dona3

Tân Nhạc VN – Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Dân Ca Dân Nhạc – “Tiếc Thương” (“Dona Dona”) – Aaron Zeitlin & Sholom Secunda

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn bài dân ca truyền thống của người Do Thái lưu vong “Tiếc Thương” (“Dana Dana”, “Dona Dona”) của nhà soạn kịch Aaron Zeitlin và các nhạc sĩ Sholom Secunda, Tuấn Dũng.

Nhà soạn kịch Aaron Zeitlin sinh năm 1898 in tại Uvarovichi, Belarus, mất năm 1973 tại New York, là người gốc Do Thái, tác giả một số sách về văn chương Do Thái, thi ca và tâm lý ngoại cảm.

Ông lớn lên ở Gomel (Belarus) và Vilna (Lithuania). Năm 1920 ông và người anh Elchanan đến Palestine và 1921 hai anh em trở lại Waraw (Poland).

Hồi nhỏ ông đã có khiếu văn chương và có vài bài viết đăng trên các báo cho trẻ em. Tác phẩm văn chương đầu tiên của ông là Matatron xuất hiện trên báo Di yidishe velt (“Thế giới Do Thái) năm 1914, tiếp theo sau đó là nhiều bài đăng trên các báo Do Thái hàng đầu.

Aaron Zeitlin.
Aaron Zeitlin.

Năm 1939, ông được nhà soạn kịch Do Thái Maurice Schwartz mời đến New York (Mỹ), và ông sống luôn tại New York cho đến khi qua đời năm 1973.

Vở kịch Chelmer Chachomim của ông đã nổi tiếng từ Nhà Hát Do Thái ở New York trước khi ông sang Mỹ. Và từ khi sang Mỹ ông dần dần trở thành trụ cột trong cộng đồng Do Thái ở Mỹ.

Có một thời gian ông là giáo sư Văn chương Cổ Do Thái tại “Chủng viện Thần học Do Thái” tại Mỹ Châu ở New York.

Ông thân cận với những tài năng lớn về văn chương Do Thái thời đó, kể cả Isaac Bashevis Singer, người đã viết về ông: “Tội lớn nhất của Aaron Zeitlin là văn chương, văn chương tôn giáo, và bất kỳ thứ gì và mọi thứ có giá trị trí thức. Anh ta là người có kiến thức rất rộng, một người tâm linh khổng lồ có minh chứng.”

Cùng với Sholom Seunda, ông viết bản nhạc Do Thái nổi tiếng thế giới “Donna Donna”.

Nhạc sĩ Sholom Secunda.
Nhạc sĩ Sholom Secunda.

Nhạc sĩ Sholom Secunda, sinh năm 1894 tại Aleksandriya, Nga, mất năm 1974 tại New York, Mỹ, là một nhà soạn nhạc Mỹ gốc Do Thái Ukraine.

Năm 1897 cha mẹ ông chuyển gia đình về thành phố cảng Nikolaev bên bờ Biển Đen để mở xưởng làm giường sắt.

Ở tuổi 12 ông đóng vai Abraham trong vở kịch Abraham Goldfaden’s Akeydes Yitskhok (Hy Sinh Isaac), và vai Markus trong vở kịch Kishef-Makherin (Nữ phù thủy).

Năm 1907, cũng như nhiều người Do Thái khác ở đế quốc Nga, cha mẹ chuyển gia đình di dân sang Mỹ. Ở New York Sholom được học hát để hát và dẫn lời nguyện trong nhà thờ. Khi giọng bị thay đổi, ông học nhạc và dạy dương cầm, và hát trong ca đoàn của kịch viện hài, cho đến khi bản nhạc Amerike của ông được ca sĩ Jennie Goldstein hát thành công lớn với đĩa nhạc Unzere kinder (Trẻ em của chúng ta) của Kornblum.

Năm 1919-1920 ông có được bài nhạc soạn đầu tiên trong vở kịch The Rabbi’s Daughter and Free Slaves (Thầy tế lễ và Những Nô lệ Tự do). Lúc đó ông làm việc dưới nhạc trưởng Boris Thomashevsky tại Nhà hát Metropolitan Opera House của thành phố Philadelphia.

Năm 1921-1922 ông là nhạc trưởng và nhà soạn nhạc của Clara Young Liberty Theater.

Ông viết rất nhiều bản nhạc sau đó. Cùng với Aaron Zeitlin ông viết bản nhạc Do Thái “Dos kelbl (The Calf)” (còn gọi là “Donna Donna”) được nhiều ca sĩ Mỹ nổi tiếng ghi âm như Donovan và Joan Baez và ngày nay nổi tiếng khắp thế giới.

dona3

“Dona Dona” hay “Donna Donna” (דאָנאַ דאָנאַ “Dana Dana”, דאָס קעלבל “Dos Kelbl”) là một bài dân ca của người Do Thái lưu vong nổi tiếng trên khắp thế giới với lời viết như thơ ngụ ngôn trách người Do Thái khờ dại như bò con bị bắt vào chuồng mỗ mà không biết tại sao, như đang bị áp bức vào thời đó tại nhiều nơi trên thế giới; và khuyến khích những người Do Thái hãy có cánh như chim én để tự do.

Nguyên thủy, bài hát tên là “Dana Dana”, được viết riêng bằng tiếng Yiddish cho vở nhạc kịch “Esterke” vào khoảng năm 1940-1941 ở Mỹ trong thời kỳ của Đức Quốc Xã, thơ: Aaron Zeitlin (1898-1973), phổ nhạc: Sholom Secunda (1894-1974). Cả hai tác giả đều là người gốc Do Thái.

Bản dịch đầu tiên tiếng Anh do chính Sholom Secunda dịch, kể về tâm sự của một chú bò con, bị đem ra chợ bán, và ước vọng tự do.  Bản tiếng Anh này không được nổi tiếng. Vào khoảng năm 1956, Arthur Kevess và Teddi Schwartz dịch lại bài hát sang tiếng  Anhvới tên “Donna Donna” và gây một chấn động lớn trong làng giải trí.

Bản tiếng Pháp lời viết khác lời nguyên thủy, là câu chuyện của một bé trai có ước muốn trở thành người lớn, nhưng khi đạt được giấc mơ cậu lại hối tiếc vì đã vứt bỏ quãng đời thơ ấu quá đỗi đẹp đẽ.

Bài được viết theo nhịp 2/4, cung Sol thứ cho hai người hát hợp xướng (một nam và một nữ) cùng dàn nhạc. Secunda dùng ký hiệu “Dana-” cho dàn nhạc và “Dana Dana” cho phần thanh nhạc. Phần lời tiếng Yiddish đã được viết bằng chữ cái Latin. Ông viết “andantino” (chậm) và “sempre staccato” (chơi ngắt âm liên tục) cho bảng tổng phổ. Giai điệu ở đoạn mở đầu cũng được sử dụng ở phần cuối của bài hát. Ông viết “piu mosso” (nhanh hơn) cho điệp khúc và một số đoạn nhấn mạnh âm thanh của các khí cụ. Đầu tiên, người phụ nữ (Secunda viết “she”) hát bốn nhịp và sau đó người đàn ông (Secunda viết “he”) hát bốn nhịp tiếp theo. Bắt đầu từ đoạn điệp khúc, họ hát cùng nhau. Mặc dù vậy, khi hát đoạn thứ ba của “Dana Dana” (=”Dana Dana Dana Dana…”) người đàn ông đôi khi hát thấp hơn giai điệu, sử dụng “disjunct motions”. Giai điệu được lặp lại. Sau đó “he” hát giai điệu, và “she” đôi khi hát “Dana”, lúc khác thì hát “Ah” với âm lượng cao hoặc với những nét luyến kỹ thuật. Secunda viết “molto rit.” (chậm dần) cho phần kết của đoạn cuối. Có một số sự khác biệt giữa giai điệu của nguyên bản với bản đang hiện hành: Secunda viết “ha ha ha” cho bảng tổng phổ với những hợp âm đứt quãng.

Bài hát được dịch hoặc viết lời khác với nhiều thứ tiếng khác nhau, có thể kể dưới đây một số bản dịch rất thành công: tiếng Anh, Đức, Hebrew, Nhật, Nga, Pháp và Việt. Các ca sĩ và nhóm nhạc thể hiện thành công: André Zweig, Joan Baez (Anh), Donovan, Chava Alberstein, Esther Ofarim, Theodore Bikel, Karsten Troyke, Hélène Rollès song ca với Dorothée, Claude François (Pháp), Lisa Fishman đã hát một phiên bản rất ấn tượng, được phát trên sóng năm 2001 trên đài Jewish Entertainment Hour, đây là một chương trình truyền hình New York. Bài hát này cũng được chọn làm nhạc phim hoạt hình (animation) “Revolutionary Girl Utena”.

Bài hát trở thành nổi tiếng qua giọng hát của Joan Baez năm 1960 và Donovan năm 1965; tiếp đến nó xuất hiện trong album tổng hợp mang tựa “More Chad & Jeremy”, và do chính cặp đôi này hát.

Nhạc sĩ Tuấn Dũng (Ban nhạc Mây Trắng) viết lời Việt cho nhạc phẩm “Donna Donna” trong thập niên 60 với tựa đề “Tiếc Thương”.

dona_ĐB

Nhạc phẩm “Dana Dana” (Nguyên bản tiếng Yidish)

אױפֿן פֿורל ליגט דאָס קעלבל,
ליגט געבונדן מיט אַ שטריק.
הױך אין הימל פֿליט דאָס שװעלבל,
פֿרײט זיך, דרײט זיך הינט נאָך צריק.

לאַכט דער װינט אין קאָרן,
לאַכט און לאַכט און לאַכט,
לאַכט ער אָפּ אַ טאָג אַ גאַנצן
מיט אַ האַלבע נאַכט.
דאָנאַ, דאָנאַ, דאָנאַ,…

שרײַט דאָס קעלבל, זאָגט דער פּױער:
װער זשע הײסט דיר זײַן אַ קאַלב?
װאָלסט געקענט דאָך זײַן אַ פֿױגל,
װאָלסט געקענט דאָך זײַן אַ שװאַלב.

בלינדע קעלבער טוט מען בינדן
און מען שלעפּט זײ און מען שעכט,
װער ס’האָט פֿליגל, פֿליט אַרױפֿצו,
איז בײַ קײנעם ניט קײן קנעכט.

dona_English2

Nhạc phẩm “Donna Donna” (“Dos kelbl”, “The Calf”, “Dana Dana” – Bản dịch tiếng Anh của hai nhạc sĩ Arthur Kevess và Teddi Schwartz).

On a wagon bound for market
There’s a calf with a mournful eye.
High above him there’s a swallow
Winging swiftly through the sky.

How the winds are laughing
They laugh with all their might
Laugh and laugh the whole day through
And half the summer’s night.

Dona, dona, dona, dona,
Dona, dona, dona, do,
Dona, dona, dona, dona,
Dona, dona, dona, do.

“Stop complaining,” said the farmer,
“Who told you a calf to be?
Why don’t you have wings to fly with
Like the swallow so proud and free?”

How the winds are laughing…
Calves are easily bound and slaughtered
Never knowing the reason why.
But whoever treasures freedom,
Like the swallow has learned to fly.

Dona, dona, dona, dona,
Dona, dona, dona, do,
Dona, dona, dona, dona,
Dona, dona, dona, do.

dona3

“Chúa ơi, chúa ơi” (“Dos kelbl”, “The Calf”, “Dana Dana” – Bản dịch tiếng Việt từ tiếng Anh của Trần Đình Hoành)

Trên toa xe kéo về hướng chợ
Chú bò con mắt lệ thảm sầu
Cao trên đầu vòng bay chim én
Xoải cánh nhanh ngang dọc trời sâu

Những ngọn gió cười hoài quá đỗi
Cười với toàn sức mạnh của mình
Cười, cười và cười cả ngày rồi
Cười thêm nửa đêm hè mới thôi

Chúa ơi, chúa ơi, chúa ơi, chúa ơi
Chúa ơi, chúa ơi, chúa ơi, chúa
Chúa ơi, chúa ơi, chúa ơi, chúa ơi
Chúa ơi, chúa ơi, chúa ơi, chúa

“Ngưng phàn nàn,” bác nông phu nói,
“Ai bảo chú làm phận bò con?
“Sao không có cánh bay vời vợi
“Như én tự do vùng vẫy cả đời?”

Những ngọn gió cười hoài quá đỗi…

Chúa ơi, chúa ơi, chúa ơi, chúa ơi…

Bò con dễ trói và làm thịt
Chẳng hề biết duyên cớ tại sao
Nhưng người quý tự do chí ít
Cũng phải như én học bay cao

Những ngọn gió cười hoài quá đỗi…

Chúa ơi, chúa ơi, chúa ơi, chúa ơi…

Nhạc phẩm “Donna Donna” (Дона-дона-дон – bản tiếng Nga của Zeev Geisel)

Через поле да пригорок
Всё телега катится,
А за ней смешной телёнок
На верёвке тащится…

В небе соловей поёт, чуднАя песенка:
Вроде смех, а может – и звон колокольчика –
Дона-дона-дона-дона, дона-дона-дона-дон,
Дона-дона-дона-дона, дона-дона-дона-дон,

Может, если б – если б только
Тебе пару крыльев дать,
В небо ты взлетел высоко,
До него ведь крылом подать.

А в небе соловей поёт, чуднАя песенка:
Вроде смех, а может – и звон колокольчика –
Дона-дона-дона-дона, дона-дона-дона-дон,
Дона-дона-дона-дона, дона-дона-дона-дон,

Но телёнок всё шагает
Прямо в гости к мяснику,
Он о небе не мечтает
И не ведает тоску…

В небе соловей поёт, чуднАя песенка:
Вроде смех, а может – и звон колокольчика –
Дона-дона-дона-дона, дона-дона-дона-дон,
Дона-дона-дона-дона, дона-дона-дона-дон…

dona_French1

dona_French

Nhạc phẩm “Donna Donna” (“Dana Dana” – bản tiếng Pháp của ca nhạc sĩ Claude Francois)

Il était une fois un petit garçon
Qui vivait dans une grande maison
Sa vie n’était que joie et bonheur
Et pourtant au fond de son cœur

Il voulait devenir grand
Rêvait d’être un homme.
Chaque soir il y pensait
Quand sa maman le berçait:

Donna Donna Donna Donna
Tu regretteras le temps
Donna Donna Donna Donna
Où tu étais un enfant…

Puis il a grandi, puis il est parti
et il a découvert la vie
Les amours déçues, la faim et la peur
et souvent au fond de son cœur

Il revoyait son enfance
Rêvait d’autrefois
Tristement il y pensait
et il se souvenait:

Donna Donna Donna Donna
Tu regretteras le temps
Donna Donna Donna Donna
Où tu étais un enfant…

Parfois je pense à ce petit garçon,
Ce petit garçon que j’étais.

Nhạc sĩ Tuấn Dũng.
Nhạc sĩ Tuấn Dũng.

dona_TT1

Nhạc phẩm “Tiếc Thương” (“Dana Dana”, “Donna Donna” – bản tiếng Việt của NS Tuấn Dũng)

Ánh đèn vàng hiu hắt, khói trầm cay đôi mắt.
Em nằm đó sao thôi cười thôi nói?
Dáng buồn còn vương nét. Mắt huyền giờ đã khép.
Em nằm đó như đang mơ mộng gì.

Em theo mây bay quên cuộc đời, đời đầy nghĩa thương đau.
Mây đưa em bay đi tìm trời, và nơi đó em có nhớ tôi.
Em ơi em ơi em, hỡi người yêu dấu!
Sao em yêu vội sớm ra đi. Em ơi em ơi em, hỡi người yêu dấu!
Đau lòng thay phút giây xa rời.

Tiếng đàn ai buông lơi, tiếng đàn như tiếng khóc
rung từng phím tơ não nùng ai oán.
Khiến lòng tôi thổn thức, khiến lòng tôi ray rức.
Môi mặn đắng nước mắt thương tiếc nàng.

Em theo mây bay quên tình người,
người đầy những dối gian.
Mây đưa em bay đi về trời, và nơi đó em có nhớ tôi.
Em ơi em ơi em, hỡi người yêu dấu!
Sao đôi ta vội sớm chia ly!
Em ơi em ơi em, hỡi người yêu dấu!
Thế rồi tôi mất em suốt đời!

Dưới đây mình có bài:

– DONNA DONNA – ca khúc dân gian của người Do-thái lưu vong

Cùng với 13 clips tổng hợp nhạc phẩm “Tiếc Thương” (“Dos kelbl”, “The Calf”, “Dana Dana”, “Dona Dona”, “Donna Donna”) để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

dona1

DONNA DONNA – ca khúc dân gian của người Do-thái lưu vong

(Hoài Nam)

Theo phác họa ban đầu, chương trình “Những ca khúc ngoại quốc lời Việt” của chúng tôi sẽ khởi đầu với thời kỳ nhạc cổ điển, tiếp đến là thời kỳ hiện đại, sau đó tới một số ca khúc dân gian điển hình, rồi tới những ca khúc nổi tiếng trong phim ảnh, và cuối cùng là một số ca khúc được ưa chuộng sau năm 1975.

Hiện nay, chúng ta đã bước vào thời kỳ hiện đại, và trong mấy kỳ vừa qua, chúng tôi đã giới thiệu những ca khúc điển hình của tiền bán thế kỷ thứ 20. Theo dự trù, tiếp theo sẽ là những ca khúc của thời nhạc Pop (thập niên 1950), nhạc Rock (thập niên 1960), tuy nhiên khi nhìn lại thời điểm xuất hiện của những ca khúc dân gian sẽ được giới thiệu, chúng tôi nhận thấy hầu hết đã được phổ biến và ưa chuộng trước thời nhạc Pop. Vì thế, để dòng nhạc chảy xuôi theo dòng thời gian, chúng tôi sẽ gửi đến bạn đọc các ca khúc dân gian ấy trước khi giới thiệu các ca khúc của thời nhạc Pop.

Ca khúc dân gian đầu tiên chúng tôi giới thiệu là một ca khúc của người Do-thái lưu vong, sau khi được nữ ca sĩ du ca Joan Baez của Mỹ hát lời bằng tiếng Anh và Claude Francois hát bằng tiếng Pháp, đã trở nên nổi tiếng quốc tế. Riêng tại Việt Nam, trước năm 1975, Donna Donna đã được Tuấn Dũng đặt lời Việt với tựa “Tiếc Thương”, và sau này được ca nhạc sĩ du ca Trần Tiến dịch lời hát bằng tiếng Pháp sang tiếng Việt, tuy nhiên vẫn giữ nguyên tựa “Donna Donna”.

Donna Donna có tựa đề nguyên thủy là “Dana Dana”, trích từ vở ca kịch “Esterke” của người Do-thái lưu vong sống ở Hoa Kỳ (diễn trong 2 năm 1940, 1941), viết bằng tiếng Yiddish.

[Yiddish là ngôn ngữ của một bộ phận lớn người Do-thái vong quốc, bắt đầu hình thành vào thế kỷ thứ 10 tại vùng sông Rhine (Rhineland, Đức), rồi phát triển sang Trung Âu và Đông Âu, nơi có nhiều người Do-thái sống lưu vong. Về mặt cấu tạo, Yiddish là sự phối hợp giữa thổ ngữ của người Đức ở khu vực sông Rhine với tiếng Do-thái cổ và tiếng Slavic. Tới thế kỷ thứ 18, Yiddish trở thành ngôn ngữ chính thức của nhiều cộng đồng Do-thái ở Bắc Âu, Đông Âu. Hiện nay, Yiddish chỉ còn được gần 2 triệu người Do-thái hải ngoại sử dụng như ngôn ngữ chính thức, và khoảng 12 triệu người khác sử dụng như ngôn ngữ thứ hai]

Tác giả của vở ca kịch “Esterke” là nhà soạn kịch Aaron Zeitlin và nhạc sĩ Sholom Secunda; nội dung vở kịch nói về số phận bi thảm của người Do-thái đang bị Đức Quốc Xã tàn sát trong các trại tập trung.

Nhà soạn kịch Aaron Zeitlin.
Nhà soạn kịch Aaron Zeitlin.
Nhạc sĩ Sholom Secunda.
Nhạc sĩ Sholom Secunda.

Cho tới nay, vẫn chưa có một sự giải thích thống nhất về tựa đề nguyên thủy “Dana Dana”; tuy nhiên theo đa số, có lẽ chữ “Dana” ở đây là rút gọn của chữ “Adonai”, có nghĩa là “Thượng đế” trong tiếng Do-thái cổ. Sự giải thích này ra vẻ hợp lý, bởi vì trong điệp khúc, lời hát đã lập đi lập lại “Dana Dana Dana Dana…” như một khúc vãn ca tuyệt vọng.

Lời hát của “Dana Dana” kể một câu truyện mà chúng tôi cho là gần giống truyện ngụ ngôn “Mỗi người một số phận” (Chacun son sort) của Pháp mà chúng ta đã đọc từ thời tiểu học. Khác biệt đáng kể chỉ là trong truyện “Mỗi người một số phận”, con vật bị chủ đem ra chợ bán cho người ta giết thịt là một con lợn, còn trong bản “Dana Dana”, con vật xấu số ấy là một con bê.

Trên đường đi tới chợ, con bê luôn miệng than thở cho số phận bi thảm của mình, và so bì với con chim sẻ đang tung cánh bay trên bầu trời, và gió thì cứ cười đùa lả lơi trước sự nghiệt ngã, bất công ấy.

Thấy con bê cứ than thân trách phận, người chủ bực mình bảo nó:

“Tại sao mày sinh ra làm con bê làm gì cho người ta giết thịt? Sao không sinh ra làm con chim sẻ để tung cánh trên bầu trời tự do?!”

Tự trong câu nói của người nông dân đã vô tình hàm chứa một nghịch lý trong nhân sinh mà không ai có khả năng giải thích thỏa đáng: tại sao cùng sinh ra trên cõi đời này, trong khi có những người, hoặc nói rộng ra là những dân tộc, phải chịu quá nhiều thua thiệt, đau khổ triền miên, thì những người khác, những dân tộc khác lại sung sướng, hạnh phúc ấm no từ thế hệ này sang thế hệ khác?!

Chính vì không giải thích được, người Do-thái lưu vong chỉ biết vãn than với Thượng đế “Dana Dana Dana Dana…”. Và ca khúc này đã mau chóng trở thành một bài hát dân gian phổ biến trong các cộng đồng Do-thái lưu vong.

Sau đó, nhạc sĩ Sholom Secunda đã dịch lời bản Dana Dana từ tiếng Yiddish sang tiếng Anh với tựa Donna Donna.

[Mặc dù trong lời hát bằng tiếng Anh, chữ “dana” được chuyển âm thành “dona”, nhưng hầu như tất cả mọi ấn phẩm bằng tiếng Anh đều viết tựa của ca khúc là “Donna” (2 mẫu tự “n”) mà không có một sự giải thích nào]

Cũng xin viết thêm, tên của ca khúc chúng tôi đang đề cập tới là “Donna Donna”, xin đừng lẫn lộn với “Donna”, một ca khúc của nam ca nhạc sĩ Mỹ Ritchie Valens, do anh viết và thu đĩa năm 1958, để tặng người yêu thời trung học là nàng Donna Ludwig, và đã lên tới hạng 2 toàn quốc Hoa Kỳ.

Tới thập niên 1960, bản “Donna” này đã được nam ca sĩ Anh Cliff Richard (Cliff Richard & The Shadows) thu đĩa.

Ritchie Valens cũng là người đã thu đĩa bản dân ca “La Bamba” của Mễ-tây-cơ, giúp nó trở thành một ca khúc nổi tiếng quốc tế.

* * *

Nhưng bản Donna Donna lời Anh của Sholom Secunda không mấy phổ biến, phải đợi tới giữa thập niên 1950, sau khi hai tác giả Arthur Kevess và Teddi Schwartz dịch lần thứ hai thì Donna Donna mới được nhiều người biết tới, và vào năm 1960, đã lên “top” qua sự trình bày của Nữ hoàng du ca Mỹ quốc Joan Baez.

dona2

Donna Donna

On a wagon bound for market
There’s a calf with a mournful eye.
High above him there’s a swallow
Winging swiftly through the sky.

*

How the winds are laughing
They laugh with all their might
Laugh and laugh the whole day through
And half the summer’s night.

Dona, dona, dona, dona,
Dona, dona, dona, do,
Dona, dona, dona, dona,
Dona, dona, dona, do.

*

“Stop complaining,” said the farmer,
“Who told you a calf to be?
Why don’t you have wings to fly with
Like the swallow so proud and free?”

*

How the winds are laughing …
Calves are easily bound and slaughtered
Never knowing the reason why.
But whoever treasures freedom,
Like the swallow has learned to fly.

Dona, dona, dona, dona,
Dona, dona, dona, do,
Dona, dona, dona, dona,
Dona, dona, dona, do.

Viết thêm về Joan Baez:

Joan Baez sinh năm 1941, là một nữ ca nhạc sĩ du ca Mỹ gốc Mễ-tây-cơ, có tài đàn guitar và một giọng hát thiên phú từ nhỏ. Ngày ấy, Joan Baez cùng với Bob Dylan thường được giới sinh viên phản chiến ở Sài Gòn so sánh với cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly.

Joan Baez không chỉ có công quảng bá các sáng tác của Bob Dylan mà còn được các thành phần phản chiến quốc tế suy tôn làm thần tượng với bản nhạc thiều phản chiến “We Shall Overcome” và bản du ca phản chiến “Blowing in the wind”, một sáng tác để đời của Bob Dylan (video: Blowing in the wind – YouTube)

Joan Baez là một trong những nghệ sĩ Mỹ tham gia tích cực vào phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam, không thua gì cô đào Jane “Hanoi” Fonda. Tháng 12 năm 1972, Joan Baez cùng một đoàn phản chiến sang Hà Nội đúng vào thời gian xảy ra cuộc oanh tạc kéo dài 11 ngày đêm của các pháo đài bay B-52 của Không Lực Hoa Kỳ (người Mỹ gọi là The Christmas Bombing).

Tháng 5 năm 1975, sau khi cộng sản chiếm miền Nam, Joan Baez đã hát bản “The War Is Over” trong cuộc xuống đường liên hoan của các thành phần phản chiến thiên tả tổ chức ở thành phố Nữu Ước.

Nhưng khác với một Jane Fonda phản chiến một cách xuẩn động, mù quáng, ít lâu sau khi Sài Gòn đổi chủ, Joan Baez đã công khai chỉ trích những vi phạm nhân quyền của chế độ CSVN, đặc biệt là hành động trả thù đối với quân nhân công chức của chế độ cũ. Năm 1979, Joan Baez đã vận động lấy chữ ký của nhiều nhân vật uy tín, và vào ngày 30 tháng 5, mua nguyên một trang quảng cáo trên bốn nhật báo lớn ở Hoa Kỳ, để đăng một bài dài tố cáo sự tàn ác của chế độ CSVN (nguồn tham khảo: (1) Joan Baez starts protest on repression by Hanoi”. The New York Times. May 30, 1979. p. A14), (2) A Voice To Sing With… – A Memoir by Joan Baez)

* * *

Sau Joan Baez, Donna Donna (lời Anh) còn được nhiều danh ca khác trình bày, và cũng đều lên “top”, như Donovan, cựu thần đồng Patty Duke ở Mỹ, Julie Roger, Mary Hopkin ở Anh…

Donna Donna được dịch hoặc đặt lời hát mới bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, và trở thành một ca khúc dân gian được ưa chuộng khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở Đức, Pháp, Nga, Nhật.

Tại Pháp, Donna Donna được ca nhạc sĩ Claude Francois đặt lời bằng tiếng Pháp với nội dung hoàn toàn khác với ca khúc nguyên thủy.

Nhắc tới Claude Francois, quý độc giả yêu nhạc Pháp thuộc lứa tuổi “baby boomers” (ra chào đời sau Đệ nhị Thế chiến) hẳn còn nhớ anh là một tên tuổi được ái mộ hàng đầu ở Pháp và các quốc gia nói tiếng Pháp, có lẽ chỉ đứng sau Johnny Halliday. Chúng tôi sẽ có dịp viết thêm về Claude Francois trong tương lai khi giới thiệu bản Comme d’habitude – ca khúc đã được Paul Anka đặt lời tiếng Anh với tựa My Way, và trở thành ca khúc “nhãn hiệu cầu chứng” của Frank Sinatra.

Claude Francois là một người đa tài, vừa sáng tác vừa trình diễn, đặt biệt là những ca khúc ngoại quốc thịnh hành do anh đặt lời Pháp, trong đó có bản Donna Donna.

Lời hát do Claude Francois đặt nghe như một bài hát ru, kể chuyện một cậu bé sống đầy đủ, hạnh phúc trong một ngôi nhà to đẹp, nhưng trong lòng lúc nào cũng khao khát sớm được trở thành người lớn; thấy vậy bà mẹ thường vừa bẹo má cậu vừa nói: “Rồi đây, con sẽ nuối tiếc những ngày ấu thơ”.

Năm tháng trôi qua, cậu bé ngày xưa ấy nay đã trở thành một người đàn ông mỏi mòn, xác xơ, tơi tả sau khi trải qua bao nỗi bất hạnh trên đường đời – tình phụ, đói khổ, thất bại, bơ vơ…, và chợt nhớ lại lời mẹ ngày xưa:

Donna Donna

Il était une fois un petit garçon
Qui vivait dans une grande maison
Sa vie n’était que joie et bonheur
Et pourtant au fond de son cœur
Il voulait devenir grand
Rêvait d’être un homme.
Chaque soir il y pensait
Quand sa maman le berçait:

Donna Donna Donna Donna
Tu regretteras le temps
Donna Donna Donna Donna
Où tu étais un enfant…

*

Puis il a grandi, puis il est parti
et il a découvert la vie
Les amours déçues, la faim et la peur et souvent au fond de son cœur
Il revoyait son enfance
Rêvait d’autrefois
Tristement il y pensait
et il se souvenait:
Donna Donna Donna Donna
Tu regretteras le temps
Donna Donna Donna Donna
Où tu étais un enfant…

*

Parfois je pense à ce petit garçon,
Ce petit garçon que j’étais.

Trước năm 1975, Donna Donna lời Pháp do Claude Francois thu đĩa đã trở thành một trong những ca khúc Pháp được ưa chuộng nhất tại miền Nam Việt Nam. Vào thời gian “trăm hoa đua nở” trong phong trào đặt lời Việt cho các ca khúc ngoại quốc thịnh hành (đầu thập niên 1970), Donna Donna đã được Tuấn Dũng đặt lời Việt với tựa Tiếc Thương.

Nội dung của Tiếc Thương là lời một người con trai khóc thương người yêu vừa từ giã cõi đời. Sau khi được ban hợp ca Mây Trắng của Lê Hựu Hà (thành lập sau khi ban Phượng Hoàng tan rã) thu băng, Tiếc Thương đã trở thành một ca khúc “thời trang” (mà có người còn gọi là nhạc “sến”) phổ biến bậc nhất ở miền Nam VN.

Tiếc Thương

Ánh đèn vàng hiu hắt, khói trầm cay đôi mắt.
Em nằm đó sao thôi cười thôi nói?
Dáng buồn còn vương nét. Mắt huyền giờ đã khép.
Em nằm đó như đang mơ mộng gì.

*

Em theo mây bay quên cuộc đời, đời đầy nghĩa thương đau.
Mây đưa em bay đi tìm trời, và nơi đó em có nhớ tôi.
Em ơi em ơi em, hỡi người yêu dấu!
Sao em yêu vội sớm ra đi. Em ơi em ơi em, hỡi người yêu dấu!
Đau lòng thay phút giây xa rời.

*

Tiếng đàn ai buông lơi, tiếng đàn như tiếng khóc
rung từng phím tơ não nùng ai oán.
Khiến lòng tôi thổn thức, khiến lòng tôi ray rức.
Môi mặn đắng nước mắt thương tiếc nàng.

*

Em theo mây bay quên tình người,
người đầy những dối gian.
Mây đưa em bay đi về trời, và nơi đó em có nhớ tôi.
Em ơi em ơi em, hỡi người yêu dấu!
Sao đôi ta vội sớm chia ly!
Em ơi em ơi em, hỡi người yêu dấu!
Thế rồi tôi mất em suốt đời!

(Hoài Nam)

oOOo

Dos kelbl (The Calf – Dana Dana – bản tiếng Yidish) – Ca sĩ Klezmer R’s:

 

Dos kelbl (The Calf – Dana Dana – bản tiếng Yidish) – Ca sĩ Nehama Hendel:

 

Dos kelbl (The Calf – Dana Dana – bản tiếng Yidish) – Ca sĩ Chava Alberstein:

 

Dos kelbl (The Calf – Dana Dana – bản tiếng Yidish) – Ca sĩ Théodore Bikel:

 

Dos kelbl (The Calf – Dana Dana – bản tiếng Yidish) – Ca sĩ Lisa Fishman:

 

Donna Donna (Dos kelbl – The Calf – bản tiếng Anh) – Ca sĩ Joan Baez:

 

Donna Donna (Dos kelbl – The Calf – bản tiếng Anh) – Ca sĩ Mary Hopkin:

 

Donna Donna (Dos kelbl – The Calf – bản tiếng Pháp) – Ca sĩ Dorothée và Hélène:

 

Donna Donna (Dos kelbl – The Calf – bản tiếng Pháp) – Ca sĩ Jacqueline Dulac, Claude Francois:

 

Donna Donna (Dos kelbl – The Calf – bản tiếng Pháp) – Ca sĩ Claude Francois:

 

Tiếc Thương (Donna Donna – Dos kelbl – The Calf) – Ca sĩ Kiều Nga, Như Quỳnh:

 

Tiếc Thương (Donna Donna – Dos kelbl – The Calf) – Ca nhạc sĩ Tuấn Dũng (tác giả) & Trung Hành (bắt đầu ở phút 3:45):

 

Tiếc Thương (Donna Donna – Dos kelbl – The Calf) – Ca nhạc sĩ Tuấn Dũng (tác giả):

 

7 cảm nghĩ về “Tân Nhạc VN – Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Dân Ca Dân Nhạc – “Tiếc Thương” (“Dona Dona”) – Aaron Zeitlin & Sholom Secunda”

  1. Em cảm ơn chị Phượng. Đây là bài hát em rất thích ạ. Cảm ơn chị đã cho em biết nhiều thông tin về bài hát này.
    Em thật cảm phục chị, miệt mài sưu tầm, hệ thống các chuỗi bài âm nhạc Việt mình từ dân ca các vùng miền đến nhạc cụ Việt đến tân nhạc và những ca khúc vượt thời gian. Em chúc chị và anh Hoành luôn mạnh khỏe, có nhiều niềm vui và bình an.

    Like

  2. Chị chào Nhàn,

    Chị rất vui khi biết em cũng thích bài hát này. Theo chị, khi mình hiểu rõ gốc tích lịch sử của bài hát thì lúc nghe mình sẽ cảm nhận ý nghĩa của bài hát sâu sắc trọn vẹn hơn.🙂

    Có thêm em cùng đồng hành với chị trong việc gìn giữ và quảng bá kho tàng âm nhạc của mình là chị có thêm vây thêm cánh rồi.🙂

    Cám ơn em chia sẻ và chúc lành cho anh chị. Em cũng luôn bình an và khỏe mạnh Nhàn nhé. XO

    Like

  3. Chi Phuong oi!
    Ban dich tieng Anh cua The Calf hay qua chi a. Tung chu, tung loi bai hat, nhu nhung tieng keu thong thiet, rung len tu sau tham tam hon. Khi doc loi bai hat, em lien tuong den hinh anh nguoi Do Thai trong phim ” Schindler’s List” va “The Pianist” do chi.
    Em xin chuc anh chi luon manh khoe va binh an. Xin Chua chuc lanh cho anh chi va nhung viec anh chi dang lam.
    XOXO.
    Em – QNhu

    Like

  4. Quỳnh Như em ơi,

    Bản dịch hay là công của anh Hoành nhà mình đấy. Bản dịch này mới sát nghĩa với bài hát nguyên thủy tuyệt hay rất sâu sắc của người Do Thái lưu vong. Nhưng các nhạc sĩ khác lại đem đặt lại lời với ý nghĩa hoàn toàn khác với bài nguyên thủy nên vô hình chung họ đã làm mất đi ý nghĩa bài hát sâu sắc của một dân tộc lưu vong từng bị đàn áp một thời.🙂

    Ah.. chị cũng thích hai phim Schindler’s List” và “The Pianist” này, nhưng xem xong chị thấy bùi ngùi sao sao nên ít khi dám xem lại.

    Cám ơn em luôn chúc lành cho anh chị. Em cũng luôn khỏe mạnh và bình an Như nghe. XOXO

    Chị Phượng

    Like

  5. Vang, em thay ban dich that sau sac, em thay anh Hoanh ton khong it cong suc de chuyen tai noi dung cua ban goc bai hat. That xuc dong! Em nhu thay nhung hinh anh cua doan nguoi Do Thai im lang va lam lui di vao cac wagon de dua den cac trai tap trung ” nhu nhung con cuu bi dem di xen long”. Cai ac cua con nguoi cung khong gioi han khi de no tu do phat trien.
    Em that su khong thich ban tieng Viet va tieng Phap cua bai Donna, Donna va cung khong hieu nguyen nhan tai sao minh ko thich, cho den khi doc bai viet cua chi va ban dich cua anh Hoanh, em moi biet bai hat nay xuc dong nhu vay. Em cam on anh chi rat nhieu, anh chi da bo khong it cong suc va thoi gian de truyen lai kien thuc quy bau cho moi nguoi.
    Em chuc anh chi mot cuoi tuan vui ve va binh an trong Cha. Love you!
    Em-QuynhNhu

    Like

  6. Như ơi,

    Chị đang trên đường travel nên đọc phản hồi của em mắt nhắm mắt mở nên nói chuyện lung tung lang tang với em bửa nọ. Sorry em.🙂

    Ý chị muốn nói là nhờ bài dịch tiếng Anh quá hay (như em nói) nên bản dịch tiếng Việt của anh Hoành mới chuyển tải được toàn bộ ý nghĩa của bản gốc.🙂

    Quả thật cái ác của con người không có giới hạn nếu như người ta cứ để cho nó phát triển tự do chính xác như em chia sẻ. Cám ơn em.

    Em cũng luôn khỏe mạnh, bình an trong Cha, Như nhé.

    Love you too. XOXO

    Like

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s