến tuổi khai thác thì bên A được hưởng “một cục” bằng 30% diện tích.

Vợ chồng ông Thìn chụp ảnh với tác giả khi đi thăm trang trại trồng mít của gia đình. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Hợp đồng quy định chi tiết là vậy, nhưng các bằng chứng mà ông Thìn cung cấp cho thấy bên A không hề bỏ ra một khoản chi phí nào, cũng không hướng dẫn kỹ thuật hay đầu tư vốn ban đầu cho bên B. Thế nhưng cứ “đến hẹn lại lên,” không cần biết người dân sản xuất có được hay không, Công ty lâm nghiệp EaKar vẫn gửi thông báo cho gia đình ông Thìn “đòi” 1/4 phí cây giống với đơn giá 1-2 triệu đồng/ha.

Thậm chí, đầu năm 2021, mặc dù tình hình sản xuất và đầu ra sản phẩm của gia đình ông Thìn bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19, nhưng Công ty lâm nghiệp EaKar vẫn ra thông báo yêu cầu gia đình ông Thìn phải nộp khoản phí 22,5 triệu đồng – đã trừ tiền miễn giảm cây bị chết sau nhiều lần kiến nghị.

“Nói thẳng ra là chúng tôi bị Công ty lâm nghiệp EaKar ‘gài’ câu chữ trong hợp đồng. Khi nhận ra thì đã muộn vì chúng tôi bỏ cả đống tiền đầu tư cây giống, cải tạo đất, mua thuốc, phân bón và trả tiền lương cho người lao động. Còn công ty lâm nghiệp không bỏ công sức gì vẫn ngồi hưởng. Liên kết như thế khác gì chiếc dao, công ty cầm cán, còn dân vất vả vẫn phải ngậm lưỡi,” ông Thìn bức xúc nói.

Cùng chung cảnh trên, nhiều hộ dân khác trên địa bàn xã Cư Ealang, sau nhiều năm liên kết cũng không thấy “lối thoát;” muốn đổi mới mô hình sản xuất, đưa công nghệ và kỹ thuật tiên tiến vào hỗ trợ sức người cũng rất bế tắc. Lý do là đất do Công ty lâm nghiệp EaKar quản lý, người dân dù mua lại, bỏ công bỏ sức khai hoang, sản xuất nhưng vì không có sổ đỏ nên cũng không thể vay vốn.

Ngay như trường hợp ông Thìn – hiện đang tạo công ăn việc làm cho hơn 10 lao động là người dân nghèo ở địa phương, hàng tháng tiếp hàng chục đoàn cán bộ phòng nông nghiệp của các huyện, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và người dân ở các tỉnh lân cận đến học hỏi kinh nghiệp sản xuất trồng mít, nhưng gia đình ông cũng không thể phát triển hơn vì sổ đỏ đất đai đứng tên công ty lâm nghiệp.

2

NỞ RỘ LÀN SÓNG MUA, BÁN ĐẤT ĐAI DO BUÔNG LỎNG QUẢN LÝ

Hệ quả của thực trạng liên kết sản xuất theo kiểu “ngư ông đắc lợi” nêu trên đã khiến công tác quản lý đất nông lâm trường của Công ty lâm nghiệp EaKar bị đảo lộn khi nhiều người dân nhận giao khoán, bỏ tiền bạc đầu tư đã phải chuyển nhượng, dẫn tới làn sóng mua, bán đất từ người này qua nhiều người khác.

Thừa nhận với phóng viên VietnamPlus về thực trạng nêu trên, ông Nguyễn Phi Tiến, Phó Giám đốc Công ty lâm nghiệp EaKar cho biết ông vừa về tiếp quản công ty được hơn 3 tháng nhưng dữ liệu mà lãnh đạo trước để lại rất phức tạp, bởi nhiều hồ sơ đã bị thất lạc…

Dẫn ví dụ cụ thể, ông Tiến cho biết gần đây nhất, ông đã “truy” ra 106 hécta đất do ông Mai Sỹ Minh ở quân Đống Đa (Hà Nội) vào liên kết sản xuất với công ty từ thời 2017. Tuy nhiên, trường hợp này nhận đất mà không thực hiện sản xuất. Đáng nói là trước đây bộ phận văn thư cũng không hề lưu giữ hồ sơ, giấy tờ đến và đi.

“Trước đây, công ty liên kết với người dân lên tới hàng trăm hécta, cả hàng ngàn hồ sơ chứ không phải ít đâu. Một người ít nhất 2-3ha, nhưng ở đây người dân không phải ở một chỗ mà ở trên cả tỉnh, cả nước Việt Nam này. Cứ đụng đâu liên kết đó, ai xin cũng liên kết mà không hiệu quả. Chẳng hạn như cây cao su của một công ty ở trên địa bàn khác quản lý nhưng vẫn đem đến trồng ở đây, sau đó mới chống chế quay ngược lại làm hồ sơ liên kết,” ông Tiến cho hay.

Với cách thức liên kết mà lợi ích đổ dồn vào túi “một nhóm lợi ích” nêu trên thì Nhà nước không cần thiết phải giao đất cho các công ty lâm nghiệp quản lý. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Về việc công ty liên kết sản xuất với người dân và ăn chia sản phẩm, ông Tiến khẳng định là có. “Việc liên kết ở đây là ăn chia % sản phẩm theo nhiều hình thức khác nhau, có nơi công ty hưởng 30%, dân 70%; có hợp đồng công ty được 20%, dân 80%; thậm chí có liên kết công ty lại hưởng 60%…,” ông Tiến nói.

Tuy nhiên, trả lời về việc người dân phản ánh Công ty lâm nghiệp EaKar không hề bỏ ra kinh phí, vốn đầu tư ban đầu bằng 1/4 cây giống như hợp đồng nhưng vẫn thu sản 1-2 triệu đồng/ha/năm của dân, ông Tiến lý giải rằng: “Theo hợp đồng thì nếu công ty bỏ vốn đầu tư ban đầu (nếu có) thì mới thu. Việc không đầu tư mà vẫn ghi đầu tư, có thể là do bộ phận soạn văn bản trước đây nhầm lẫn nên mới xảy ra sai sót trong hồ sơ. Cái này, nếu làm sai thì cứ để cơ quan công an điều tra xử lý.”

Ông Tiến cũng lưu ý những hợp đồng trước đây có thể là do sự “thỏa thuận” giữa lãnh đạo cũ của công ty với người dân. Chứ công ty không hề bỏ ra khoản chi nào.

Về việc công ty liên kết sản xuất với người dân và ăn chia sản phẩm, ông Tiến khẳng định là có.

Theo tìm hiểu của phóng viên, phần lớn các hồ sơ liên kết trồng cao su, mít cao sản từ 3 năm trở về trước đều do ông Nguyễn Hồng Mạnh, nguyên là Giám đốc Công ty lâm nghiệp EaKa ký với người dân, có chữ ký và con dấu xác nhận của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Cư Ealang. Nhưng trong năm 2020, 8 người là dàn lãnh đạo công ty này, trong đó có ông Mạnh đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk khởi tố, bắt tạm giam về hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” do liên tục để xảy ra tình trạng khai thác gỗ, lấn chiếm đất rừng trái phép.

Trước đó, hồi tháng 11/2019, ông Mạnh đã từng bị Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đắk Lắk thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách do chưa làm tròn trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, phối hợp với cơ quan chức năng để quản lý và bảo vệ rừng.

Thực tế trên phần nào cho thấy công tác quản lý rừng, giao khoán, chuyển nhượng, sang nhượng đất có nguồn gốc từ nông lâm trường do Công ty lâm nghiệp EaKar quản lý rất phức tạp. Lạ lùng hơn là việc liên kết trên lại được Ủy ban Nhân dân xã xác nhận. Để rồi, một chủ trương đúng đắn đã bị lợi dụng “phát canh thu tô,” làm giàu trên lưng người nghèo và có nguy cơ tiếp tục gây mất đất, mất rừng.

Việc lưu trữ hồ sơ, tài liệu xác định nguồn gốc và cơ sở pháp lý trong việc quản lý đất đai của Công ty lâm nghiệp EaKar còn rất sơ sài, bị thất lạc. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

3

CÔNG TY LÂM NGHIỆP ĐÓNG GÓP CHO NHÀ NƯỚC RẤT HẠN CHẾ

Nói về thực trạng nêu trên, đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk thừa nhận việc giao khoán ở một số công ty lâm nghiệp còn rất nhiều bất cập; một số nơi không còn đầu tư mà khoán trắng, thực hiện theo kiểu “phát canh thu tô” trong khi mức khoán không còn phù hợp; người nhận khoán không được quyền của người sử dụng đất như các hộ nông dân ở địa phương, dẫn đến người dân không đồng thuận và không muốn tiếp tục hợp tác với công ty.

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, giá nông sản xuống thấp đã gây rất nhiều khó khăn cho các hộ nhận khoán. Một số công ty lâm nghiệp không thể hiện được vai trò trong việc tổ chức, chỉ thu sản phẩm của các hộ nhận khoán để duy trì bộ máy; việc thiết lập và lưu trữ hồ sơ, tài liệu xác định nguồn gốc và cơ sở pháp lý trong việc quản lý đất đai trước đây còn rất sơ sài, thiếu rõ ràng vì bị thất lạc. Thực tế trên đã khiến tranh chấp, khiếu kiện về đất đai diễn biến thêm phức tạp…

Nhiều công ty lâm nghiệp trên cả nước chỉ “ngồi một chỗ” liên kết với người dân và cũng không có hướng dẫn, bỏ ra kinh phí gì nhưng sau ít năm lại “phát lệnh” thu tiền

Mở rộng ra cả nước, ông Triệu Văn Bình, Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc của Quốc hội cũng khẳng định qua giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 112/2015/QH 13 của Quốc hội, cơ bản việc liên kết nêu trên là “phát canh thu tô.” Tức là công ty lâm nghiệp được Nhà nước giao đất để quản lý, bảo vệ, làm lợi cho người dân và ngân sách nhà nước, nhưng con số các nông, lâm trường, nhất là các công ty lâm nghiệp đóng góp cho nhà nước lại không đáng kể, thậm chí gần như không được gì.

Thực tế dễ thấy là, nhiều công ty lâm nghiệp ở trên cả nước, nhất là các tỉnh khu vực Tây Nguyên chỉ “ngồi một chỗ” liên kết với người dân khắp nơi và cũng không có hướng dẫn, bỏ ra kinh phí gì nhưng sau ít năm lại “phát lệnh” thu tiền…

Theo ông Bình, với cách thức liên kết mà lợi ích đổ dồn vào túi “một nhóm lợi ích” nêu trên thì Nhà nước không cần thiết phải giao cho các công ty lâm nghiệp, mà giao thẳng cho địa phương. Như vậy, người dân sẽ có cơ hội để phát triển sản xuất và nếu nộp thuế, phí cũng sẽ nộp thẳng cho Nhà nước.

Nhìn nhận ở góc độ chuyên gia, ông Trịnh Lê Nguyên, Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên cho rằng qua thực tế nêu trên, Nhà nước cần đánh giá lại mô hình nông lâm trường cũng như các công ty trách nhiệm hữu hạn lâm nghiệp một thành viên hiện nay, xem có còn phù hợp với xu thế phát triển hay không?

“Nếu mô hình này trên thực tế không còn hiệu quả, cần tính đến việc chuyển đổi hệ thống này thành 2 loại cơ bản: Những diện tích đất còn rừng phòng hộ và đặc dụng cần chuyển sang các ban quản lý rừng đặc dụng và phòng hộ. Các khu vực đã bị chuyển đổi sang sản xuất nông, lâm nghiệp nếu khó có khả năng phục hồi cần quy hoạch lại để chuyển cho địa phương quản lý, bố trí sản xuất,” ông Nguyên chia sẻ./.

Tác giả: Hùng Võ

***

‘GIẢI PHÓNG’ ĐẤT NÔNG LÂM TRƯỜNG:

MỆNH LỆNH VẪN CÒN CÁCH XA THỰC TẾ?

Trên cơ sở báo cáo giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thực trạng các ban quản lý, công ty nông lâm trường “làm mưa làm gió” nhờ được giao quá nhiều đất nhưng sản xuất liên tục thua lỗ, trong khi người dân thiếu đất sản xuất – ngày 27/11/2015, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 112/2015/QH13 với mục tiêu: Tiếp tục rà soát, thu hồi diện tích đất sử dụng không hiệu quả để giao về địa phương quản lý, qua đó bố trí cho đồng bào dân tộc có đất sản xuất sử dụng ổn định.

Thế nhưng, sau 5 năm, việc thi hành “mệnh lệnh” trên phần lớn mới chỉ được các địa phương thực hiện mang tính trên giấy, khiến công cuộc đổi mới vẫn bế tắc.


Chậm bàn giao, đưa đất vào sử dụng

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường vào tháng 7/2020, diện tích đất nông lâm trường mà các công ty lâm nghiệp dự kiến bàn giao về địa phương từ khi thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2004 đến nay đạt hơn 1 triệu hécta (theo Nghị quyết số 28-NQ/TW là 621.565ha; Nghị quyết số 30-NQ/TW là 465.029ha).

Tuy nhiên, qua quá trình tham gia nghiên cứu thực tế về thực trạng quản lý, sử dụng đất nông lâm trường cho Hội đồng Dân tộc, chuyên gia lâm nghiệp Ngô Văn Hồng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển cho rằng hầu hết các địa phương hiện đang có chung tình trạng là “diện tích đất từ các nông, lâm trường trả về địa phương mới chỉ thi hành mang tính mệnh lệnh trên giấy, còn triển khai thực địa chưa làm được; tỷ lệ đất giao cho người dân cũng rất ít.”

Số liệu thống kê của Hội đồng Dân tộc qua giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 112/2015/QH13 tại một số địa phương trên cả nước cũng cho thấy tính đến cuối năm 2018, cả nước có đến 342.569ha/402.612ha đất dự kiến được giao lại cho cộng đồng dân tộc thiểu số vẫn đang do các công ty nông, lâm nghiệp nhà nước hoặc chính quyền địa phương quản lý (chiếm 85,1%), chưa giao cho cộng đồng.

Tính đến cuối năm 2018, cả nước có đến 342.569ha/402.612ha đất dự kiến được giao lại cho cộng đồng dân tộc thiểu số vẫn đang do các công ty nông, lâm nghiệp nhà nước hoặc chính quyền địa phương quản lý. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Từ việc chậm triển khai bàn giao đất về địa phương nêu trên đã dẫn tới hệ quả “năm nào đồng bào dân tộc thiểu số cũng kêu thiếu đất và con số thiếu đất rất cao nhưng mức độ giải quyết rất ít; trong khi đất nông lâm trường trả về nhưng chính quyền địa phương lại không giao cho dân.”

Dữ liệu mà phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus thu thập qua điều tra thực tế tại một số tỉnh miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên cũng cho thấy việc chấp hành quy đinh pháp luật về thủ tục giao đất, thu hồi đất ở phần lớn các địa phương còn rất chậm.

Nhiều diện tích trên thực tế các nông, lâm trường đã giao về địa phương nhưng tỉnh vẫn chưa có quyết định thu hồi hoặc nhiều diện tích đã thu hồi nhưng vẫn chưa có quyết định giao đất, cấp sổ đỏ hộ gia đình, cá nhân sử dụng.

Đơn cử như tại Đắk Lắk, thực hiện Nghị quyết số 112, tỉnh này dự kiến sẽ thu hồi gần 539.000ha từ các nông lâm trường, công ty lâm nghiệp và các ban quản lý rừng bàn giao về địa phương quản lý. Trong số đó, riêng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên lâm nghiệp EaKa sẽ phải bàn giao 2.256ha. Tuy nhiên, đến thời điểm cuối tháng 4/2021, việc này vẫn chưa được triển khai trên thực địa.https://e.infogram.com/2a0f4893-fce4-4228-a54f-95e689db2f0f?parent_url=https%3A%2F%2Fspecial.vietnamplus.vn%2F2021%2F07%2F08%2Fgiai-phong-dat-nong-lam-truong-menh-lenh-van-con-cach-xa-thuc-te%2F&src=embed#async_embed

Thậm chí, theo ông Nguyễn Phi Tiến, Phó Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên lâm nghiệp EaKar thì trong số diện tích trả về địa phương, có một phần diện tích là rừng tự nhiên và hơn 2.000ha đang bị xâm chiếm, nên sắp tới sẽ phải rà soát lại, tuy nhiên cũng phải mất khoảng 2-3 năm mới giải quyết xong.

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, một lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk cho rằng “đây là việc lớn của tỉnh.” Vì thế, tỉnh này đã thành lập Ban chỉ đạo do đồng chí Bí thư tỉnh làm Trưởng Ban chỉ đạo.

Cách Đắk Lắk khoảng 400km, tại tỉnh Quảng Nam, mặc dù lãnh đạo tỉnh này khẳng định việc thu hồi đất của các công ty nông, lâm nghiệp sử dụng kém hiệu quả về địa phương quản lý là cần thiết, song việc thu hồi đất giao về địa phương quản lý cũng mới thống nhất được chủ trương thông qua những con số trên giấy.

Trong số 2.256hadiện tích Công ty lâm nghiệp EaKa trả về địa phương, có một phần diện tích là rừng tự nhiên và hơn 2.000ha đang bị xâm chiếm. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Thông tin tới phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, ông Hồ Quang Bửu, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam cho biết thực hiện sắp xếp theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP, có 3 công ty nông, lâm nghiệp đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt phương án sử dụng đất; trong đó Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cao su Quảng Nam bàn giao về địa phương trên 1.645ha.

Tuy nhiên, theo ghi nhận của chúng tôi qua khảo sát thực tế, đến cuối tháng 3/2021, phương án sử dụng đất vẫn chưa được cắm mốc ranh giới, áp dụng trên thực địa.

Là người dân có thâm niên hơn 10 năm làm công nhân đi cạo mủ cao su cho Công ty Cao su Quảng Nam, anh Hồ Văn Long cho biết gần 10 năm qua, 2 vợ chồng anh đang nhận khoán của công ty gần 5 hécta với tổng thu nhập dưới 10 triệu đồng. Theo anh Long, công việc cạo mủ rất vất vả, thu nhập tuy cố định nhưng nhiều khi không đủ trang trải cho việc chi tiêu, sinh hoạt, lo cho các con học hành.

“Bây giờ nếu công ty trả đất về cho địa phương và giao cho người dân sản xuất, thực sự là điều rất vui. Tôi tin nếu được nhận đất để sản xuất ổn định, thu nhập của người dân sẽ cao hơn, bởi ngoài trồng cây lâm nghiệp, cây hoa màu, chúng tôi có thể nuôi thêm bò, kinh tế gia đình chắc chắn sẽ ổn định hơn,” anh Long nói, song cũng không quên thổ lộ rằng đó là mong ước thôi, còn thực tế không biết bao giờ.

Nguyên nhân dẫn tới việc đo đạc, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị chậm được đại diện nhiều địa phương lý giải là do tỉnh nghèo, thiếu kinh phí. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Thiếu kinh phí đo đạc vì “tỉnh nghèo”

Đi tìm nguyên nhân dẫn đến tình trạng sau hơn 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 112 song “mệnh lệnh” mà Quốc hội đặt ra, phần lớn mới chỉ được các địa phương thực hiện trên giấy, đại diện lãnh đạo các tỉnh khi trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đều đưa ra lý do chậm là bởi “khó khăn về kinh phí.”

Đơn cử như tại Kon Tum, để thực hiện yêu cầu Nghị quyết số 112, ngày 3/8/2018, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 808/QĐ-UBND về việc “phê duyệt thiết kế kỹ thuật – dự toán xác định ranh giới sử dụng đất, đo đạc, chỉnh lý bản đồ địa chính, lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận cho các đối tượng sử dụng đất có nguồn gốc từ nông lâm trường trên địa bàn” với tổng kinh phí dự toán lên tới hơn 292,4 tỷ đồng (từ nguồn kinh phí Trung ương hỗ trợ). Thời gian thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 8/20218 đến tháng 12/2020.

Tuy nhiên, thực tế việc triển khai chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là phần diện tích đất trả về địa phương quản lý – do chưa có kinh phí đo đạc chi tiết làm cơ sở xây dựng phương án sử dụng đất để giao cho người dân. Lý do đơn giản là “tỉnh nghèo.”

“Đất ở đây bán cả tỉnh không bằng nơi khác bán một lô, nên rất khó khăn”

Ông Nguyễn Văn Lộc, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kon Tum

Lý giải rõ hơn, ông Nguyễn Văn Lộc, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường – người được Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh ủy quyền trao đổi với phóng viên VietnamPlus cho biết để triển khai dự án trên, hàng năm ngân sách Trung ương hỗ trợ khoảng 70% tổng nhu cầu kinh phí; 30% còn lại là vốn đối ứng của địa phương được lấy từ 10% tổng số nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

“Thế nhưng, đất ở đây bán cả tỉnh không bằng nơi khác bán một lô, nên rất khó khăn. Vì thế, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã lập phê duyệt dự án, dự toán gửi lên Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét bố trí kinh phí,” ông Lộc cho hay.

Ông Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cho rằng đất ở đây bán cả tỉnh không bằng nơi khác bán một lô, nên rất khó khăn. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Cùng chung thực trạng trên, đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk cho rằng lý do khiến việc thu hồi đất lâm nghiệp bị lấn chiếm từ ban quản lý, công ty lâm nghiệp khó thực hiện là do phần lớn diện tích người dân đã canh tác ổn định từ trước năm 2015; nếu thu hồi sẽ cần rất nhiều kinh phí…

Tại tỉnh Quảng Nam, ông Hồ Quang Bửu, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh cũng cho biết để triển khai thực hiện kịp thời và hiệu quả Nghị quyết số 112, tỉnh này đã đề nghị Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) trình Chính phủ hỗ trợ kinh phí với tổng số tiền trên 87,2 tỷ đồng để tỉnh tiếp tục thực hiện “Đề án tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” và hỗ trợ kinh phí hơn 6,9 tỷ đồng để thực hiện dự án cắm mốc ranh giới cho 3 công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Để làm rõ hơn thực tế trên, ngày 22/4/2021, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã liên hệ Văn phòng Bộ Tài nguyên và Môi trường và được giới thiệu chuyển nội dung tới ông Lê Thanh Khuyến, Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai. Thế nhưng sau gần 1 tháng rưỡi im lặng, với nhiều lần “đá bóng” phát ngôn từ cấp trên xuống cấp dưới, ngày 4/6, người viết mới nhận được phản hồi từ đơn vị này.

Theo đó, ông Bùi Văn Hải – Cục trưởng Cục Kiểm soát quản lý và sử dụng đất đai (người được giao trả lời) cho biết: Đối với các kiến nghị của các tỉnh về kinh phí, Tổng cục quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổng hợp đầy đủ, nghiên cứu và phối hợp với các bộ, ngành khác như Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn… báo cáo Chính phủ để từng bước giải quyết.

Trang trại quy mô với ao cá, hồ phong thủy… của ông Trần Quý Kiên – Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Bộ Tài nguyên và Môi trường. (Ảnh chụp năm 2018)

Có yếu tố nhóm lợi ích chi phối rất lớn

Không thể phủ nhận thực tế khách quan ở một số địa phương chậm bố trí đất cho đồng bào dân tộc thiểu số đang thiếu hoặc không có đất sản xuất sử dụng ổn định là do “tỉnh nghèo” – thiếu kinh phí. Song nhiều ý kiến chuyên gia cũng cho rằng nguyên nhân chủ quan là do các đia phương chưa chủ động trong việc thực hiện.

Thậm chí, không ít nơi, chính quyền địa phương thu hồi đất của lâm trường nhưng lại không giao cho người dân tại chỗ mà giao cho các công ty tư nhân. Các lâm trường có nhiều đất cũng giao lại cho những người giàu có và quyền lực. Trong bối cảnh thiếu đất, đói nghèo, người dân đã canh tác trên phần diện tích mà nhà nước đã giao cho lâm trường, điều này làm phát sinh mâu thuẫn đất đai tại địa phương.

Với kinh nghiệm tham gia nghiên cứu thực tế về thực trạng quản lý, sử dụng đất nông lâm trường cho Hội đồng Dân tộc, chuyên gia lâm nghiệp Ngô Văn Hồng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển cho rằng một phần “trở ngại” bấy lâu nay là do có yếu tố “nhóm lợi ích chi phối rất lớn.”

Không ít nơi, chính quyền địa phương thu hồi đất của lâm trường nhưng lại không giao cho người dân tại chỗ mà giao cho các công ty tư nhân. Các lâm trường có nhiều đất cũng giao lại cho những người giàu có. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Cùng với đó là hiện tượng quan chức chiếm đất để tư lợi và đây cũng là rào cản khiến công tác bàn giao đất cho người dân nghèo vẫn bị vướng, bị tắc nghẽn.

Đơn cử như tại Đắk Nông, trong năm 2018, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Nông đã quyết định thi hành kỷ luật, cách chức một loạt cán bộ do để xảy ra nhiều sai phạm liên quan đến việc giao đất, giao rừng không đúng quy định. Điển hình như trường hợp ông Trần Đình Mạnh, Phó giám đốc Sở Khoa học và công nghệ (nguyên là Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Tuy Đức) – trong quá trình công tác, ông Mạnh đã “vun vén gia đình” khi để cấp dưới làm sai trong việc “hợp thức hóa hồ sơ” để vợ mình nhận chuyển nhượng từ người khác và được cấp 4 sổ đỏ (diện tích 15,7ha) từ diện tích đất rừng mà gia đình ông thuê của Nhà nước.

Hiện tượng quan chức chiếm đất để tư lợi cũng là rào cản khiến công tác bàn giao đất cho người dân nghèo vẫn bị vướng, bị tắc nghẽn

Cùng bị kỷ luật bằng hình thức cách tất cả chức vụ trong Đảng nhiệm kỳ 2005-2010, 2010-2015, ông Phạm Đặng Quang – Phó trưởng Ban thi đua khen thưởng tỉnh Đắk Nông (nguyên phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Đăk G’Long) trong quá trình công tác cũng đã để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm trong công tác giao đất, giao rừng, cho thuê đất rừng không đúng quy định.

Hay như ở Hà Nội, trước đây, Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Kết luận số 1806/KL-BTNMT ngày 15/5/2013 chỉ rõ những vi phạm trong quản lý, giao khoán đất đai của Nông trường Việt Mông (tại huyện Ba Vì). Nhưng không lâu sau đó, theo phản ánh của cử tri, đến cuối tháng 11/2014, ông Trần Quý Kiên – Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Bộ Tài nguyên và Môi trường lại “gom” đất thông qua việc “mua bán viết tay” gần 8.000m2 đất (trị giá tại thời điểm đó là 1,7 tỷ đồng) với ông Đỗ Quốc Chiến tại đội 5 thôn Phú Yên, xã Yên Bài, huyện Ba Vì để làm trang trại. Việc mua bán này đã được Ủy ban Nhân dân xã Yên Bài xác nhận.

Sau đó, ông Kiên mua thêm 10.000m2 đất nữa của một số hộ lân cận, nâng tổng số diện tích đất lên 18.000 m2. Toàn bộ diện tích “gom” được, ông Kiên đã “thiết kế” thành một trang trại quy mô với ao cá, hồ phong thủy và nhà nghỉ dưỡng…

Trả lời báo chí bên hành lang Quốc hội trong năm 2018 về việc mua bán đất nông lâm trường trên, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho hay “ở đây anh Kiên không làm việc với Nông trường Việt Mông mà mua lại quyền giao khoán của người dân để canh tác.” Dù vậy, ông Hà cũng lưu ý rằng “đây hoàn toàn là vấn đề cá nhân, chỉ có anh Kiên mới có thể giải thích, bảo vệ cho mình.”

Công trình xây dựng sai phạm xây dựng trên đất lâm nghiệp tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. (Ảnh Thành Đạt/TTXVN)

Những trường hợp nêu trên dù mới chỉ là một phần nổi của “tảng băng chìm” trong bức tranh hiện trạng quản lý, sử dụng đất nông lâm trường, song đã phần nào cho thấy những tác động ngầm trong công tác quản lý, khiến khả năng tiếp cận đất đai của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thiếu đất càng trở nên khó khăn.

Nguyên nhân thứ hai được ông Hồng chỉ ra là hiện vẫn còn “khoảng trống” chính sách. Tức là quy định trong văn bản pháp luật của Nhà nước đã nêu rất cụ thể về trách nhiệm quản lý, sử dụng đất nông lâm trường cho nhiều ngành, cơ quan khác nhau, nhưng lại không giao cho một đơn vị nào chịu trách nhiệm chính để thi hành.

Đơn cử là hiện nay các nông lâm trường, công ty lâm nghiệp thuộc quyền quản lý của tỉnh, trong khi đất đai thuộc quyền quản lý của ngành tài nguyên và môi trường; sản xuất lâm nghiệp thuộc ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn… “Đây là lỗ hổng rất lớn dẫn tới tình trạng các bên đùn đẩy trách nhiệm, cũng như thiếu sự chủ động trong việc giải quyết,” ông Hồng nhấn mạnh./.

Tác giả: Hùng Võ

***

TRẢ ĐẤT VỀ ĐỊA PHƯƠNG QUẢN LÝ:

KHÔNG THỂ ĐỂ MÃI CẢNH ‘QUÝT LÀM CAM CHỊU’

Bày tỏ quan điểm trước những bất cập trong việc trả đất theo kiểu “dễ làm, khó bỏ” của các ban quản lý, công ty nông lâm trường có thể sẽ tiếp tục dẫn tới khiếu kiện, gây thất thoát tài nguyên quốc gia, đại diện lãnh đạo các địa phương và giới chuyên gia cho rằng không thể để tiếp diễn mãi cảnh vô lý “quýt làm, cam chịu.”

Vì thế, để giải quyết thực tế trên, Chính phủ cần tiếp tục quyết liệt chỉ đạo các cấp, ngành tập trung rà soát, kiểm tra trên địa bàn từng xã để có phương án xử lý dứt điểm các trường hợp tranh chấp, làm rõ trách nhiệm của từng bên liên quan.


Phải rà soát, đo đạc kỹ đất đai trước khi bàn giao

Như VietnamPlus đã phản ánh trong bài trước, một trong những vướng mắc trong việc giải quyết vấn đề đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thời gian qua là bởi phần lớn các địa phương thiếu kinh phí nên không chủ động xây dựng phương án đổi mới mà để các nông, lâm trường “tự rà soát, tự đánh giá.”

Thế nhưng, khi địa phương “đá” trách nhiệm, các ban quản lý, công ty nông lâm nghiệp lại tiếp tục “làm phương án thật hay” là vẫn quản lý, sử dụng gần như được hết toàn bộ diện tích được giao; chỉ có những chỗ nào mất rừng, thực sự bị tranh chấp, bị lấn chiếm, không thể quản lý được nữa – mới trả lại và cũng không rà soát, đánh giá cụ thể để giải quyết các vướng mắc, mâu thuẫn trước khi bàn giao. Từ dó dẫn tới thực trạng nhiều địa phương “không mặn mà” trong việc nhận lại đất.

Cây cà phê trồng trên diện tích lấn chiếm đất rừng tại xã Phúc Thọ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. (Ảnh: Đặng Tuấn TTXVN)

Chia sẻ với người viết về thực tế trên tại địa phương, ông Nguyễn Văn Lộc, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Kon Tum thừa nhận mặc dù Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 112/2015/QH13 về “tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng,” nhưng sau 5 năm, việc điều chỉnh lại đất đai vẫn chưa được kết quả mong muốn.

“Riêng diện tích trả về, nhất là rừng, hiện rất phức tạp bởi có phần diện tích thì chồng lấn, giao nhầm, phần công ty lâm nghiệp không sử dụng nữa hoặc sử dụng không tốt để dân xâm lấn nên giờ các công ty mới trả lại. Chưa kể phần đất trả lại, ngày xưa đã là của dân nhưng một số công ty vẫn khoanh lại thành lâm trường. Thậm chí, đất trụ sở ủy ban xã, người ta cũng khoanh luôn. Lý do là ngày xưa, các nông lâm trường thuê tư vấn chụp ảnh vệ tinh nên cứ thấy chỗ nào xanh xanh là coi như rừng, cũng chẳng căn cứ theo hiện trạng trên thực địa,” ông Lộc nhấn mạnh.

“Phần đất trả lại, ngày xưa đã là của dân, nhưng một số công ty vẫn khoanh lại thành lâm trường. Thậm chí, đất trụ sở ủy ban xã, người ta cũng khoanh luôn.”

Ông Nguyễn Văn Lộc, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Kon Tum

Đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường Kon Tum cũng khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với những phần diện tích nêu trên rất phức tạp. Nếu cấp thì phải làm rõ hiện trạng và phải có phương án sử dụng đất được Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt là đất đó sẽ dùng cho mục đích gì thì mới cấp được.

Từ thực tế nêu trên, ông Lộc nêu quan điểm: Để giải quyết được hiệu quả phần đất nông, lâm trường trả về cho địa phương thì cần phải xử lý triệt để các vướng mắc. Đầu tiên là công ty lâm nghiệp trả về thì phải tiến hành đo đạc, kiểm tra và ai làm mất rừng thì phải quy trách nhiệm cụ thể rồi mới trả về địa phương…

“Nếu bàn giao một cục thì sẽ không địa phương nào giám nhận, bởi vướng tài sản trên đất và cũng rất khó bóc tách để cấp sổ đỏ. Chưa kể, nếu nhận mai mốt quy trách nhiệm là đã để mất rừng, ai sẽ chịu? Trong khi, ngành tài nguyên chỉ quản lý đất, còn tài sản trên đất là rừng thì chúng tôi không quản lý. Vì thế, việc để mất rừng hay không là do ngành lâm nghiệp quản lý và phía lâm nghiệp phải làm rõ,” ông Lộc nói.

Có chung quan điểm, ông Trần Văn Sỹ, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cho rằng đất đai có nguồn gốc từ nông lâm trường là một loại “tài sản to.” Tuy nhiên, thực hiện theo Nghị định số 118 của Chính phủ, phần diện tích đất nông lâm trường trả về cho địa phương quản lý chưa có kinh phí để đo, cũng chưa có kế hoạch sử dụng đất cụ thể nên một số huyện chưa nhận.

  • Ông Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Kon Tum cho rằng để giải quyết được hiệu quả phần đất nông, lâm trường trả về cho địa phương thì cần phải xử lý triệt để các vướng mắc. (Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN)
  • Việc huy động nguồn lực đầu tư phát triển gắn với quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng có hiệu quả, đảm bảo đúng mục đích sẽ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, xóa đói giảm nghèo. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
  • Cán bộ kiểm lâm phối hợp với tổ cộng đồng làng Ia Ke, xã Ia Phang (Chư Pưh, Gia Lai) tuần tra bảo vệ rừng trên địa bàn. (Ảnh: Hoài Nam/TTXVN)
  • Cần có một cơ chế đủ mạnh, đủ thuyết phục, hài hòa được lợi ích các bên liên quan trong việc thu hồi, giao đất. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
  • Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng khi để các công ty nông, lâm nghiệp tự rà soát đất đai mình đang nắm giữ thì khó có thể có được dữ liệu thực. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
  • Ông Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Kon Tum cho rằng để giải quyết được hiệu quả phần đất nông, lâm trường trả về cho địa phương thì cần phải xử lý triệt để các vướng mắc. (Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN)

Cần có một cơ chế đủ mạnh, đủ thuyết phục, hài hòa được lợi ích các bên liên quan trong việc thu hồi, giao đất. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Theo ông Sỹ, khó khăn hiện tại đang gây “tắc” là quy hoạch mới chưa có, quy hoạch cũ thì không còn chỉ tiêu. “Hơn nữa, các công ty lâm nghiệp không quản lý được dẫn tới tranh chấp, để mất đất thì khi bàn giao về địa phương cần phải làm rõ là bàn giao những gì? càphe, cao su đã trồng bao lâu? còn bao nhiêu đất trống? bao nhiêu đất đang xảy ra tranh chấp? bao nhiêu căn nhà đã xây trên đó?” ông Sỹ nhấn mạnh.

Ngoài ra, nhiều diện tích đất bàn giao về địa phương, trước đây nông trường, lâm trường đã giao khoán, cho thuê, cho mượn và liên doanh liên kết, hợp tác đầu tư. Nhiều diện tích bị lấn, bị chiếm, đang tranh chấp. Thậm chí, nhiều trường hợp đã thực hiện việc mua bán, chuyển nhượng phi chính thức, không đúng theo quy định.

Từ thực tế nêu trên, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Lắk cho rằng trước khi bàn giao đất về địa phương quản lý, sử dụng, các công ty lâm nghiêp cần phải làm rõ hiện trạng diện tích. “Có tách bạch được việc đo đạc trước khi bàn giao thì địa phương mới nhận được; không thể ngày xưa giao cho ông một cục đất sạch giờ ông lại trả một mớ mà không đánh giá gì được,” ông Sỹ nói.

Đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đắk Lắk cũng nêu quan điểm để giải quyết vướng mắc trên, việc cần thiết hiện nay là cần tổ chức điều tra, rà soát thực trạng, thống kê tình hình người dân lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn.

Cùng với đó, các bên liên quan cần tổ chức kê khai diện tích đất xâm lấn trên lâm phần của các chủ rừng làm cơ sở cho việc phân loại đối tượng, diện tích, thời điểm lấn chiếm; đề xuất chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với một số diện tích đất lâm nghiệp không còn rừng để cấp cho các hộ dân thuộc đối tượng dự án bố trí và sắp xếp ổn định dân di cư tự do để người dân yên tâm sản xuất, phát triển kinh tế.

Sau 5 năm tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh, việc điều chỉnh lại đất đai tại nhiều địa phương vẫn chưa được kết quả mong muốn. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Cần phải có hệ thống thông tin đất đai minh bạch

Với kinh nghiệm nhiều năm phụ trách công tác quản lý về đất đai, giáo sự Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng câu chuyện trên cũng là thực trạng thực tế đang xảy ra tại hầu hết các địa phương trên cả nước. Lý do là chính sách đất đai lâm nghiệp liên quan tới diện tích khá rộng có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh chưa phù hợp với cuộc sống thực tế.

Trong quá trình thực hiện trước đây – Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 về “tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh,” diện tích đất các công ty nông, lâm nghiệp bàn giao về địa phương không đáng bao nhiêu so với tổng diện tích đất giữ lại. Đến năm 2014, khi thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW về “tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp,” diện tích rừng giao về cho địa phương lại thường là đất xấu, đất xa khu dân cư nên đồng bào dân tộc thiểu số cũng không muốn nhận.

Ngay cả Nghị quyết số 112/2015/QH13 về “tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông, lâm nghiệp, Ban Quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng,” trong nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng, chủ trương của ta chủ yếu vẫn là dựa vào Nhà nước. Trong khi, thực chất Nhà nước không đủ con người, tài chính để thực hiện.

Qua phân tích nêu trên, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng chủ trương trên cần được đổi mới, chuyển sang cách thức lấy động lực từ dân, dựa chủ yếu vào sự tham gia của dân vào bảo vệ và phát triển rừng gắn với hưởng lợi từ rừng. Bởi lẽ rừng từ xưa tới nay là sinh kế của cộng đồng dân cư miền núi, họ bảo vệ vì chính sinh kế của họ, nhất là các cộng đồng truyền thống có luật tục riêng.

“Chính sách đất rừng cần được hoạch định dựa trên nguyên tắc lợi ích, nhìn thẳng vào lợi ích cụ thể từ đất đai”

Giáo sự Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

“Vì thế, chính sách đất rừng cần được hoạch định dựa trên nguyên tắc lợi ích, nhìn thẳng vào lợi ích cụ thể từ đất đai. Khi không tiếp cận theo lợi ích thì chính sách vẫn chỉ nằm trên giấy và sẽ không thể thực thi trên thực tế. Đặc biệt, khi để các công ty nông, lâm nghiệp tự rà soát đất đai mình đang nắm giữ thì khó có thể có được dữ liệu thực. Ngay cả khi chuyển về địa phương, chưa chắc địa phương đã giao cho các cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất,” ông Võ nhấn mạnh.

Có chung quan điểm, chuyên gia lâm nghiệp Ngô Văn Hồng-Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kiến thức bản địa và phát triển, cho rằng trong bối cảnh hiện nay cần phải có hệ thống thông tin đất đai nông lâm trường quốc doanh một cách minh bạch để nhân dân, đại biểu nhân dân, chính quyền địa phương và các tầng lớp xã hội giám sát, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất đai.

Dẫn lại câu nói của Bác Hồ “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong,” ông Hồng cho rằng nếu người dân địa phương được tham gia góp ý, tham gia giám sát, chắc chắn sẽ đảm bảo được tính minh bạch về nguồn gốc đất đai.

Ngoài ra, ông Hồng cũng nêu quan điểm bên cạnh việc minh bạch hệ thống dữ liệu đất đai, Nhà nước cần quy trách nhiệm rõ ràng, không thể để mãi cảnh “quýt làm, cam chịu” được. Theo đó, đơn vị nào được nhà nước giao thực hiện quản lý mà không thực hiện hoặc để xảy ra vi phạm thì lãnh đạo đơn vị đó phải bị xử lý, phải chịu trách nhiệm. Có như thế thì những vấn đề vướng mắc về đất đai mới thực sự được giải quyết.

Ông Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Kon Tum cho rằng để giải quyết được hiệu quả phần đất nông, lâm trường trả về cho địa phương thì cần phải xử lý triệt để các vướng mắc. (Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN)

Xã hội hóa để huy động mọi nguồn lực

Bên cạnh các giải pháp tháo gỡ vướng mắc từ cơ chế chính sách cũng như bất cập trong quá trình quản lý, thực thi, các chuyên gia cũng đặc biệt lưu ý rằng trong bối cảnh việc “giải phóng” nguồn lực đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số đang gặp khó khăn, các địa phương cần tính đến phương án xã hội hóa để huy động mọi nguồn lực (vốn, nhân lực…) tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế dưới những tán rừng; phát huy vai trò chủ thể của người nông dân trong quá trình giải quyết tình trạng sản xuất trên đất lâm nghiệp, phát huy tiềm năng, lợi thế đất đai.

Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Tiến, Vụ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Ban Kinh tế Trung ương) việc huy động nguồn lực đầu tư phát triển gắn với quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng có hiệu quả, đảm bảo đúng mục đích sẽ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội bền vững.https://e.infogram.com/13bccee4-8dc1-4003-8ff4-75dc6c48bd39?parent_url=https%3A%2F%2Fspecial.vietnamplus.vn%2Ftra-dat-ve-dia-phuong-quan-ly-khong-the-de-mai-canh-quyt-lam-cam-chiu%2F&src=embed#async_embed

Về việc lựa chọn nhà đầu tư, tiến sĩ Trương Thị Hạnh, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên cho rằng đối với các công ty mới, khi triển khai các dự án, phương án thực hiện cần phải chặt chẽ các quy trình theo quy định của pháp luật; các sở, ngành liên quan trước khi tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt, lựa chọn nhà đầu tư cần phải thẩm định kỹ năng lực của chủ đầu tư, hiệu quả của dự án.

Trước khi địa phương tiến hành giao rừng phải thực hiện công tác kiểm kê, phân loại rừng, lập biên bản giao đất, giao rừng ngoài thực địa đúng với hiện trạng rừng vốn có; các công ty cần xác định chiến lược kinh doanh để nhận diện tích vừa đủ, tránh quá khả năng dẫn đến “ôm” nhiều đất nhưng quản lý kém, không hiệu quả.

Tính đến thời điểm tháng 12.2018, tại Gia Lai, 16 doanh nghiệp xin chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su trên địa bàn đã trồng được 25.000 cao su thì có hơn 12.000ha bị chết, sinh trưởng kém. (Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN)

Góp thêm ý kiến, ông Đậu Công Hiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng cần có một cơ chế đủ mạnh, đủ thuyết phục, hài hòa được lợi ích các bên liên quan trong việc thu hồi, giao đất. Trong khi chưa có được cơ chế như mong muốn, trước mắt cần công khai các qúa trình thu hồi – giao đất.

Việc công khai cần thực hiện cả 2 chiều: Bên nhận đất thu hồi (diện tích đất), bên nhận giao đất (ai được nhận, để làm gì) để các bên theo dõi, kiểm tra. Cùng với đó, cần có chế tài đủ mạnh đối với những chủ thể nhận giao nhưng không sử dụng đúng tiến độ và mục đích sử dụng.

“Cùng với đó, Nhà nước cần thường xuyên rà soát, đánh giá để đưa ra những giải pháp tốt hơn cho quá trình hậu thu hồi đất,” ông Hiệp nhấn mạnh.

Ngoài ra, ông Hiệp cũng đề xuất giải pháp tái cơ cấu lại hệ thống chiếm hữu và quản lý đất đai; sắp xếp lại các công ty nông lâm nghiệp nhà nước. Theo ông Tiến, việc tiếp tục sắp xếp lại các công ty nông, lâm nghiệp nhà nước là một vấn đề lớn.

Tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk ngày 30/6/2021, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ cho biết trong quá trình giám sát đất đai có nguồn gốc từ nông lâm trường, Quốc hội rất “sốt ruột” vấn đề này. (Ảnh: TTXVN phát)

Tuy nhiên, việc các công ty này hoạt động với nguồn vốn nhà nước nhưng vẫn phục vụ mục đích kinh doanh là không đáp ứng các yêu cầu của phát triển bền vững, khiến các công ty không có động lực để giữ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học.

Do đó, theo ông Hiệp, việc quản lý đất nông lâm trường cần nghiên cứu chuyển đổi sang các mô hình khác và đảm bảo rằng nhà nước chỉ thực hiện các nhiệm vụ tối thiểu là bảo vệ môi trường sống, tuyệt đối không đầu tư kinh doanh vì đây là lĩnh vực rất dễ xảy ra tham nhũng, gây lãng phí.

Tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk chiều 30/6, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã đề nghị Đắk Lắk rà soát lại vấn đề quản lý, sử dụng đất đai ở các nông lâm trường, tránh tình trạng để lãng phí, chưa có kế hoạch sử dụng trong khi người dân vẫn thiếu đất ở, đất sản xuất.

Theo Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, đất đai mà các công ty nông, lâm trường chuyển về địa phương là khá lớn nhưng chưa được đo vẽ, cắm mốc, lập bản đồ địa chính vẫn còn rất nhiều. Số lượng diện tích đất chưa bàn giao, chưa nhận hoặc nhận bàn giao rồi nhưng chưa có kế hoạch sử dụng cũng còn rất lớn. Đó cũng là lý do mà trong quá trình giám sát, Quốc hội rất “sốt ruột” vấn đề này.

Vì thế, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã đề nghị Hội đồng Nhân dân tỉnh Đắk Lắk nên có kế hoạch giám sát vấn đề này, nhất là đất đai tại các công ty thuộc Tổng công ty cà phê, cao su… Ngoài ra, tới đây, Quốc hội cũng sẽ xem xét tái giám sát vấn đề này để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s