Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Ghen” – Nguyễn Bính & Trọng Khương

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Ghen” của Thi sĩ Nguyễn BínhNhạc sĩ Trọng Khương.

Thi sĩ Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính (1918–1966); là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng. Ông được coi như là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc.

Thi sĩ Nguyễn Bính sinh ngày 13-2-1918, tức mồng ba Tết năm Mậu Ngọ tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định).

Cha của ông tên là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, còn mẹ ông là bà Bùi Thị Miện, con gái một gia đình khá giả. Ông bà sinh được ba người con trai là Nguyễn Mạnh Phác (Trúc Đường), Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Trọng Bính.

Bà Miện bị rắn độc cắn rồi mất năm 1918, lúc đó bà mới 24 tuổi. Để lại cho ông Bình ba đứa con thơ, khi đó Nguyễn Mạnh Phác mới sáu tuổi, Nguyễn Ngọc Thụ ba tuổi và Nguyễn Bính mới sinh được ba tháng. Đúng như câu thơ ông viết:

Còn tôi sống sót là may
Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ

Thi sĩ Nguyễn Bính (1918 – 1966).
Thi sĩ Nguyễn Bính (1918 – 1966).

Bà cả Giần là chị ruột của mẹ ông, nhà bà lại giàu có, nên bà cùng ông Bùi Trình Khiêm là cậu ruột của ông và là cha của nhà văn Bùi Hạnh Cẩn, đón ba anh em ông về nuôi cho ăn học. Nguyễn Bính làm thơ từ thuở bé, được cậu Khiêm khen hay nên rất được cưng.

Năm 13 tuổi Nguyễn Bính được giải nhất trong cuộc thi hát trống quân đầu xuân ở hội làng với sáng tác:

…Anh đố em này:
Làng ta chưa vợ mấy người ?
Chưa chồng mấy ả, em thời biết không
Đố ai đi khắp tây đông,
Làm sao kiếm nổi tấm chồng như chúng anh đây?
Làm sao như rượu mới say,
Như giăng mới mọc, như cây mới trồng ?
Làm sao như vợ như chồng ?
Làm sao cho thỏa má hồng răng đen
Làm sao cho tỏ hơi đèn ?
Làm sao cho bút gần nghiên suốt đời ?
Làm sao ? anh khen em tài ?
Làm sao ? em đáp một lời làm sao… ?

Trúc Đường thi đỗ thành crung (đíp-lôm) vào loại giỏi ở Hà Nội, rồi dạy học trong một trường tư thục ở Hà Đông, Trúc Đường bắt đầu viết văn và làm thơ. Ông đón Nguyễn Bính lên và truyền đạt cho Nguyễn Bính văn học Pháp. Cuộc đời của Nguyễn Bính gắn bó với Trúc Đường cả về văn chương và đời sống.

Năm 1932, 1933 Nguyễn Bính có theo người bạn học ở thôn Vân lên Đồng Hỷ, Thái Nguyên dạy học, có lẽ những vần thơ như:

Cỏ đồi ai nhuộm mà xanh
Áo em ai nhuộm mà anh thấy chàm
Da trời ai nhuộm mà lam
Tình ta ai nhuộm ai làm cho phai

Là được Nguyễn Bính viết trong thời gian này.

Bài thơ của ông được đăng báo đầu tiên là bài “Cô Hái Mơ”. Năm 1937 Nguyễn Bính gửi tập thơ “Tâm Hồn Tôi” tới dự thi và đã được giải khuyến khích của nhóm Tự lực văn đoàn. Họa sĩ Nguyệt Hồ nhớ lại:

“Tôi quen Nguyễn Bính từ khi anh chưa có tiếng tăm gì, ngày ngày ôm tập thơ đến làm quen với các tòa soạn báo. Tôi thích thơ anh và đã giới thiệu anh với Lê Tràng Kiều, chủ bút Tiểu thuyết Thứ Năm, đã đăng bài “Cô hái mơ”, bài thơ đầu tiên của anh đăng báo. Tôi khuyên anh gửi thơ dự thi, và anh đã chiếm giải thưởng của Tự Lực Văn Đoàn… chúng tôi thân nhau từ đó, khoảng 1936-1940, quãng đầu đời thơ của anh,…

Từ năm 1940, Nguyễn Bính bắt đầu nổi tiếng với số lượng thơ khá dày, đề tài phong phú, trong đó chủ yếu là thơ tình. Cũng trong năm này Trúc Đường chuyển ra Hà Nội ở và đang viết truyện dài Nhan sắc, Nguyễn Bính tỏ ý muốn đi Huế tìm đề tài sáng tác. Trúc Đường tán thành nhưng không có tiền, ông đã cho Nguyễn Bính chiếc máy ảnh và về quê bán dãy thềm đá xanh (vật báu duy nhất của gia đình) đưa tất cả số tiền cho Nguyễn Bính.

Vào Huế Nguyễn Bính Gửi thơ ra cho Trúc Đường đọc trước, rồi đăng báo sau. Cuối năm 1941, đầu năm 1942, Trúc Đường nhận được nhiều bài thơ của Nguyễn Bính trong đó có: “Xuân tha hương” và “Oan nghiệt”. Sau đó Nguyễn Bính lại trở về Hà Nội, rồi lại đi vào Sài Gòn.

Lần chia tay cuối cùng với Trúc Đường là vào năm 1943, đến năm 1945 tin tức thưa dần. Năm 1946 thì mất liên lạc hẳn. Trong thời gian này Nguyễn Bính đã gặp nhà thơ Đông Hồ, Kiên Giang. Có lúc ông cư ngụ trong nhà Kiên Giang. Đó là thời ông viết những bài ‘Hành Phương Nam’, tặng Kiên Giang, ‘Từ Độ Về Đây’,…”

Nhạc sĩ Trọng Khương.
Nhạc sĩ Trọng Khương.

Nhạc sĩ Trọng Khương (????-1977) là một trong những nhạc sĩ tiên phong trong nền Tân Nhạc Việt Nam. Ông cũng là tác giả của ca khúc nổi tiếng “Bánh Xe Lãng Tử”.

Trước năm 1975 ông làm việc trong ban kiểm soát kỹ thuật Đài Phát Thanh Sài Gòn từ trước 1953. Ông mất năm 1977 trong tình cảnh thật thương tâm.

Theo nhạc sĩ Châu Kỳ thì ông gặp nhạc sĩ Trọng Khương “đang đi lang thang buồn bã trên đường với quần áo nhàu nát, tóc tai bù rối.” Sau những giây phút đứng tâm sự về cảnh đời hai bên giai đoạn này, NS Châu Kỳ khuyên NS Trọng Khương về nhà ông nghỉ ngơi chứ đừng đi lang thang nữa nhưng NS Trọng Khương nằng nặc chối từ.

NS Trọng Khương cầm cây đàn guitar chào tạm biệt NS Châu Kỳ rồi đi, sau khi kể cho NS Châu Kỳ nghe về nỗi buồn cay đắng khi hôm nay ghé qua nhà của một danh ca ở Sài Gòn vào thập niên 60 – người từng được nổi tiếng với những ca khúc của ông. Khi đến nhà danh ca này để cầu cạnh sự giúp đỡ, ông đã bị thẳng thắn chối từ và nói nhiều lời đau lòng xúc phạm.

Qua ngày hôm sau thì người dân ở ga xe lửa Hòa Hưng đều biết tin Trọng Khương nằm chết co ro hoang lạnh trên hè ga, tay còn cầm cây đàn guitar của mình và mặt ông lúc chết như còn vương bao điều xót xa chưa được bày tỏ hết.

Các tác phẩm nổi tiếng của Nhạc sĩ Trọng Khương:

• Bánh Xe Lãng Tử (1954)
• Duyên Thắm (1953)
• Đôi Guốc Mới (1953)
• Đường Vào Tình Sử (thơ Đinh Hùng)
• Đường Về Nhà Tôi (1956)
• Ghen (thơ Nguyễn Bính – 1955)
• Lòng Cô Phụ (1955)
• Màu Tím Hoa Sim (viết với Duy Khánh)
• Nhớ Rừng Hoang (1953)
• Sầu Nhân Thế (1953)
• Tình Vương Biên Giới (1953)
• Về Miền Nam (1954)
• Vó Câu Muôn Dặm (1956)

trongkhuong_ĐB1

Thi phẩm “Ghen” (Thi sĩ Nguyễn Bính)

Cô nhân tình bé của tôi ơi!
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ…
Nhìn tôi những lúc tôi xa xôi.

Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai,
Đừng hôn, dù thấy cánh hoa tươi,
Đừng ôm gối chiếc, đêm nay ngủ…
Đừng tắm chiều nay, biển lắm người.

Tôi muốn mùi thơm của nước hoa,
Mà cô thường xức, chẳng bay xa,
Chẳng làm ngây ngất người qua lại,
Dẫu chỉ qua đường, khách lại qua.

Tôi muốn những đêm đông giá lạnh
Chiêm bao đừng lẩn quất bên cô
Bằng không, tôi muốn cô đừng gặp
Một trẻ trai nào, trong giấc mơ.

Tôi muốn làn hơi cô thở nhẹ.
Đừng làm ẩm áo khách chưa quen.
Chân cô in vết trên đường bụi
Chẳng bước chân nào được dẫm lên.

Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi,
Thế nghĩa là yêu quá mất rồi
Và nghĩa là cô là tất cả.
Cô là tất cả của riêng tôi!

trongkhuong_Ghen

Thi khúc “Ghen” (Nhạc sĩ Trọng Khương)

Hỡi cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
những lúc có tôi và mắt chỉ
nhìn tôi trong lúc tôi xa xôi

Tôi muốn cô đừng nghĩ tới ai
Đừng hôn dù thấy đóa hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nằm ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm người

Tôi muốn mùi thơm của nước hoa
mà cô thường xức bay xa
chẳng làm ngây ngất người qua lại
dẫu chỉ qua rồi khách lại qua

Nghĩa là yêu quá đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu quá mất rồi
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của đời tôi

Dưới đây mình có các bài:

– NHỮNG NGƯỜI TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH
– Nhạc sĩ Trọng Khương
– Trọng Khương và Nguyễn Bính cùng “Ghen”
– Nhạc sĩ TRỌNG KHƯƠNG đã chết ngậm ngùi ra sao

Cùng với 5 clips tổng hợp thi khúc “Ghen” do các ca sĩ trong nước và hải ngoại diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

nguyenbinh_bìa tập thơ

NHỮNG NGƯỜI TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH

(Đào Đức Nhuận)

Nguyễn Bính, nhà thơ nổi tiếng của Phong Trào Thơ Mới từ những năm 1936 đã tự xác nhận tâm hồn mình đối với tình yêu:

Yêu, yêu, yêu mãi thế này
Tôi như một kẻ sa lầy trong yêu
(Lòng Yêu Đương)

Mẹ cha thì nhớ thương mình,
Mình đi thương nhớ người tình xa xôi.
(Thư Gửi Thầy Mẹ)

Chàng tha thiết kêu gọi những “đấng tình lang” hãy cùng chàng làm một việc mà chưa có một người nào trên thế gian nầy dám nghĩ đến:

Ai yêu như tôi yêu Nàng
Họp nhau lại, họp thành làng cho xinh
Chung nhau dựng một tràng đình
Thờ riêng một vị thần linh là Nàng!
(Lòng Yêu Đương)

Và quả thực Nguyễn Bính đã “sa lầy trong yêu” và bao nhiêu là người yêu đã xuất hiện trong thơ của chàng:

Có thể là một người tình chỉ có trong tưởng tượng:

Cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười…
(Ghen)

Có thể là một cô gái nhà bên kia – “cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn”- yêu trong câm nín, để rồi:

Đêm qua nàng chết thật rồi,
Nghẹn ngào tôi khóc, quả tôi yêu nàng.
(Người Hàng Xóm)

Có thể là một cô gái – “tôi với nàng tuy không biết nhau”- thế nhưng khi nàng từ trần, chàng lại thấy rằng mình đã yêu:

Nước mắt chạy quanh tình thắt lại,
Giờ đây tôi khóc một người về
Giờ đây tôi thấy hồn cay đắng
Như có ai mời chén biệt ly.
(Viếng Hồn Trinh Nữ)

Hay có thể chỉ là một người yêu trong mộng:

Cô chẳng bao giờ biết đến tôi
Mà tôi dan díu mấy đêm rồi
Mấy đêm dan díu người trong mộng
Mộng tỉnh, canh tàn, lệ ướt rơi
(Nhặt Nắng)

Không kể những mối tình thoáng qua, những mối tình của một thời tuổi nhỏ không mấy đậm nét trong cuộc đời tình ái của chàng như kiểu “mối tình” (?) với một cô Nhi bé bỏng ở quê ngoại ngày xưa:

Xa lắm rồi Nhi, muộn lắm rồi
Bẽ bàng lắm lắm nữa Nhi ơi !
Từ ngày Nhi bỏ nơi làng cũ
Mộng ngát duyên lành cũng bỏ tôi !
(Hoa Và Rượu)

thì, mối tình đầu làm ray rứt hồn thơ của Nguyễn Bính nhiều hơn cả, có lẽ là mối tình câm với cô nữ sinh tên Oanh mà chàng thường gọi là “cô Oanh sông Nhuệ”. Vâng, đó là một mối tình câm, mối tình một chiều, mối tình mà chàng chỉ biết thầm yêu trộm nhớ để cuối cùng nhận lấy nỗi tuyệt vọng chua cay:

Tâm hồn tôi là bình rượu nhỏ,
Rót lần, rót mãi xuống nàng Oanh.
Không xua tay nhưng nàng đã vô tình
Hắt ly rượu hồn tôi qua cửa sổ…
(Tâm Hồn Tôi)

Tuy chỉ là một mối tình không được đáp đền một cách xứng đáng, thế nhưng, cũng chính từ mối tình tuyệt vọng đó, Nguyễn Bính đã sáng tác nên tập thơ TÂM HỒN TÔI. Vì không nói được với người mình yêu những gì mình muốn nói, nên Nguyễn Bính đã viết tập văn xuôi NGẬM MIỆNG để giãi bày với người mình yêu mối tình tuyệt vọng của mình.

Rồi thời gian cứ vô tình lặng lẽ trôi qua. Và thời gian cũng xóa đi cho Nguyễn Bính nỗi hận tình chua xót để sau này, khi nhắc đến Oanh, chàng đã nhắc đến tên nàng bằng một nỗi hờ hững đến vô tình:

Nhớ Oanh tôi nhớ cô Oanh
Xa xôi cách trở hỏi tình thắm phai?

Hay:

Nghỉ học cô Oanh lòa một mắt,
Lấy chồng chị Trúc bó hai tay!

Thế rồi, năm 1937, tập thơ Tâm Hồn Tôi của Nguyễn Bính nhận được giải thưởng khuyến khích về Thơ của Tự Lực Văn Đoàn.

Năm 1939, tập thơ Bức Tranh Quê của nữ sĩ Anh Thơ cũng nhận được giải thưởng khuyến khích về Thơ của Tự Lực Văn Đoàn.

Hai thi tài đó đã gặp nhau.

Nguyễn Bính và Anh Thơ có nhiều điểm giống nhau: cùng được học ở trường rất ít, cùng có tài về thơ và dòng thơ của họ cùng mang nhiều hình ảnh quen thuộc của đồng quê xứ Bắc.

Và hai tâm hồn thơ đó đã yêu nhau. Họ yêu nhau tha thiết. Hẳn vậy. Có một bận, nàng từ Bắc Giang về thăm Hà Nội. Họ gặp gỡ nhau. Tâm sự. Rồi nàng trở lại quê. Chàng buồn nhớ không bút nào tả xiết :

Biết lối nào lên tới xứ nàng?
Để người Hà Nội nhớ mang mang
Nàng đi Hà Nội buồn như chết
Hà Nội buồn như một lỡ làng!
(Một Lần)

Rồi những cánh thư tình nồng cháy yêu đương. Rồi những lời thề non hẹn biển. Và có một lần, nàng đã để lại trên má chàng vết son môi của một nụ hôn nồng cháy. Các bạn chàng kể lại rằng chàng đã không rửa mặt nhiều ngày vì chỉ sợ mất đi vết son môi của người yêu thơ mộng:

Có một trai hiền, một gái xinh
Ngang qua, chừng giữa chuyện ân tình
Trai cười: “Bữa ấy mình toan giữ
Mãi dấu môi son trên má mình!”
(Nhớ Người Trong Nắng)

Ấy vậy mà rồi họ phải đành đoạn chia tay. Tại sao? Tại vì chàng nghèo quá! “Nghèo”! Cái lý do sao mà cay nghiệt! Phải “môn đăng, hộ đối”! Do vậy mà nhà nàng không muốn kén khách đông sàng là một chàng thi sĩ kiết xác:

Có gì tiếng cả nhà thanh
Cơm ăn đủ bữa, áo lành đủ thay
Còn tôi sống sót là may
Mẹ hiền mất sớm, giời đày làm thơ.
Con tằm được mấy tiền tơ
Chao ôi, mà ước mà mơ lấy nàng !
(Nhà Tôi)

Thế là nàng đang tâm bẻ một chữ đồng làm đôi! Nguyễn Bính nhớ lại những lời thề non hẹn biển. Có lẽ họ đã thề thốt nặng lời – nhất là nàng:

Ai thề như mới hôm qua
Lấy nhau không được chẳng thà chết đi!

Quên lời thề ước, nàng bước lên xe hoa về nhà chồng. Nàng đã bước qua con tim tan nát của Nguyễn Bính để về “nâng khăn sửa túi” cho một “ông thầy thuốc”! Cái con người hiền lành làm vậy mà trước nỗi tuyệt vọng kinh hoàng đã làm những câu thơ thật chua cay để gởi cho người hơn một lần chàng đã yêu tha thiết và cũng đã được nàng yêu tha thiết:

Những tưởng trăm năm đến chết thèm
Ai ngờ chấm dứt chuyện kiêng khem!
Bài thơ kẹp chặt vào đơn thuốc,
Hũ mực phun đầy cả ống tiêm
Chị sắp lên râu làm chức mẹ
Anh mà xuống nước đóng vai em!
Bấy lâu bịt chặt lầu thơ lại
Nay bức tranh quê đã vén rèm!

Những lời thơ “tai quái” quá! Những ý thơ “ác” quá! Nàng không thể chạy trốn vào đâu được:

Bài thơ kẹp chặt vào đơn thuốc
Hũ mực phun đầy cả ống tiêm!…
Nay bức tranh quê đã vén rèm!

Bức Tranh Quê là tên thi phẩm được giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn của Anh Thơ! Tục chăng? Thanh chăng? Có lẽ vì bài thơ “quái ác” nầy mà sau nầy, khi viết hồi ký về đời mình, nữ sĩ Anh Thơ đã hoàn toàn phủ nhận mối tình đầu của bà với nhà thơ Nguyễn Bính!

Nhưng dù sao thì mối tình nồng thắm cũng nhiều, tuyệt vọng đắng cay cũng lắm đó đã gợi hứng cho Nguyễn Bính hoàn thành thi phẩm HƯƠNG CỐ NHÂN. Và có những điều trong thơ không thể nói hết về mối tình nầy, chàng đã lại phải mượn văn xuôi để giãi bày nguồn tâm sự sâu kín của mình, đó là tập đoản văn HAI NGƯỜI ĐIÊN GIỮA KINH THÀNH HÀ NỘI.

Quả thực, Anh Thơ đã để lại trong cuộc đời tình ái của Nguyễn Bính một vết thương khá đậm nét. Buồn bã và cô đơn, chàng viết:

Em đi dệt mộng cùng người,
Lẻ loi riêng một góc trời riêng anh!
(Rượu Xuân)

Và chàng buông lời hờn tủi nghe não nuột đến nát lòng:

Mấy khoa thi chót thầy ơi
Thầy không thi đỗ để rồi làm quan
Để rồi lắm bạc nhiều vàng
Để cho con được lấy nàng, thầy ơi!
(Nhà Tôi)

Một tiếng nấc nghẹn ngào! Cứ tưởng rằng nỗi bi lụy nầy sẽ làm cho Nguyễn Bính trở thành một gã thất tình miên viễn! Thế nhưng, chẳng bao lâu Nguyễn Bính lại sa lầy trong một cuộc tình mới. Cũng đắm đuối chung tình. Cũng da diết yêu đương. Tên nàng là Nguyễn Thị Tuyên, em gái của nhà văn Nguyễn Đình Lạp, tác giả của tập tiểu thuyết xã hội NGOẠI Ô, do nhà Hàn Thuyên xuất bản năm 1941 tại Hà Nội. Nàng tên là TUYÊN, nhưng Nguyễn Bính đã đặt lại tên cho nàng là TÚ UYÊN, dù chàng thừa biết Tú Uyên – Trần Tú Uyên – là tên của một nhân vật nam trong truyện Nôm BÍCH CÂU KỲ NGỘ. Nhà Tú Uyên ở phố Bạch Mai (mai trắng) gần phố Huế (đế kinh) ở kinh thành Hà Nội, còn Nguyễn Bính cũng ở Hà Nội trên một căn gác mà chàng đặt tên là gác Hoàng Mai (mai vàng). Có một bận chàng thi sĩ đa tình đi ngang qua nhà nàng và rồi chàng thấy tâm hồn mình như chết chìm ở đó:

Nhà nàng ở gốc cây mai trắng
Trên xóm mai vàng dưới đế kinh
Có một buổi chiều qua lối ấy
Tôi về dệt mãi mộng ba sinh…
(Người Con Gái Lầu Hoa)

Chàng thì “dệt mãi mộng ba sinh” cùng nàng, còn Tú Uyên?

Nàng ở lầu hoa, ở đệm bông
Có đêm nào nghĩ đến tôi không?
Không, không, chả có đêm nào cả
Chả có đêm nào hé cửa song…
(Người Con Gái Lầu Hoa)

Có thể là chàng đã đòi hỏi quá nhiều. Cũng có thể chàng đã hờn mát mà nói như thế, chứ thực ra, hai người đã yêu nhau thực, đã từng hẹn hò và từng gặp gỡ như trong thơ của chàng đã trình bày. Trong các mối tình của Nguyễn Bính, có lẽ đây là mối tình đong đầy nước mắt.

Thi nhân vốn là nòi đa cảm. Và Nguyễn Bính được xem là người đa cảm vào bậc nhất trong giới thi nhân:

Em đã dùng khăn chị để lau
Bao nhiêu nước mắt của u sầu!
(Khăn Hồng)

Vắng bóng cô gái hàng xóm cũng có thể làm cho chàng rơi lệ:

Bên hiên vẫn vắng bóng nàng
Rưng rưng tôi gục xuống bàn … rưng rưng!
(Người Hàng Xóm)

Gặp người trong mộng cũng có thể làm cho chàng rơi nước mắt:

Mấy đêm dan díu người trong mộng
Mộng tỉnh, canh tàn, lệ ướt rơi!
(Nhặt Nắng)

Nghĩ về một người con gái chàng yêu mà chưa dám ngỏ lời cũng có thể làm cho chàng khóc:

Có một nghìn đêm tôi chiêm bao
Ba đêm nay khóc với mưa rào
Đêm nay mắt đỏ rồi mưa tạnh
Tôi khóc âm thầm dưới bóng sao

Đó là 4 câu thơ trích trong bài thơ “Người con gái ở lầu hoa”. Và “người con gái ở lầu hoa” đó chính là nàng Tú Uyên! Mối tình với Tú Uyên rồi cũng dở dang:

Nàng Tú Uyên ơi!
Cả mùa mai trắng đã rụng rồi!

“Mai trắng đã rụng” tức là tình yêu của chàng với Tú Uyên, cô gái ở phố Bạch Mai đó đã không thành.

Rồi Tú Uyên bước lên xe hoa về nhà chồng. Nào ai biết được tâm trạng của Tú Uyên khi nàng bước lên xe hoa. Chỉ biết rằng, sau ngày nàng bước chân lên xe hoa, Nguyễn Bính đã làm một bài thơ khóc cho mối tình nầy thật tha thiết, thật não nùng và dĩ nhiên là cũng đầy nước mắt.

Chàng hồi tưởng lại những giây phút họ gặp gỡ và tình tự với nhau:

Lạy Chúa con xin Chúa một giờ
Mười hai – giờ Ngọ, của tình xưa
Chúng con hai đứa Uyên và Bính
Thường hẹn hò nhau những buổi trưa!
(Nguyện Cầu)

Những buổi trưa hẹn hò với bao lời thề non hẹn biển. Có thể là họ đã vẽ ra một tương lai tuyệt vời sống bên nhau cho đến khi đầu bạc răng long. Ấy vậy mà rồi nàng phải bước lên xe hoa về nhà chồng. Cứ theo như Nguyễn Bính, nàng “bất đắc dĩ” mà bước lên xe hoa:

Hắn phải lấy chồng là khổ lắm,
Bởi vì, lạy Chúa, rất chua cay!
(Nguyện Cầu)

Nguyễn Bính đã quả quyết điều nầy, bởi vì, theo chàng, họ đã yêu nhau tha thiết, Bính yêu Uyên tha thiết và Uyên cũng yêu Bính thiết tha. Nàng bước lên xe hoa về nhà chồng mà như bước vào cõi tuyệt vọng đọa đày:

Hắn đã yêu con đến tận cùng
Thế mà tròn thủy chẳng tròn chung
Hôm qua hắn bước lên xe cưới
Khóc lả người đi Chúa biết không ?
(Nguyện Cầu)

Trong cuộc sống hôn nhân, cứ theo như Nguyễn Bính, Tú Uyên khổ lắm. Có khổ gì hơn khi nghĩ rằng mình suốt đời phải chung sống với người mà mình chẳng yêu thương! Và Nguyễn Bính cũng thương cho số phận hẩm hiu, chua xót của người mình yêu:

Hai đứa hai nơi khóc một giờ
Bên chồng mà hắn vẫn bơ vơ
Chúa ơi ! Cứu rỗi linh hồn hắn!
Nước mắt con nhòa hết tập thơ!
(Nguyện Cầu)

Giờ đây, mỗi lần nghe tiếng chuông nhà thờ buông đúng vào giờ ngọ – cái giờ nghiệt ngã của kỷ niệm – chàng lại hồi tưởng về người yêu , về những lần hẹn hò thơ mộng đắm đuối của hai linh hồn yêu nhau tha thiết:

Đứng bóng từng dòng chuông ngọ đổ
Từng dòng chuông ngọ đổ chơi vơi
Con nghe chuông đổ rồi con khóc
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!
(Nguyện Cầu)

Bính đã thay mặt cho Uyên để cùng chàng kêu gọi đến Chúa tuy họ không phải là những con chiên. Họ là những người ngoại đạo. Nhưng Nguyễn Bính, trong một lúc tuyệt vọng cùng tột, chàng đã phải tin rằng mối tình của chàng và Uyên không đi đến kết cuộc tốt đẹp là do sư sắp đặt của Chúa và họ cố xin một chút bình yên cho tâm hồn khi họ tin như vậy:

Lạy Chúa con xin Chúa thế thôi
Một giờ yêu quý nhất trên đời
Chúng con ngoại đạo tuy ngoại đạo
Cũng lạy mà tin có Chúa Trời !
(Nguyện Cầu)

Lại một lần nữa, Nguyễn Bính cố quên đi mối tình tuyệt vọng nhưng mà làm sao quên được:

Đêm nay ngồi khóc trong trăng lạnh
Trăng đắm chìm đi, gió thở dài
Tôi nhớ đến người – ôi diệu vợi
Ở lầu hoa ấy trong rừng mai

……

Tôi tưởng rồi tôi quên được người
Nhưng mà nản lắm, Tú Uyên ơi!
Tôi vào sâu quá và xa quá,
Đường lụt sương mờ lụt lá rơi…
(Diệu Vợi)

Và mối tình tuyệt vọng với nàng Tú Uyên đã để lại cho chúng ta một thi phẩm với nhiều bài thơ đong đầy nước mắt: NGƯỜI CON GÁI LẦU HOA.

Qua mấy lần tuyệt vọng vì tình, nỗi buồn không kiềm chế được, cộng thêm với nếp sống buông thả của giới nghệ sĩ thời tiền chiến, chàng đắm mình trong xóm yên hoa.

Và,

* nếu kết quả của mối tình giữa chàng với nàng Oanh, với nữ sĩ Anh Thơ, với Tú Uyên là những đứa-con-tinh-thần, những thi phẩm đã tạo nên sự nghiệp thi ca của Nguyễn Bính: Tâm Hồn Tôi, Hương Cố Nhân, Người Con Gái Lầu Hoa –

* thì, mối tình với Dung, tên cô gái trong xóm yên hoa, ngoài kết quả là bài thơ thật thống thiết “Có Bấy Nhiêu Lời Tâm Huyết Ấy” về sau đổi lại thành tên “Oan Nghiệt”, oái oăm thay, lại đưa đến kết quả là một đứa-con-vật-chất, đứa con gái đầu lòng trong kiếp làm đàn ông của Nguyễn Bính.

Đối với Dung, có lúc chàng đã nhắc đến tên nàng bằng một giọng điệu vô cùng khinh bạc, nghe sao mà xa lạ:

Lại chuyện con Dung đẻ tháng ngày!

Thì cũng có khi chàng nhắc đến tên nàng bằng một giọng vô cùng trìu mến:

Người bến Tầm Dương, Dung bé bỏng!

Người ta bảo Dung là một “đào nương”, là một “ca kỹ”. Thế nhưng, dù có là “đào nương” hay “ca kỹ” gì gì đi nữa để gọi là làm đẹp cho cái thân thế cần phải giấu kín của Dung, thì oái oăm thay, chính Nguyễn Bính, người tình của nàng, lại đã khai báo huỵch toẹt cái nghề không mấy tốt đẹp của nàng:

Dung ạ, những đêm màn rũ thấp
Ân tình bên gối khách làng chơi
Em có biết rằng trong giấc lạnh
Con mình mớ ngủ gọi tên ai ?
(Oan Nghiệt)

Dung của Nguyễn Bính là như thế đó. Đau thương lắm. Chua cay lắm. Nhục nhằn lắm nữa. Nhưng dù sao thì họ cũng đã yêu nhau. Họ đã sống với nhau theo cái kiểu “già nhân ngãi, non vợ chồng!”. Và cho đến khi Dung bụng mang dạ chửa thì Nguyễn Bính lại nổi máu giang hồ.

Vào năm 1942 chàng bỏ đất Hà Nội ngàn năm văn vật để vào đất Thần kinh thơ mộng có con sông Hương nước chảy lặng lờ, có những con thuyền tình chơi vơi trên sông nước, và có cả những cơn mưa “cứ kéo dài ra đến mấy ngày” buồn ơi là buồn! Ở Huế chưa được bao lâu, vào một ngày cuối Thu, Nguyễn Bính nhận được thư của Dung:

Hôm nay bắt được thư Hà Nội
Cho biết tin Dung đã đẻ rồi
Công chúa, tháng ngâu, ngày nguyệt tận…
(Oan Nghiệt)

Vậy là Dung đã sinh cho chàng một cô con gái vào một ngày cuối tháng bảy âm lịch:

Công chúa – Tháng Ngâu – Ngày nguyệt tận!

Nhận được thư của Dung chàng đã nghĩ miên man đến kiếp sống đau thương của Dung, nghĩ đến tương lai đầy đen tối bất trắc của con gái và nghĩ về hiện trạng bấp bênh của mình mà chua xót thở than :

Đời cha nay ở mai đi đấy
Kiếp mẹ đêm đêm bán khóc, cười…
Tiền cha không đủ hoàn lương mẹ
Thì lấy gì mà nuôi nấng con!
(Oan Nghiệt)

Không ai biết rõ Nguyễn Bính cho bằng chính Nguyễn Bính biết về mình! Chàng biết chắc rằng không cách nào chàng có thể có một mái ấm gia đình để cùng Dung và con gái chung sống với nhau! Nghĩ đến những lời cầu chúc của chàng cho con gái sao mà đắng cay, sao mà chua xót:

Thôi cha cầu chúc cho con gái
Mắt chớ lưu cầu, môi chớ son
Ngu đần xấu xí hay tàn tật,
Yên phận chồng con, yên phận con
Càng tài sắc lắm càng oan nghiệt
Bảy nổi ba chìm với nước non
(Oan Nghiệt)

Và rồi Nguyễn Bính tưởng tượng đến một tương lai “oan nghiệt”, đến một cuộc trùng phùng “oan nghiệt”, đến nỗi bất hạnh “oan nghiệt” của cha con chàng:

Cha lo ngại lắm là con gái,
Chẳng có bao giờ biết mặt cha!
Con mười sáu, bảy xuân đương độ
Cha bốn, năm mươi chửa trót già
Cha buồn tiễn khách hơi thu quạnh
Con thẹn che đèn nép mặt hoa
Chàng chàng, thiếp thiếp vui bằng được
Bố bố, con con chẳng nhận ra
Áo xanh mà ướt vì đêm ấy
Tội nghiệp đời con, xấu hổ cha!
(Oan Nghiệt)

“Cha lo ngại lắm là con gái, chẳng có bao giờ biết mặt cha”! Phải chăng đây là một lời tiên tri “oan nghiệt”? Hay, phải chăng đây là một quyết định “oan nghiệt” của chính Nguyễn Bính? Cái câu hỏi “oan nghiệt”: “Bao giờ tôi biết mặt con tôi?” (Oan Nghiệt) đã bị chính Nguyễn Bính cố tình khước từ “trả lời”! Bởi chưng, hình như đâu vào khoảng cuối năm 1943, Nguyễn Bính cùng hai nhà văn Vũ Trọng Can và Tô Hoài làm một chuyến xuôi Nam, bỏ đất Thần kinh thơ mộng để tìm về Sài Gòn – Hòn Ngọc Viễn Đông. Và chàng quên Dung bé bỏng, quên cả đứa con gái bèo bọt của chàng!

Ở Sài Gòn một thời gian, Tô Hoài và Vũ Trọng Can lại quay về Hà Nội, còn Nguyễn Bính được thi sĩ Đông Hồ và nữ sĩ Mộng Tuyết mời về thăm quê hương Hà Tiên nên thơ của họ. Đó là vào khoảng đầu mùa hạ năm 1944. Chàng được nhà thơ Đông Hồ đãi như một khách quý, dành riêng cho chàng một căn gác mà Đông Hồ đặt tên là “Nam Phong tiểu các” để cho chàng làm nơi sáng tác thơ. Chàng ở lại đây có mấy tháng và cũng đã để lại đây một cuộc tình với người cháu gái của nữ sĩ Mộng Tuyết. Tên nàng là Tú Ngọc.

Trong vườn thấp thoáng bóng ai đi
Cô cháu, Minh hương, tuổi mười bảy
Mũi thẳng, mi cong, tóc mướt dài
Răng đều, môi mọng, ngực tròn mẩy
Gặp nhau, chào nhau, rồi quen nhau
Ngày một ngày hai thành luyến ái.
(Hà Tiên, Người Xóm Rẫy)

Mới gặp nhau, nàng gọi Bính là “chú” vì “chú Bính” là bạn thơ của dì Mộng Tuyết. Thế rồi, ngày một ngày hai cung đàn đổi bậc. Tú Ngọc đã để lại cho Nguyễn Bính bao nhiêu là kỷ niệm êm đềm của một người tình vừa ngây thơ, vừa trong trắng trong những ngày chàng dừng bước giang hồ trên mảnh đất Hà Tiên đầy thơ mộng:

Vườn trăng cầm tay, thương quá đi!
Một ngày không gặp, nhớ biết mấy!
Thơ tôi nàng gối trên đầu giường,
Đêm che ánh đèn đọc vụng mãi.
Khăn tôi xổ chỉ, áo long khuy
Nàng bảo đưa nàng khâu vá lại
Có hôm tôi bệnh nằm li bì
Nàng đến canh chừng siêu thuốc cháy.
Áo len đương mặc, cởi cho tôi
“Hà Tiên gió biển lạnh lắm đấy!”
(Hà Tiên, Người Xóm Rẫy)

Chàng yêu Tú Ngọc biết mấy! Và nàng cũng yêu chàng biết mấy! Chàng ước ao được dệt mộng chung đôi với người yêu bé bỏng:

Tài hoa bảy bước đã thành thơ
Mà vẫn một đôi tay trắng mãi
Lấy đâu có được tám mươi thành
Để đổi cho tròn viên Ngọc ấy?
(Hà Tiên, Người Xóm Rẫy)

Vậy mà rồi giấc mộng cũng không thành! Tội nghiệp cho cô bé “người yêu xóm Rẫy” của Nguyễn Bính! Ngày xưa chàng bị “cô Oanh sông Nhuệ” dày vò! Ngày xưa chàng bị nữ sĩ Anh Thơ hắt hủi! Và giờ đây chính Nguyễn Bính lại hắt hủi, dày vò Tú Ngọc, người yêu bé bỏng của chàng. Nợ giang hồ lại réo gọi. Và Nguyễn Bính lại cất bước ra đi:

Rồi tôi khăn gói lại lên đường
Nàng ra bờ sông đứng khóc mãi
Tàu đi xa mấy dặm sông dài
Ngoảnh lại vẫn còn tay Ngọc vẫy!
(Hà Tiên, Người Xóm Rẫy)

Ôi! bàn tay bé bỏng của người con gái đáng thương ấy làm sao giữ nổi cánh chim giang hồ!

Nguyễn Bính bỏ Hà Tiên dù rằng Đông Hồ và Mộng Tuyết hết lòng mời chàng ở lại để chàng có điều kiện hoàn tất tập truyện dài bằng thơ mà chàng lấy nhan đề là Thạch Sương Bồ.

Nguyễn Bính bỏ xóm Rẫy dù rằng ở đó người yêu bé bỏng Tú Ngọc của chàng đã van vỉ, đã khóc lóc hết nước mắt.

Chàng trở lại Sài Gòn. Đành đoạn. Rồi cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ cuối tháng 12 năm 1946. Không còn nghe chàng nhắc đến Tú Ngọc nữa. Không còn nghe chàng nhắc đến mẹ con của “người bến Tầm Dương Dung bé bỏng” nữa. Và hình như chàng cũng không còn điều kiện để nhắc đến những “cô Oanh sông Nhuệ”, những “Anh Thơ”, những “Tú Uyên” của một thời yêu đương lãng mạn nữa. Nhưng dù sao, thì với những cuộc tình hoặc tuyệt vọng, hoặc đau thương đó cũng đã để lại cho chúng ta, những người yêu thơ Nguyễn Bính, những tác phẩm thơ tuyệt diệu: Tâm Hồn Tôi, Hương Cố Nhân, Người Con Gái Lầu Hoa, những bài thơ “Có Bấy Nhiêu Lời Tâm Huyết Ấy” (còn gọi là Oan Nghiệt) và “Hà Tiên, Người Xóm Rẫy” như những viên ngọc quý trong kho tàng văn chương của Dân Tộc.

(Đào Đức Nhuận)

Nhạc sĩ Trọng Khương.
Nhạc sĩ Trọng Khương.

Nhạc sĩ Trọng Khương

(Phạm Anh Dũng – Santa Maria, California, USA)

Bánh Xe Lãng Tử là một tuyệt tác của nhạc sĩ Trọng Khương.

Bài hát hay nhưng có đặc biệt ở một kiểu cười.

Trong bài hát, có lẽ người nghệ sĩ bị thất tình thành bỏ đi giang hồ. Anh chàng lãng tử giận người mắt… xanh, đã cười “a ha ha!” Tuy cũng chỉ là cười, nhưng thật ra kiểu cười này vừa có vẻ ngạo nghễ, vừa có vẻ cay đắng. Chưa thấy ai và chắc chả bao giờ có người nào đem được cái nét cười này vào âm nhạc Việt Nam như ông Trọng Khương. Chàng nghệ sĩ đã cười ra nước mắt và khi cười chán chê, đâm ra đau đớn, giận đập vỡ cây đàn kỷ niệm ở bên bờ suối trong một đêm vắng. Rồi chàng uống rượu, ngà ngà say và lại lên xe ngựa già để… “lắc lư con tầu đi” dưới ánh trăng vàng, tiếp tục vừa đi vừa hát, sống cuộc đời lang bạt.

BÁNH XE LÃNG TỬ

(nhạc và lời Trọng Khương)

Bánh xe quay nhanh nhanh
Chiếc thân xe rung rinh
Chìm trong làn cát trắng
Xe nhịp nhàng quay bánh lướt

Hình xe mờ khuất trong mênh mông
Ta luyến lưu một kiếp giang hồ
Dù rằng cuộc sống vô bờ
Tim nồng tràn máu vô tư

A ha ha!
Suối in hình chiếc xe tàng
Đêm nao đập vỡ cây đàn
Giận đời nào ai mắt xanh

Vó câu bấp bênh
Trên đường gian nan
Chiếc xe lắc lư ru hồn nghệ sĩ tới nơi xa ngàn

Xe lăn êm êm dưới ánh trăng vàng
Môi ai say sưa hé mấy cung đàn
Ca lên cho tan nỗi niềm cay đắng

Vui ca lên đi trong chiếc xe già
Sau khi men say lắng mấy tơ đàn
Hồn ta vụt lướt lên trời xanh lam

Ghen là một nhạc phẩm nổi tiếng khác của nhạc sĩ Trọng Khương. Bài hát viết nguyên thủy theo điệu Fox, thật vui và dễ … yêu. Đây là bài tình ca do Trọng Khương phổ nhạc vào thơ Nguyễn Bính. Nhạc của Trọng Khương đã diễn tả được đúng ý vui nhộn của thi sĩ Nguyễn Bính, diễn tả một chàng si tình và… ghen.

Vì “yêu quá mất rồi”, thành ghen. Người ghen không muốn cô em nghĩ đến bất cứ ai cả, không muốn cô tắm biển để người khác ngắm, không muốn thấy cô xức nước hoa làm người khác ngây ngất…
Ghen tuy không đến nỗi “ghen lồng ghen lộn” nhưng cũng khá “vô lý” khi muốn người yêu bé nhỏ chỉ làm những chuyện cho mình thôi, dù là những chuyện bình thường khó tránh được như nhìn, mỉm cười.

Và cũng chỉ vì “ghen đấy quá mà thôi”, không những anh ta chỉ ghen với người mà chàng còn ghen với cả cây cỏ, đồ vật. Phải nói là anh chàng ghen một cách “kỳ la” nữa, khi không muốn người đẹp hôn một đóa hoa xinh tươi, hay căn dặn người tình lúc nằm ngủ không được ôm… gối:

GHEN

(thơ Nguyễn Bính, nhạc Trọng Khương)

Hỡi cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
nhìn tôi trong lúc tôi xa xôi

Tôi muốn cô đừng nghĩ tới ai
Đừng hôn dù thấy đóa hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nằm ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm người

Tôi muốn mùi thơm của nước hoa
mà cô thường xức bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
dầu chỉ qua rồi khách lại qua

Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu quá mất rồi
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của đời tôi

Ngoài Bánh Xe Lãng Tử và Ghen, một tác phẩm hay khác của nhạc sĩ Trọng Khương, rất đáng nhắc đến, là nhạc phẩm Về Miền Nam. Bài hát này có một thời được hát rất nhiều trên các đài phát thanh. Lúc đó vào thời điểm ngay sau Hiệp Định Genève 1954, đất nước thân yêu Việt Nam bị chia đôi ở dòng sông Bến Hải và kết quả làn sóng hàng triệu người đã di cư từ Bắc vào Nam.

Trọng Khương dẫn dắt thính giả, từ tang thương chia cắt đất nước và đau đớn của hận ly hương, đến sự hy vọng trong đời sống mới với đầy hy vọng, trong nắng ấm yêu thương của miền Nam Việt Nam.
Sau đây là lời bản nhạc Về Miền Nam, bản nhạc ngày đó thực sự đã làm xúc động người nghe và cả người hát:

VỀ MIỀN NAM

(nhạc và lời Trọng Khương)

Đứng vùng lên nào bao thanh niên yêu nước
Hướng về đây miền Nam thân yêu nắng ấm
Theo bước chân người xưa, ta tiến lên đường đi
Bao nắng mưa sương gió nào ngại chi

Sông nào cắt đứt đôi nơi
Sông nào xé nát tim tôi
Sông nào bóp chết thương yêu
Việt Nam ơi!

Sông buồn khóc nước tang thương
Sông gầm thét khúc bi thương
Sông sầu nước mắt ly hương
Việt Nam ơi!

Đi về miền Nam
Miền thân yêu hương lúa tràn ngập đầy đồng
Đi về miền Nam
Miền thân yêu đất rộng cùng chung đời sống

Vang lừng khúc hát hoan ca
Say đời sống ngát hương hoa
Ta cười đón gió phương Nam
Miền Nam ơi!

Đây miền đất nước xinh tươi
Đây miền nắng ấm reo vui
Đây miền sống phắp muôn phương
Việt Nam ơi!

Ngoài ra Trọng Khương còn sáng tác những bản tân nhạc nữa như Đường Về Nhà Tôi, Nhớ Rừng Hoang, Men Rượu Lên Hương, Duyên Thắm, Hai Kẻ Giang Hồ, Đôi Guốc Mới, Cai Thuốc Lá… và những tác phẩm này không mấy nguời biết đến.

Nhưng phải nói, chỉ cần ba bản nhạc tuyệt tác như Bánh Xe Lãng Tử, Ghen và Về Miền Nam, Trọng Khương cũng đã thành danh mãi mãi…

(Phạm Anh Dũng – Santa Maria, California, USA)

trongkhuong_ĐB1

Trọng Khương và Nguyễn Bính cùng “Ghen”

(Tưởng An tổng hợp – 18/03/2010 14:31:56)

Ghen là một nhạc phẩm nổi tiếng khác của nhạc sĩ Trọng Khương. Bài hát viết nguyên thủy theo điệu fox, thật vui và dễ … yêu. Đây là bài tình ca do Trọng Khương phổ từ thơ của Nguyễn Bính.

Hỡi cô nhân tình bé của tôi ơi
Tôi muốn môi cô chỉ mỉm cười
Những lúc có tôi và mắt chỉ
Nhìn tôi trong lúc tôi xa xôi

Trong tình yêu, bạn có thể ghen với muôn vàn những lí do hay đôi khi chẳng vì nguyên nhân gì cả. Bạn có thể ghen dù chính bạn cũng biết rõ mọi chuyện không nghiêm trọng đến thế hay đó chỉ là những cảm xúc nhất thời và sẽ vụt bay trong phút chốc.

Ghen có thể nói là một đặc tính cố hữu của tình yêu đôi lứa. Một điều nghe đã quá đỗi quen thuộc nhưng không hề cũ trong mọi thời đại. Nó đã tồn tại lâu đời , như một thực tại khách quan trong ý thức hệ của con người từ khi sinh ra và còn tồn tại mãi mãi cùng với cuộc sống của con người trong vũ trụ.

Bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ. Bất cứ một sự chia sẻ nào cũng làm cho tình yêu trở nên không trọn vẹn và mất đi sự thiêng liêng của một thứ vốn có tính chất bền vững vĩnh cửu trong đời sống tinh thần của nhân loại.

Khi đã có lòng yêu ai, người ta chỉ muốn người ấy chỉ là của riêng mình một cách tuyệt đối. Vì thế cái ghen luôn luôn tỷ lệ thuận với mức độ mãnh liệt trong tình yêu hay nói cách khác, nó chính là thước đo tình yêu? Điều này cũng chưa chắc, vì đôi khi chúng ta ghen chỉ vì sự ích kỷ của bản thân, cảm thấy sự sở hữu của mình bị “đe dọa”, vì thế chúng ta ghen…?!

Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai
Đừng hôn dù thấy đóa hoa tươi
Đừng ôm gối chiếc đêm nằm ngủ
Đừng tắm chiều nay bể lắm người

Tôi muốn mùi hương của nước hoa
Mà cô thường xức chẳng bay xa
Chẳng làm ngây ngất người qua lại
Dẫu chỉ qua rồi khách lại qua

Điệp khúc “tôi muốn ….” được lặp đi lặp lại nhiều lần trong bài, trong nhiều hoàn cảnh cụ thể khác nhau của đời sống thường nhật mà người yêu của anh đang trú ngụ trong cõi thực. Những sự mong muốn sở hữu ấy, thậm chí có lúc trở nên vô lý, vì người con trai rất “lạ lùng” kia còn có cả cái tính ghen với những sự vật vô tri vô giác, mà cô gái thường sử dụng như: những cánh hoa, chiếc gối,… chỉ vì chúng có được cái diễm phúc rất to lớn là thường xuyên được cô gái ôm ấp, nâng niu và hôn một cách rất tình tứ, say mê.

Ghen như vậy thì quả là hết ý! Và Nguyễn Bính là người “phát hiện” ra. Trên nền nhạc của nhạc sĩ Trọng Khương đã có sự kết hợp hài hòa giữa thơ và nhạc. Tạo nên một bản tình ca, có thể nói là bất hủ.

Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi
Thế nghĩa là yêu quá đi mất rồi
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của đời tôi
Và nghĩa là cô là tất cả
Cô là tất cả của đời tôi

Bạn từng ghen? Bạn chưa nghe ca khúc “Ghen”? Hãy cảm nhận qua tiếng hát của Tuấn Ngọc. Và hãy để “ghen” là một chút bột nêm cho tình yêu của bạn thêm mặn mà. Nhưng đừng “nêm” quá tay kẻo “xôi hỏng bỏng không” đấy.

(Tưởng An tổng hợp)

Ảnh TQB chụp nhạc sĩ Châu Kỳ tại Sàigòn năm 1997. Những lần Ông có chút men say, Châu Kỳ hay tâm sự về những kỷ niệm của đời âm nhạc.
Ảnh TQB chụp nhạc sĩ Châu Kỳ tại Sàigòn năm 1997. Những lần Ông có chút men say, Châu Kỳ hay tâm sự về những kỷ niệm của đời âm nhạc.

Nhạc sĩ TRỌNG KHƯƠNG đã chết ngậm ngùi ra sao

(Trần Quốc Bảo)

Trưa thứ tư ngày 17 tháng 7, 2013, đang viết những giòng cuối để gửi bài đi, thì điện thoại của PHQ báo tin ra gấp nhà hàng Star Fish vì có chị Kiều Loan từ San Diego lên thăm các bạn bè trong nhóm Nghệ Sĩ Một Thời Sàigòn Nhớ. Kiều Loan là một chất keo để dán chặt những bạn bè trong những ngày vui lẫn cả lúc giận hờn. Bước chân vào cửa nhà hàng Star Fish, là mùi đồ ăn đã ngào ngạt thơm phức, là tiếng nói cười rộn ràng lan tỏa của cô chú nhà văn Nhật Tiến, Phượng Linh, Phượng Khanh, Linh Phương, Trang Thanh Lan, Mai Lệ Huyền, xướng ngôn viên Chuly, Anh Nghĩa, Kiều Loan, Phương Hồng Quế, Cát Phương, Hạnh và con trai Bình.. Nét mặt tươi nhất là ca sĩ Quốc Anh sau khi thành công lớn với đêm ra mắt CD Hoa Cài Mái Tóc vào tối thứ sáu tuần qua (12/7), đêm đó khán giả, nghệ sĩ và Ông Thần Tài đều hiện diện và chúc mừng Anh nồng nhiệt. CD mới của Quốc Anh gồm có 11 bài hát tủ như Gặp nhau làm ngơ, Kim, Quando Quando, Sầu đông, More than I can say, Hoa cài mái tóc, Amor amor.. mà người ca sĩ này đã làm nhiều người say mê hơn 30 năm qua. Tôi cũng rất yêu mến phong cách trình diễn sống động của Quốc Anh khi anh hát Bánh Xe Lãng Tử và Ghen của Trọng Khương, đó là những bài hát đã trở thành bất tử, cho dù người sáng tác ra nó, đã chết trong âm thầm và lặng lẽ nhất.

Có một lần trò chuyện tâm sự với nhạc sĩ Châu Kỳ tại nhà hàng Thanh Mai khoảng năm 2003, người viết bùi ngùi mãi về câu chuyện do tác giả Con Đường Xưa Em Đi, Đừng Nói Xa Nhau kể lại cái chết hiu quạnh của Trọng Khương, một nhạc sĩ nổi tiếng với một số bài hát do Ông sáng tác từ đầu thập niên 50-60, trong số đó, có 2 ca khúc được nhiều người nhớ đến nhất, đó là Ghen và Bánh Xe Lãng Tử. Những ca khúc của Ông cũng đã góp phần thành danh cho một số ca sĩ thời bấy giờ. Sau năm 1975, không ai còn thấy Ông đâu và theo lời nhạc sĩ Châu Kỳ kể lại thì nhạc sĩ Trọng Khương đã mất năm 1977 và cũng chính Châu Kỳ cũng là người có mặt lúc tẩm liệm tác giả Bánh Xe Lãng Tử trong những giờ phút sau cùng.

Châu Kỳ kể lại: “Đó là năm 1977, cái thời dân SG còn lao đao vì miếng cơm manh áo lắm”. Lúc ấy, nhà Châu Kỳ bấy giờ ở gần ga xe lửa Hòa Hưng. Cứ vài ngày thèm rượu quá, Châu Kỳ hay đi tìm mua uống chút cho đỡ thèm. Từ trước 1975, nhiều người đã biết Châu Kỳ có thể uống quanh năm suốt tháng mà không ngưng nghỉ phút giây nào. Lạ một nỗi, nhiều người uống rượu nhiều chừng nào càng dễ sinh ra biết bao thứ bịnh về gan, phổi.. chỉ riêng Châu Kỳ thì tình trạng sức khỏe của Ông lại tốt vô cùng. Uống càng nhiều, da dẻ càng hồng hào, thần sắc thêm minh mẫn và ý tưởng sáng tác rất phong phú dồi dào. Điều đáng ngại duy nhất, là khi Ông uống rượu vào, thì tánh dễ nóng nay, những buồn phiền uẩn ức dễ dàng tuôn trào bằng những lời trách đời trách người đã xô đẩy Ông vào hoàn cảnh bế tắc. Nhiều lần, chính Ông cũng đã bị rắc rối vì những lời phát biểu lúc có men say.

Trở lại với câu chuyện một buổi chiều năm 1977 đi mua rượu ở gaxe lửa Hòa Hưng, Ông gặp được nhạc sĩ Trọng Khương đang đi lang thang buồn bã trên đường với quần áo nhàu nát, tóc tai bù rối. Sau những giây phút đứng tâm sự về cảnh đời hai bên giai đoạn này, Châu Kỳ khuyên Trọng Khương về nhà Ông nghỉ ngơi chứ đừng đi lang thang nữa nhưng tác giả Bánh Xe Lãng Tử nằng nặc chối từ. Trọng Khương cầm cây đàn guitar chào tạm biệt Châu Kỳ rồi đi, sau khi kể cho Châu Kỳ nghe về nỗi buồn cay đắng của Ông ta khi hôm nay Ông ghé qua nhà của N.L – một danh ca Sàigòn thập niên 60 – người từng được nổi tiếng với những ca khúc của Trọng Khương. Khi đến nhà N.L để cầu cạnh sự giúp đỡ, thì N.L đã thẳng thắn chối từ và nói nhiều lời đau lòng xúc phạm đến Trọng Khương. Cay đắng với thế thái nhân tình và xót xa với một bản thân hiện tại, thế là như lời một bài nhạc của TCS: “Trời cao đất rộng, một mình tôi đi. Đời như vô tận một mình tôi về với tôi”.

Qua ngày hôm sau thì dân ở ga xe lửa Hòa Hưng đều biết tin Trọng Khương nằm chết co ro hoang lạnh trên hè ga, tay còn cần cây đàn guitar của mình và mặt Ông lúc chết như còn vương bao điều xót xa chưa nói hết. Hai bài nhạc nổi tiếng nhất của Ông là Ghen và Bánh Xe Lãng Tử được viết theo thể loại nhạc nhanh, vui, Twist, và trải qua gần nửa thế kỷ, những giòng nhạc trên vẫn được nhiều thế hệ hát trong các đêm dạ vũ, đại nhạc hội, tiệc tùng.. Những giòng nhạc thì rất vui nhưng lòng người sáng tác và cuộc đời của họ thì lại u ám như một mùa đông dài ngàn thu. Viết ra những giòng này, lòng người viết lại một lần nữa bùi ngùi nhớ đến Trọng Khương, một tài danh sáng tác đã mang đến cho đời những niềm vui mênh mông và đã ra đi hiu quạnh chẳng ai hay biết

(Trần Quốc Bảo)

oOo

Ghen – Nghệ sĩ Nguyễn Quang Minh Hòa diễn ngâm trên nền nhạc luyện năm cung:

 

Ghen – Ca sĩ Tuấn Ngọc:

 

Ghen – Ca sĩ Elvis Phương:

 

Ghen – Ca sĩ Vũ Khanh:

 

Ghen – Ca sĩ Lam Trường:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s