Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Chuyện Tình Hoa Trắng”, “Hồi Chuông Xóm Đạo” – Kiên Giang & Anh Bằng

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn các thi khúc “Chuyện Tình Hoa Trắng”, “Hồi Chuông Xóm Đạo” (“Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím”) của Thi sĩ Kiên GiangNhạc sĩ Anh Bằng.

Thi sĩ Kiên Giang (1929-2014) tên thật Trương Khương Trinh, là một nhà thơ, ký giả, soạn giả cải lương nổi tiếng với bài thơ “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím”. Ông còn được xem là thầy của hai soạn giả nổi tiếng khác là Hà Triều – Hoa Phượng. Ông còn có bút danh khác: Hà Huy Hà.

Ông sinh ngày 17 tháng 2 năm 1929 tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc tỉnh Kiên Giang), là đồng hương của nhà văn Sơn Nam. Năm 1943, ông theo học trường tư Lê Bá Cang tại Sài Gòn.

Ngoài làm thơ, thi sĩ Kiên Giang – với nghệ danh Hà Huy Hà – còn là một soạn giả cải lương rất nổi tiếng thời bấy giờ, cùng với Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều – Hoa Phượng, Quy Sắc,… Các tác phẩm cải lương của ông có thể kể đến “Áo Cưới Trước Cổng Chùa”, “Người Vợ Không Bao Giờ Cưới”, trong đó “Người Vợ Không Bao Giờ Cưới” đã giúp cho nghệ sĩ Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm và trở thành một ngôi sao trong nghệ thuật cải lương.

Thi sĩ Kiên Giang thời trẻ.
Thi sĩ Kiên Giang thời trẻ.

Trước 1975, thi sĩ Kiên Giang còn làm ký giả kịch trường cho nhiều tờ báo lớn của Sài Gòn như Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lập Trường, Điện Tín, Tia Sáng,… Ông từng tham gia phong trào “ký giả đi ăn mày” và dẫn đầu đoàn biểu tình chống lại những quy chế khắt khe do chính quyền Việt Nam Cộng Hòa miền Nam áp đặt lên giới báo chí. Ông phải vào tù vì việc này.

Sau 1975, ông làm Phó Đoàn Cải Lương Thanh Nga, Phòng Nghệ Thuật Sân Khấu. Ông còn là thành viên Ban Chấp Hành Hội Sân Khấu Sài Gòn qua ba nhiệm kỳ.

Ông qua đời lúc 18g00, ngày 31 tháng 10 năm 2014, tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Sài Gòn, hưởng thọ 86 tuổi.

“Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” có lẽ là bài thơ nổi tiếng nhất của ông, đã được NS Anh Bằng và NS Huỳnh Anh phổ nhạc.

Di ảnh bà Nguyễn Thúy Nhiều và thi sĩ Kiên Giang.
Di ảnh bà Nguyễn Thúy Nhiều và thi sĩ Kiên Giang.

Ông cho biết:

“Đây là tâm tình người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo. Mối tình học trò tinh khiết, ngây thơ, không nhuốm bụi trần. Năm 1944, tôi ở Cần Thơ học trường tư thục Nam Hưng, dốt toán nhưng giỏi luận chuyên làm bài giùm cho bạn cùng lớp, trong đó có Nguyễn Thúy Nhiều – cô bạn dễ thương thường mặc áo bà ba trắng, quần đen, mang guốc mộc. Có những buổi tan học lẽo đẽo đi theo sau Thúy Nhiều đến tận nhà cô ở xóm nhà thờ. Cách mạng bùng nổ, không có tiền đi đò về quê, Nhiều biết ý gửi cho, rồi đi kháng chiến, gặp người quen trong đội quân nhạc nhắn: ‘Con Tám Nhiều vẫn chờ mày’. Năm 1955 tôi ghé ngang Cần Thơ, xin phép má của Nhiều. tâm tình suốt đêm bên ánh đèn dầu huê kỳ. Sau đó tôi nghe tin Nhiều lấy chồng có con đầu lòng đặt tên bằng Triều, tên ghép lại của tôi và Nhiều, vì thế chồng cô biết rất ghen tức. Chính vì lý do nầy tôi đổi bốn câu kết bài thơ này, giống như tống tiễn mối tình học trò trinh trắng. Kết trước là:

Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu
Từ nay tóc rũ khăn sô
Em cài hoa tím trên mồ người xưa

thành cái kết:

Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo
Nhưng tin có chúa ở trên trời
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!

Năm 1999, hãng phim TFS Đài Truyền Hình Sài Gòn có làm phim “Chiếc Giỏ Đời Người” về sự nghiệp hoạt động văn nghệ của tôi, khi trở về Cần Thơ quay lại cảnh trường cũ, mới hay tin là Nhiều mất năm 1998. Tôi mua bó huệ trắng, ra thăm mộ Nhiều ở nghĩa trang Cái Su. Đúng là:

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng
Anh kết tình tang gởi xuống mồ”.

Thủ bút của thi sĩ Kiên Giang.
Thủ bút của thi sĩ Kiên Giang.

Thi phẩm “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” (Thi sĩ Kiên Giang)

(1)
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường

Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh

Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay! chuông nhạc đạo
Rộn rã thay! chuông nhà trường

Lần lữa anh ghiền nghe tiếng chuông
Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
Để nghe khe khẻ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đô?
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nho?
Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi

***

Sau mười năm lẻ, anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm một khối sầu
– Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh

Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngăng cách mấy sông
Anh vẫn yêu người em áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

***

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giử quê hương
Giữ màu áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường

Mặc dù em chẳng còn xem lễ
Ở giáo đường u tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối tình thơ

Màu gạch nhà thờ còn đỏ thắm
Như tình nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu quy ấy
Áo tím nàng thơ đã nhạt màu

***

Ba năm sau chiếc xe hoa cũ?
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng
Anh kết tình tang gởi xuống mồ

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không còn đứng nép ở lầu chuông
Nhưng khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa giáo đường

“Lạy Chúa! con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên trời
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!”
(Bến Tre, 14-11-1957)

(2)
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường

Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh

Quen biết nhau qua tình lối xóm
Cổng trường đối diện ngó lầu chuông
Mỗi lần chúa nhật em xem lễ
Anh học bài ôn trước cổng trường

Thuở ấy anh hiền và nhát quá
Nép mình bên gác thánh lầu chuông
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thần chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đỗ?
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ?
Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi

***

Sau mười năm lẻ, anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm một khối sầu
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Giữ làm chi kỷ vật ban đầu

Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngăng cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

***

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giử quê hương
Giữ tà áo tím màu hoa trắng
Giữ cả trường xưa nóc giáo đường

Giặc chiếm lầu chuông xây gác súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh gom gạch đổ xây tường lũy
Chiếm lại lầu chuông giết kẻ thù

Nhưng rồi người bạn cùng trang lứa
Đà chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều, em nức nở?
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ

Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp cỗ quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò mãi thắm tươi

***

Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc… tiễn người ngàn thu
Từ đây, tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng trên mồ người xưa .
(Gia Định, 28-05-1958)

kiengiang6

Thi khúc “Chuyện Tình Hoa Trắng” (Nhạc sĩ Anh Bằng)

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường

Từ lúc giặc tràn qua xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím cành hoa trắng
Giữ cả trường xưa nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng
Súng gầm vang đổ gạch nhà thờ
Anh gom gạch nát xây tường cũ
Chiếm lại lầu chuông nóc giáo đường

Nhưng rồi người trai anh hùng ấy
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều hồi vĩnh biệt
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ

Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp áo quan tài
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Nỗi buồn ôi kỷ niệm ban đầu

Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu
Chiều nay áo tím bơ vơ
Thương cành hoa trắng trên mộ người xưa

Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu
Chiều nay áo tím bơ vơ
Thương cành hoa trắng trên mộ người xưa

kiengiang_HCXĐ1

kiengiang_Hồi Chuông Xóm Đạo

Thi khúc “Hồi Chuông Xóm Đạo” (Nhạc sĩ Anh Bằng)

Người hỡi tôi biết yêu là khổ
Xin kể lại chuyện xưa lưu bút trong nhật ký
Chiều nay nghe hồi chuông xóm Đạo vẫn nhớ thương và buồn.

Chuyện mười trăm trôi qua khi em còn đến trường
Tuổi đời đẹp như thơ hoa bướm mộng mơ
Ngày xưa tôi còn dại khờ yêu em chẳng dám hẹn hò đôi câu.

Ngày xưa em xinh đẹp mỹ miều
Tóc thề buột cheo leo yêu quá là yêu
Ngày xưa tôi học thì lười
Yêu em chỉ nhớ nụ cười môi em.

Trường em ngó ngát chuông nhà thờ
Chúa Nhật em xem lễ tôi học bài vu vơ
Giờ tan lễ hai đứa chung đường về
Em thẹn thùng không nói tôi đứng lại không đi.

Rồi mười năm trôi êm hoa trắng cài áo tím
Không từ giã một lời từng hồi chuông xóm đạo
Rộn ràng mừng thành lễ áo tím ngày vu quy !!!

Dưới đây mình có các bài:

– KIÊN GIANG: Nhà Thơ Chân Quê Và Hoa Trắng Tình Yêu
– Hoa trắng thôi cài trên áo tím!…

Cùng với 5 clips tổng hợp các thi khúc “Chuyện Tình Hoa Trắng”, “Hồi Chuông Xóm Đạo” do các ca sĩ trong nước và hải ngoại diễn xướng đển các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Thi sĩ Kiên Giang.
Thi sĩ Kiên Giang.

KIÊN GIANG: Nhà Thơ Chân Quê Và Hoa Trắng Tình Yêu

(Nguyễn Vy Khanh)

Nhà thơ Kiên Giang đã đến và ở lại văn-học sử Việt Nam với tình-yêu chân quê và mối tình màu hoa trắng. Ông tên thật là Trương Khương Trinh, sinh ngày 17 tháng 2 năm 1929 tại làng Đông Thái, tỉnh Kiên Giang (cùng quê với nhà văn Sơn Nam, vùng rừng U Minh cũng là thế giới tiểu thuyết của Sơn Nam). Ngoài thơ-ca được ký dưới bút hiệu Kiên Giang khi đăng báo và Kiên Giang Hà Huy Hà khi xuất bản, ông còn là soạn giả cải lương Hà Huy Hà và ký giả kịch trường Kiên Giang Hà Huy Hà. Các bút hiệu ‘nghi-trang’ ông đã dùng trên báo chí miền Nam cộng-hòa: Ngân Hà, Nam Bình, Tám H., Trinh Ngọc, Bút Trời, Bút Sài-Gòn, Cửu Long Giang.

Năm 1946, ông tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm, trưởng Đoàn văn nghệ thiếu nhi cứu quốc tỉnh Rạch Giá, làm biên tập và phóng viên báo Tiếng Súng Kháng Địch ở chiến khu 9 với bút hiệu Huy Hà và ký Kiên Giang khi làm thơ. Ông đã gặp và sống gần gũi nhà thơ Nguyễn Bính trong cùng chiến khu và hai người đã kết nghĩa anh em. Kiên Giang đã kể rằng ông “có nhiều ràng buộc với thi sĩ Nguyễn Bính lúc Nguyễn Bính đến tá túc tại xóm biển Kiên Giang (Rạch Giá). Nguyễn Bính đã khích lệ tôi làm thơ” (1). Sau năm 1955, Kiên Giang trở về Sài Gòn viết báo và làm ký giả kịch trường cho các nhật báo Lẽ Sống, Dân Chủ Mới, Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Thời Sự Miền Nam, Dân Ta, Dân Tiến, Lập Trường, Điện Tín, Tia Sáng ở Sài-Gòn và Miền Tây ở Cần Thơ; cộng tác với một số tạp chí văn-nghệ như Đời Mới, Bông Lúa, Vui Sống, Nhân Loại (2), Thế Giới, Phổ Thông, v.v., soạn các tuồng kịch cải lương và bài ca vọng cổ. Ông còn là trưởng Ban thơ văn Mây Tần của đài phát thanh Sài-Gòn.

Về tác phẩm, ông đã xuất bản các tập thơ Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím (1962, nhà xuất bản Phù Sa của nhà văn Ngọc Linh, nhà văn Thanh Nam đề tựa, 62 trang), Lúa Sạ Miền Nam (NXB Lá Bối, 1970. 80 trang), Quê Hương Thơ Ấu(NXB Phù Sa, 1967, 63 trang). Sau 1975, ông có Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím (NXB Văn-học, 1995) được tái bản và có tuyển tập Thơ Kiên Giang (Hà-nội: NXB Văn-hóa thông-tin, 1996. 107 trang). Ông cũng đã soạn nhiều vở cải-lương như Người vợ không bao giờ cưới (1958 với Phúc Nguyên), Ngưu Lang Chức Nữ, Áo cưới trước cổng chùa, v.v. và một số bài tân cổ giao duyên.

Nhà thơ của hoa trắng tình-yêu

Chính thức gia nhập làng thơ Việt-Nam năm 1952 nhưng thi tập Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím là tác-phẩm đầu tay của ông, được xuất bản và tái bản cùng năm 1962. Những bài thơ, trường thiên có, ngắn có, gợi nếp sống thanh bình hay cảnh chiến tranh, nhưng cả tập đều đầy hương vị của miền Nam thôn dã, ruộng đồng. Kỷ niệm thời hoa niên, những tình yêu ngang trái hay nhẹ nhàng, những cảnh quê của một miền Nam chưa đô thị hoá, ở khung cảnh và tâm tình con người. Giòng sông uốn khúc chảy ra biển “vẫn nhớ rễ bần, đất Hậu giang”, cây đa xiêu vẹo đầu làng, tiếng nhạc xe bò qua cầu Hàng Sanh, màu mực tím từ trái mồng tơi, người mẹ cả đời hy sinh cho chồng con, một cô gái nhỏ ngây thơ, một tà áo tím kỷ niệm,…

Nổi tiếng nhất là bài Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím được dùng làm tựa tác phẩm, bài thơ mà vào đầu thập niên 1960 những tiếng ngâm Hoàng Oanh, Hồ Điệp, v.v. trên làn sóng điện trong chương trình Tiếng Thơ Mây Tần do Kiên Giang phụ trách trên đài phát thanh Sài Gòn, đã từng làm say mê thính giả một thời và được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc. Bài Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím là một trong số những truyện kể của tập: Hai người học trò quen nhau, nàng hay mặc áo tím và cài hoa trắng. Thời gian qua nàng lấy chồng còn chàng đi theo tiếng gọi chống giặc xâm lăng cũng là để bảo vệ những kỷ niệm trân quý thời hoa niên. Một tình-sử đẹp thời chiến tranh chống ngoại xâm. Bài thơ Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím đã đưa nhà thơ Kiên Giang vào văn-học sử. Một chuyện tình đẹp với những nét thuần-khiết và chân chất. Rất lâu sau này nhà thơ mới tiết lộ cho biết người con gái đối tượng tình-yêu và các chi tiết chung quanh bài thơ. Một chuyện tình thật của nhà thơ với cô Nguyễn Thúy Nhiều, một cô bạn học cùng lớp đệ nhị tại trường tư thục Nam Hưng, Cần Thơ. Tình trong như đã với cả hai nhưng thật câm nín, chàng trai chỉ biết theo bước chân nàng những hôm nàng đi lễ nhà thờ, nàng thường mặc áo tím và cài hoa trắng. Cho đến ngày kháng chiến tháng 8-1945. Ông về quê tham gia kháng Pháp rồi gia đình ép lấy vợ. Mười năm sau gặp lại, người nữ áo tím ngày nào vẫn chờ. “Hai tháng sau, ông nhận được thư bà Nhiều báo sẽ lấy chồng vì Kiên Giang đã có vợ. Người chồng của bà Nhiều cũng tên Trinh và khi sinh đứa con đầu lòng bà đặt tên tên Triều (gồm một nửa Nhiều và Trinh cộng lại)” (3).

Bài Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím có hai văn-bản: bản đầu ghi sáng tác tại Bến Tre ngày 14-11-1957, gồm 15 đoạn (60 câu), bản thứ hai ghi ‘Gia-Định 28-5-1958’ lược bỏ mất 8 câu và thay đổi một số câu và chữ dùng. Đặc biệt diễn tiến câu chuyện tình và ý tưởng ở cuối hai bản khác nhau nhưng người đọc và thính giả đài phát thanh và ca nhạc đa số chỉ giữ lại đoạn cuối của bài thứ nhất sáng tác vào tháng 11-1957: người nữ áo tím cài hoa trắng sẽ trở lại giáo đường, nhưng trong chiếc áo quan và mối tình sẽ bất diệt.

Trước hết, xin ghi lại văn bản đầu trích từ tuyển tập Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím do nhà Phù Sa xuất bản năm 1962, chúng tôi in nghiêng những câu và chữ sẽ thay đổi ở bản sau. Đầu bài thơ ghi “Tâm-tình người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo”:

“Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa xóa không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường
Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh

*

Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay! chuông nhạc đạo
Rộn rã thay! chuông nhà trường
Lần lữa anh ghiền nghe tiếng chuông
Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
Mỗi lần tan lễ chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi

*
Sau mười năm lẻ, anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình
– Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Anh vẫn yêu người em áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

*

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường
Mặc dù em chẳng còn xem lễ
Ở giáo đường u-tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối tình thơ
Màu gạch nhà thờ còn đỏ thắm
Như tình nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu-qui ấy
Áo tím nàng thơ đã nhạt màu

*

Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang
Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng
Anh kết tình tang gởi xuống mồ
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không còn đứng nép ở lầu chuông
Những khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa giáo đường
“Lạy Chúa! con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên trời”
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi !!”
(Bến Tre 14-11-57) (Tr. 25-27)

Trong bài này, mối tình đam mê của ‘người trai ngoại đạo’ rất nồng nàn và kết thúc lãng mạn. Ngược lại, ở bài sửa lại sau, ghi ngày 28-5-1958, thay vì nhân vật nữ chết và tình tác-giả vẫn nồng cháy, thì ông để người trai “đã chết hiên ngang dưới bóng cờ” khi bảo vệ ngôi thánh đường và như tác giả sau này cho biết vì muốn người yêu sống hạnh phúc bên chồng con, ông đã đổi một số câu trong bài cho hợp tình ý câu chuyện và đoạn kết bài thơ như muốn tống tiễn mối tình học trò trong trắng ấy (3). Xin ghi lại nguyên bài thứ hai (trong cùng tập do nhà Phù Sa xuất bản, tác-giả để bài năm 1958 lên đầu tập, trang 9-11 và phụ ghi là bài 1, bài năm 1957 thành bài 2, trang 25-27).

“Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường
Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh

*

Quen biết nhau qua tình lối xớm
Cổng trường đối diện ngó lầu chuông
Mỗi lần chúa nhựt em xem lễ
Anh học bài ôn trước cổng trường
Thuở ấy anh hiền và nhát quá
Nép mình bên gác thánh lầu chuông
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi

*

Sau mười năm lẻ, anh thôi học
Nức nở chuông trường, buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy

*

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm một khối sầu
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Giữ làm chi kỷ-vật ban đầu
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ tà áo tím màu hoa trắng
Giữ cả trường xưa nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây gác súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh gom gạch đổ xây tường lũy
Chiếm lại lầu chuông giết kẻ thù
Nhưng rồi người bạn đồng trang lứa
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều, em nức nở
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp cỗ quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò mãi thắm tươi

*

Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc …tiễn người ngàn thu
Từ đây, tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng trên mồ người xưa”
(Gia-Định 28-5-58) (Tr. 9-11)

Bài thơ Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím cốt kể một chuyện tình riêng tư đã trở thành một bản tình ca đẹp. Ngoài ra, trong một số bài thơ khác, Kiên Giang đã tỏ những mối tình đơn sơ, thoáng qua, v.v., như trong bài Quán Giữa Đồng:

“Trà Mi có quán giữa đồng,
Có cô gái nhỏ má hồng hữu duyên;
Hữu duyên mà lại chín chuyên,
Nhưng lòng khép kín như phên quán này.

Trưa vào đúng buổi cày,
Tôi vào quán đợi xế dài …, cày dâm.
Hôm nào trời đổ mưa dầm,
Tôi vào hơ áo… đợi tàn cơn mưa.

Chiều chiều gió đẩy gió đưa,
Nhìn xem lá mạ mà mơ duyên nồng.
Tháng ba, cá rốc lên đồng;
Trai làng đã rạ kêu công đầu mùa .
Chiều rồi! … đồng vọng chuông chùa;
Cày chưa hết việc… mặc giờ hoàng hôn.
Cày trưa thiếu nước thiếu cơm,
Ghé vào quán nhỏ đỡ cơn đói lòng.
Cám ơn cô quán giữa đồng,
Quán nghèo tuy hẹp, mà lòng không thưa.

Từ khi giặc đốt quán xưa,
Thiếu nơi trú nắng, đụt mưa qua ngày.
Tôi buồn khi thả vốc cày,
đành ngồi dang nắng… đợi chiều cày dâm.
Trời dù mưa mới lâm râm,
Tôi lo thiếu lửa …, hơ chăn áo nghèo (…)”.

Hay những mối tơ duyên quê đơn sơ được kể lể trong bài Cầu Tre. Đặc biệt mở đầu bài thơ, Kiên Giang ghi lời nhắn “Gởi Thùy Nhiêu và thân tặng những bạn đường đang sống quay cuồng giữa đô thành loan vết xe ngựa và cát bụi, chắc không bao giờ hướng mắt về miền quê để mà sống lại với mối tình ‘cầu tre’ …” (4). Phải chăng Thùy Nhiêu là Nguyễn Thúy Nhiều, người nữ của Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím? Vì bài được ghi làm ở “Rạch Giá, Thượng tuần tháng Chạp, 1953” tức lúc ông còn ở trong chiến khu, xa người yêu!

“… Nhà anh ở kế bên cầu,
Nhà em ở cuối đầu cầu bên sông.
Bên sông cứ mỗi hừng đông,
Em ra vo gạo, bến sông bên cầu .
Anh vừa mở cổng thả trâu,
Thấy em, anh vội xé rào nhìn em.
Rồi qua cầu nói với em:
“Cô vo nếp anh thèm mùi xôi”
Vì anh, khi mới hừng trời,
Qua cầu, em biếu dĩa xôi muối mè .
Cầu tre lắc lẻo cầu tre,
Con đò chở tấm tình quê qua cầu ….
Từ đây cứ mỗi mùa cau,
Anh qua cầu để bẻ cau cho nàng.
Khi nào trầu hút trầu khan,
Anh qua xin lá trầu vàng bên em.
Khi mùa cấy hái “đông ken”,
Ruộng anh em cấy, đất em anh cày.
Vần công lối xóm tiếp tay,
Kết tình lưu luyến gái trai đôi làng.
Đôi tim trang lứa nhịp nhàng,
Hoà theo nhịp sóng lúa vàng mênh mông.
Đôi lòng cách một dòng sông,
Tơ hồng chưa buộc, tơ lòng đã xe.
Cầu tre lắc lẻo cầu tre,
Duyên nghèo đầm thấm, tình quê nồng nàn.
Trong tình yêu nước, yêu làng,
Có tình chăn gối, đá vàng lứa đôi.
Mẹ chàng cậy mối cậy mai,
Tặng quà lễ nói một đôi bông vàng.
Hai bên cô bác họ hàng,
Chọn ngày lễ cưới qua rằm tháng Giêng.
Bỗng rồi lửa cháy xóm giềng,
Cầu tre gãy nhịp gục nghiêng giữa dòng.
Lửa tràn lan cháy bên sông,
Máu pha nước mắt đỏ lòng trường giang.
Giặc tràn về bắt sống nàng (…) “.

Sống đời vợ chồng, nhà thơ có những giây phút chạnh lòng thương người vợ hiền, sau những vui chơi với bè bạn, như đã được biểu tỏ trong bài Mới Cưới cảm hứng từ ý thơ “nàng ngỡ vợ chồng như mới cưới”:

“Thành đô đêm ấy…trời mưa lớn
Tơ lạnh giăng sầu xóm ngoại ô
Có một linh hồn say đọa lạc
Trở về hốc hác giữa cơn mưa
Nghiêng nghiêng chiếc bóng xô phiên cửa
Rón rén vào trong bóng tối dày
Tóc rối còn tanh mùi phấn rửa
Mặt người úp xuống giữa bàn tay
Người ấy khoát rèm nhìn chiếu lạnh
Kìa người vợ yếu ngủ mê say
Đôi tay thon nhỏ kê làm gối
Hai đứa con gầy nằm sải tay
Thấy chăng con bú trong cơn ngủ
Nút mạnh đôi đầu vú héo hon
Ai biết mẹ gầy trong giấc ngủ
Vẫn sang dòng máu để nuôi con (…)” (1956).

Nhà thơ chân quê

Quê hương, dân tộc, tình cảm yêu nước rõ nét hoặc bàng bạc trong nhiều bài thơ của ông. Lời lẽ nói chung chân thành và giản dị, không làm dáng, không phức tạp và đẽo gọt tiếng nói, lời văn. Lời và ý một nhịp, chân chất như con người vùng đất Hậu-giang. Thơ Kiên Giang mang tính truyện kể hơn là văn chương điêu luyện. Hãy nghe lời của một chàng trai ghé xin nước ở nhà một cô gái giữa trưa nắng gắt:

“Trời đang đứng bóng trưa gay gắt
Anh ghé nhà em xin nước mưa
Ngỡ lạc Đào Nguyên hay Thượng Uyển
Khi bông sứ nở hội đương mùa
Uống nước trời mưa anh như tưởng
Uống mùi hương tóc gái ngây thơ
Nước trong veo quá, không men rượu
Mới uống lòng đà ngây ngất say
Gió thổi tóc bay hương phảng phất
Giả vờ anh gợi “Nước mưa thơm”
Hương xông từ tóc lên da thịt
Vì má hồng chưa có dấu hôn
Vuốt tóc liếc nhìn như bẽn lẽn
Môi cười nửa nụ trách người quen
“Cái anh thi sĩ đa tình quá
Cho uống no rồi… chọc ghẹo em”
Cổng đã khép rồi bông sứ rụng
Anh lên đường giữa nắng ban trưa
Lòng còn say ngất dư hương cũ
Hương tóc hay là hương nước mưa”.
(Hương Nước Mưa)

Thề giới thơ của Kiên Giang có một phần thuộc về một thời học trò ‘Mực tím phai rồi anh vẫn nhớ/Mùa hoa điệp nở, mộng ngày xanh”:

“Tôi đã tương tư màu mực tím
Từng ngày mới viết chữ A, B
Cong queo dòng bút tình thơ dại
Chữ nghĩa đẹp trong nét vụn về
Mỗi lần trái mồng tơi chín
Anh hái làm mực tím
Tặng cô bạn nữa ve bầu
Cô đem mực tím nhuộm màu áo thơ
Từ ngày nhuộm áo màu tim tím
Bè bạn gặp em ở cổng trường
Thường gọi: Này cô em áo tím
Cho anh nhểu mực viết văn chương
Mỗi lần tan học tung tăng bước
Em đụt mưa chiều trú nắng trưa
Dưới lá mồng tơi râm bóng mát
Ngồi nghe mẹ kể chuyện đời xưa
Mẹ nghèo chăm bón vồng khoai tím
Hái lá mồng tơi bán chợ làng
Đổi gạo mua đèn cùng giấy mực
Nuôi con ăn học, mấy năm trường…
(Màu Mực Tím)

“Từ khi cô giáo tập em đồ
Không kê giấy chặm em vô ý
Để dấu tay lem vở học trò”
(Đồng Xu Giấy Chặm)

Bài thơ lục bát Tiền Và Lá được viết năm 1956, về sau được nhạc sĩ Bắc Sơn phổ nhạc, theo giai thoại đã được nhà thơ đề tặng: “Tặng thi sĩ Nguyễn Bính để nhớ ngày tá túc ở xóm biển Kiên Giang”. Nhà văn Xuân Vũ trong cuốn Những Bậc Thầy Của Tôi có kể giai-thoại về Kiên Giang: “Người thứ hai tôi gần gũi là Huy Hà. Anh học ở trường Bassac và sớm mê thơ Nguyễn Bính. Con gái của anh hiện nay ở Hoa Kỳ, đã cho tôi biết là thuở còn đi học, anh đã từng lén nhà xúc gạo đem cho nhà thơ giang hồ nghèo Nguyễn Bính, khi thi sĩ lưu lạc về bờ biển Rạch Giá khoảng năm 1942” (5). Tiền Và Lá là chuyện thời thơ ấu chơi trò trẻ con nhưng đã ẩn ý và ám ảnh về giàu-nghèo khơi nguồn cho ý thức xã hội sau này. Trên tạp chí Thời Tập, Kiên Giang cho biết ông không ưng ý nhưng thích bài thơ này vì bài đã gói ghém một chút tình thơ dại (6). Lời đề tặng khác mở đầu bài thơ: “Riêng tặng các bạn đã dang dở với mối tình đầu …”.

“Ngày thơ, hớt tóc “miểng rùa”
Ngày thơ, mẹ bắt đeo bùa “cầu ông”.
Đôi ta cùng học vỡ lòng,
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh.
Đôi nhà cũng một sắc tranh,
Chia nhau từ một trái chanh, trái đào .
Đêm vàng so bóng trăng cao,
Ngồi bên bờ giếng đếm sao trên trời .
Anh moi đất nắn “tượng người”,
Em thơ thẩn nhặt lá rơi… làm tiền.
Mỗi ngày chợ họp mười phiên,
Anh đem “người đất” đổi “tiền lá rơi”.

Nào ngờ mai mỉa cho tôi,
Lớn lên em đã bị người ta mua .
Kiếp tôi là kiếp làm thơ,
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi .
Tiền không là lá em ơi
Tiền là giấy bạc của đời in ra .
Người ta giấy bạc đầy nhà,
Cho nên mới được gọi là chồng em.
Bây giờ những buổi chiều êm,
Tôi gom lá đốt, khói lên tận trời!

Người mua đã bị mua rồi,
Chợ đời họp một mình tôi… vui gì!”
(Bến Kiên Giang 1956)

Kiên Giang đã chịu phần nào ảnh hưởng thơ Nguyễn Bính khi viết về tình yêu và đồng quê – hay đúng hơn nên nói cả hai ông đều chịu ảnh hưởng thơ ca đại chúng. Dù sao, ‘lục-tỉnh tính’ ở ông vẫn rõ nét và đánh dấu riêng của thổ ngơi, cảnh sắc và ngôn ngữ vùng Hậu-giang. Bài Lúa Sạ Miền Nam trong tập thơ cùng tựa, vẽ lại bức tranh miền Nam ruộng đồng thẳng cánh cò bay:

“Mời bạn về thăm quê hương lúa sạ
Ngắm biển trời Đồng Tháp, đất An Giang.
Gò Óc Eo còn dấu vết một kho tàng
Nhớ thuở bòn vàng những năm đồ khổ
Lặn dưới bùn sâu mở đường hơi thở
Đưng Ba Thê nhớ cỏ lúa Láng Linh
Bảy Núi gọi mây dựng bức tường thành
Ngăn gió độc cho xanh màu lá mạ
Mời bạn về ôm chân cây lúa sạ
Để reo mừng đau xót với Hậu Giang
Mẩy trăm năm từ thuở mới khai hoang
Nhạc rừng trâu vượt trời nghe đồng vọng
Gọi nhau về Miền Tây chân trời mộng
Chào tay chai rạch đất thế lưỡi cày
Thủy triều lên xuống vơi đầy
Mồ hôi đổ xuống, đất lầy trổ bông
Mời bạn về thăm vùng trời đất đứng
Để lắng nghe mạch sống chảy âm thầm
Dưới mặt nước, nhạc ngầm gợn dư âm
Chuyển thành sóng dập vờn theo tóc lúa
Lúa yêu đồng nên dịu dàng ca múa
Trên địa đàng thơm ngát hương phù sa
Cá tôm kéo về đại hội hải hà
Ca mừng lúa với “Trường ca sung túc”
Mặt đất rộng phơi da đầu dưới nước
Cho rễ dày đan tóc lúa rối đoanh
Gió gợn mặt biển xanh
Sóng xao tóc lúa vây quanh xóm làng
(…) Lúa sạ vượt trời cao đất đứng
Bừng bừng hào khí ngút trăng sao
Trái tim bằng thép, chân bằng đá
Nước xoáy lòng sông cuộn máu đào
Màu Sóc nâu Nàng Tây gạo Điểm
Ngàn năm bốc khói bếp phù sa
Hãy về sông Hậu sông Tiền cũ
Dựng lại quê hương dưới mái nhà
Dầu ăn gạo Mỹ chở tàu binh
Đừng phụ gạo quê đất nước mình
Lúa sạ vẫn còn nguyên rễ mẹ
Địa đàng còn rộng chân trời xanh”.
(Miền Tây mùa nước lụt 1964).

Bài Đẹp Hậu-Giang như một thiên anh hùng ca (viết “để tặng người Việt yêu Hậu-Giang”) đề cao con người của vùng đất đã hy sinh và tranh đấu với người và nghịch cảnh để có được như hôm nay.

“(…) Nước chảy một dòng ra biển cả,
Vẫn mang tình nước Cửu-Long giang.
Sông ơi ! dù nước ra khơi biển,
Vẫn nhớ rễ bần đất Hậu-Giang …”.

Bài thơ Bánh Ống Trà Vinh cho biết món ăn quê nhà lúc nào cũng ngon hơn nếu phải so với những đặc sản của những vùng đất khác, vì liên hệ đến con người, cảnh vật thân quen:

“Tôi yêu kiểu áo “tầm vong” nhỏ
Đôi mắt đen huyền cô gái lai
Đôi mái chùa cong như cánh phượng
Gió bay cờ phướng đẹp mây trời.
Tôi yêu hơi nước trong nồi đất
Nấu chín mùi thơm bánh Phú Vinh
Lá dứa tiên thanh màu lá mạ
– Cô em mặc áo cũng thiên thanh.
(…) Hơi nước còn thơm mùi bánh ống
Còn thơm tà áo sắc thiên thanh
Cô em bán bánh sao hiền quá
Lóng lánh mắt huyền in bóng anh.
Vườn bưởi Biên Hòa tuy ngọt lịm
Cũng không bằng nửa múi Thanh Trà
Vì hương tóc rối thơm bông bưởi
– Cô gái Trà Vinh đẹp mặn mà.
Về xứ Trà Vinh ăn bánh ống
Thương màu lá dứa, áo thiên thanh
Gió đưa hương bưởi vào hơi thở
Thương xứ thương luôn gái Vĩnh Bình”
(Lúa Sạ Miền Nam)

Thơ Kiên Giang mang đặc tính giản dị, mộc mạc, bút pháp đặc-thù của miền Nam lục-tỉnh:

“Hương cau thơm phức ngôi sao mẹ
Thơm ngát mái nhà, thơm áo cơm
Con thở trong mùi thơm bát ngát
Thịt da mái tóc quyện mùi thơm
(…) Nhớ mùa cau trổ trong vườn cũ
Mẹ quét lá vàng ủ lấy phân
Khói trắng lên trời như tóc bạc
Con ngờ khói tóc quyện mây Tần …”
Vũng Tàu một giờ đêm 13-10-61
(Khói Trắng)

Dưới Giàn Mồng Tơi, với đề tặng “Kính tặng Mẹ”. Nơi người mẹ sinh sống ‘hai vai gánh nợ con chồng/Tay nhen bếp lửa, tay bồng con thơ”:

“Mẹ già nấu rượu nếp than
Kiếm tiền trả bớt nợ nần thâm niên
Trán nhăn cày nếp ưu phiền
Bàn tay nào sạch ? Đồng tiền nào dơ ?
(…) Hai vai gánh nợ con chồng
Tay nhen bếp lửa, tay bồng con thơ
Thở dài theo điệu ầu ơ
“Lấy chồng xa xứ, bơ vơ một mình
Bên ven rừng xứ U Minh
Trọn niềm dâu thảo, trọn tình mẫu thân
Bây giờ héo hắt tuổi xuân
Sáu mươi năm, sáu mươi năm mỏi mòn
Vầng trăng Xẻo Đước thôi tròn
Đường câu đă cuốn, lối mòn đã qua
(…) Ới sông Cái Lớn
Ới ngọn bần gie
Lửa đom đóm chẳng lập loè
Bao giờ mới thấy lối về quê xưa”
(Lúa Sạ Miền Nam)

Hình ảnh người mẹ Việt Nam được vinh danh trong bài Tiếng Ru Ba Miền:

“Tiếng mẹ ngân nga triều nước lớn
Điệu vành khuyên, âm hưởng tiếng chim oanh
Mây không đuổi cánh cò bay mỏi gió
Đất miệt vườn mở rộng chân trời xanh
Tiếng mẹ ra mở đường bay cánh gió
Kết tụ mùa xuân trải bốn ngàn năm
Chìm xuống đất ngấm vào đáy thâm tâm
Sức mạnh chìm ngụy trang trong tiếng nấc
Mắt chìm xuống mà tâm hồn bất khuất
Tóc ngả màu vì bạc trắng niềm tang
Vạt áo tứ thân, manh áo vá quàng
Đều in ngầm bản đồ cong chữ S
Tiếng mẹ ru sình non thành đất thép
Trường Sơn gầy giương đòn gánh dẻo dai
Mốc trắng mồ hôi lưng áo vá vai,
Lóng lánh kim cương trái tim mẹ Việt
Tiếng ru vượt trời cao ôi diễm tuyệt
Cuộn sông Hồng uốn khúc Cửu Long Giang.
Gõ xương khô gọi hồn phách mồ hoang.
(…) Tiếng mẹ ru kéo lơi vòng kẽm sét
Phá vòng đai thế kỷ chiến tranh đen
Không xưng danh mà đời vẫn gọi tên
Mẹ Việt Nam: Mẹ oai hùng vạn kỷ
Đàn con mẹ mang tâm hồn thi sĩ
Tay làm thơ tay mở cánh thiên thần
Múa bút so gươm diệt lũ hung tàn
Dựng bao gấm mùa xuân trong huyết sử
Thế nước lòng dân ào ào thác lũ
Tổ Quốc mình bất tử vượt thời gian
Miền Trung sỏi đá
Lên nhịp hò khoan
Bánh xe gió vẫn chuyển luân khí hùng
Điệu ru cay đắng vị gừng
Mưa trong nắng đục, nhạc lừng sông Hương
Tiếng ngâm sa mạc
Giọng điệu à ời
Ngàn năm còn nức nở lời Nguyễn Du
Hồn Đồ Chiểu quyện cỏ khô
Ngàn năm dậy sóng tiếng ru đồng bằng.
(Đêm 12-12-68)

Thơ Kiên Giang nhiều tình tự dân tộc. Bài Tình Quê Tình Nước mà năm sáng tác khi thì ghi năm 1954, khi 1955, có thể vì ý những câu chót đã hoặc sẽ khác:

“Ai yêu nước Việt Nam hơn người Việt,
Nhau rún chôn sâu giữa đất lành.
Bông trái muôn mùa không ngớt chín,
Sông đầy nước biếc, núi xanh xanh.
Luống cày mầu mỡ thơm mùi đất,
Vun bón rẫy vườn bông trái thơm.
No ấm cũng nhờ bông với trái,
Áo đời vẫn ấm, hột cơm ngon.
Kìa nước trường giang chảy uốn quanh,
Giữa giòng sông mát bóng dừa xanh,
Có cô gái trẻ nâu tà áo,
Chèo chiếc đò ngang trước bến đình.
Nào ai lăn lóc, xa quê cũ,
Mê chốn phồn hoa trắng bụi đường;
Giây phút chạnh lòng sao khỏi nhớ,
Nhớ nhà, nhớ đất, nhớ quê hương.
Nhớ quê có những đêm trăng sáng,
Sáng cả vườn xanh, cả ruộng vàng.
Con trẻ quây quần theo gót mẹ,
Lên chùa cúng Phật để dâng hương.
Nhớ tiếng võng đưa trầm điệu nhạc,
Hoà theo tiếng hát giọng ầu ơ ….
Từ môi người mẹ thân yêu quá,
Gợi lên bao tình thuở ấu thơ .
Tiếng chày nằng nặng nện không gian,
Cùng tiếng gà trưa gáy trễ tràng,
Tiếng tập đánh vần cùng nhịp thước,
Buồn như nước chảy giữa trường giang.
Ai quên cho mượn mái tranh nâu,
Luống đất bờ ao với nhịp cầu;
Mồ mả ông bà nằm giữa đất,
Lòng người lòng đất cảm thông nhau .
Quê hương là máu, là xương thịt,
Nước mắt mồ hôi của giống nòi,
Tranh đấu từ bao nhiêu thế kỷ,
Bảo tồn gấm vóc đến muôn đời .
Còn sống ngày nào trên đất nước,
Nếu ai xâm chiếm đến quê hương,
Tình quê sẽ hoá ra tình nước:
Tình nước đúc thành súng với gươm.
Lòng dân vũ trang bằng tình cảm,
Tay dân vũ trang bằng súng đạn.
Dân đứng lên siết chặt quân hàng:
Giặc vào đây giặc sẽ rã tan …
Lời thơ như ngôn ngữ nói của đời thường:
“Phạt anh ngâm nước vô lu
Bẻ tàu chuối hột che dù cho em”
(Ngựa Trúc)

“Tuổi hai mươi lòng hai mươi,
Là bông lúa mới là trời bình minh
(…) Người hùng thế hệ: người trai Việt,
Không chỉ hùng bằng xác thịt thôi .
Bằng cả tâm hồn và khối óc.
Người hùng thế hệ Việt Nam ơi!”
(Người Hùng Thế Hệ, 1956)

Kiên Giang nhập dòng thơ quê hương và tình tự của con người ruộng đồng của những Anh Thơ, Bàng Bá Lân, v.v. Thơ của Kiên Giang mang tính chân quê và nhiều tình cảm – đôn hậu, tự nhiên, như tiếng lòng của con người những vùng sông nước ruộng đồng bao la. Thơ ông có nhiều câu được phổ biến rộng rãi, đó là lý do khiến một số câu thơ của ông bị hiểu lầm là ca dao, như:

– Ông bầu vờn đọt mù u
Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn …
– Đói lòng ăn nửa trái sim
Uống lưng bát nước đi tìm người thương.

Tính chất bình dị đó của ngôn ngữ thơ Kiên Giang được nhà văn Sơn Nam cắt nghĩa: “Vốn liếng về từ ngữ người Kiên Giang rất ít, hàng ngày sống lân la với người Hoa bán tạp hóa và người Khơ-me làm ruộng. Ở đây có thể nói tiếng Việt không phát triển, lại thêm “tiếng lóng” mà người địa phương khác khó chấp nhận. Vốn duy nhất là ca dao được mẹ dạy cho, từ thuở ấu thơ. Vốn quan trọng hơn vẫn là cái tâm, lòng yêu nước, muốn giới thiệu tâm hồn người dân nghèo xóm mình với cả nước, cùng chia sẻ buồn vui (7).

Thơ Kiên Giang bình dị, tự nhiên vừa mang tính thời sự vừa trở về nguồn, cho nên tuy cùng thời với những nhà thơ Sa-Giang Trần Tuấn Kiệt, Thẩm Thệ Hà, Thanh Việt Thanh, v.v. nhưng thi-ca của Kiên Giang mang tính độc đáo của riêng ông.

Chú-thích:

1- “Kiên Giang và Hoàng Trúc Ly – Tay đôi”. Thời Tập 9, 7-1974, tr. 13.

2- Trên tạp chí Nhân Loại, ngoài thơ, Kiên Giang còn viết bình luận và bút ký như bài ”Quê Ngoại” (Bộ mới, số 100, 2-5-1958): “Còng cọc bắt cá dưới sông/Mấy đời cháu ngoại giỗ ông bao giờ”.

3- Trần Hoàng Nhân trong bài viết “Nhà thơ Kiên Giang-Hà Huy Hà: tình yêu mãi cài trên áo tím” (lethieunhon.com) đã kể lại chi tiết câu chuyện tình hoa trắng và đã tiết lộ danh tính người nữ này là Nguyễn Thúy Nhiều, mất năm 1998. Đến ngày 18-3-2008, trong khuôn khổ một chương trình thơ nhạc mừng thượng thọ 81 tuổi của nhà thơ – soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà tại Trung tâm Văn hóa quận Phú Nhuận, chính nhà thơ Kiên Giang đã công bố di ảnh bà Nguyễn Thúy Nhiều, nhân vật trong bài thơ Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím: “Đêm lễ qui tụ nhiều nhà thơ, nghệ sĩ nổi tiếng, lãnh đạo ngành văn hóa và đông đảo khán giả. Tại đây, sau hơn 60 năm, nhà thơ Kiên Giang đã bất ngờ công bố di ảnh nhân vật cô gái xóm đạo trong bài thơ Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím từng được nhiều thế hệ thanh niên yêu thích từ năm 1943 (?, 1957). Ông kể thuở mới lớn, ông thường đi sau bà thầm thương trộm nhớ và… làm thơ. Ông và bà chưa hề nắm tay nhau, nhưng con cháu bà ngày nay đều biết và quí mến ông” (Tuổi Trẻ, 20-03-2008).

4- Trích từ Phạm Thanh. Thi Nhân Việt-Nam Hiện Đại (Los Alamitos CA: Xuân Thu tb, 1990). Tr. 564.

5- Xuân Vũ. Những Bậc Thầy Của Tôi. Arlington, VA: Tổ hợp xuấ́t bả̉n miề̀n Đông Hoa Kỳ̀, 1998.

6- Thời Tập. Bđd, tr. 17.

7- Sơn Nam “Cùng bạn đọc”. Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím (NXB Văn Học, 1995).

(Nguyễn Vy Khanh – 8/2008)

Ca sĩ Hương Lan và NSƯT Hồng Vân mừng thọ soạn giả Kiên Giang 80 tuổi.
Ca sĩ Hương Lan và NSƯT Hồng Vân mừng thọ soạn giả Kiên Giang 80 tuổi.

Hoa trắng thôi cài trên áo tím!…

(Đoàn Dự ghi chép)

“Hoa trắng thôi cài trên áo tím.
Từ ngày binh lửa ngập quê hương.
Luyến thương chan chứa tình quê mẹ.
Sông nước phù sa gợi ý tình”.
Lâu quá không về thăm xóm cũ.
Để nhìn mây chiều nhẹ im trôi.
Để nghe khe khẽ lời em nguyện.
Đôi bóng vai kề một lối đi…”

Thưa quý bạn, đó là những câu mở đầu trong bản nhạc nổi tiếng “Hoa trắng thôi cài trên áo tim” của nhạc sĩ Huỳnh Anh (1932-2013), phổ nhạc từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà (1929-2014) trong khoảng thập niên 1960, thường do các ca sĩ Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Vũ Khanh, Quốc Dũng, Hương Lan trình bày hết sức thành công cùng với các bài Mưa rừng, Kiếp cầm ca, Nếu anh về bên em…, 28 bài tất cả cũng của vị nhạc sĩ tài hoa này.

Về phần nhà thơ kiêm soạn giả cải lương và tác giả nhiều bản tân cổ giao duyên nổi tiếng Kiên Giang Hà Huy Hà, nhiều người lầm tưởng tên thật của ông là Hà Huy Hà. Sự thực không phải như thế, tên thật của ông là Trương Khương Trinh, sinh ngày 17 tháng 02 năm 1929 tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (ngày trước gọi là tỉnh Rạch Giá; nay Rạch Giá là tên thành phố, còn Kiên Giang là tên tỉnh). Danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt có hai vế câu đối:

“Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa.
Kiếm bạc Kiên Giang khốc quỷ thần”
(Lửa hồng Nhật Tảo lừng trời đất.
Kiếm sắc Kiên Giang, quỷ thần kinh)

để nói về chiến công của vị anh hùng chài lưới 27 tuổi Nguyễn Trung Trực đốt tàu Pháp Espérance năm 1861 tại vàm sông Nhật Tảo Long An và công đồn Pháp tại Kiên Giang. Như vậy, cái tên Kiên Giang đã có từ trước năm 1861.

Quý bạn còn nhớ huyện An Biên không? Ở đấy có gia đình anh Huỳnh Khiêm rất nghèo, có đứa con gái xinh xắn tên là Huỳnh Thị Cẩm Loan. Năm 17 tuổi, đang học lớp 11, một hôm tan học, vừa ra khỏi cổng trường cùng bạn bè thì cháu Loan bị một người lái xe ôm chạy ẩu, tranh khách từ bến đò lên, đâm thẳng vào đám nữ sinh khiến cháu ngã vật ra phía sau, chấn thương sọ não ở phía sau ót. Cháu u mơ, sống đời sống thực vật hết sức tội nghiệp như vậy suốt mấy năm trời và đã được quý bạn độc giả trong và ngoài nước hết lòng giúp đỡ. Cách đây ít lâu, cháu qua đời, vợ chồng anh Huỳnh Khiêm đau đớn báo tin cho tôi biết và nhờ tôi gửi lời cám ơn quý bạn.

Trở lại câu chuyện nhà thơ Kiên Giang. Ông là đồng hương, cùng làng Đông Thái, cùng huyện An Biên với nhà văn Sơn Nam, nhưng ông Sơn Nam sinh trước ông 4 năm.

Năm 1943, cậu bé Trương Khương Trinh, 14 tuổi, theo học tại trường tư thục Lê Bá Cang, Sài Gòn. Sau khi lớn lên, ngoài việc làm thơ với bút danh Kiên Giang, ông còn là một soạn giả cải lương rất nổi tiếng với nghệ danh Hà Huy Hà, cùng thời với các soạn giả Năm Châu, Viễn Châu, Hà Triều, Hoa Phượng, Quy Sắc, Thu An… (Ông là người hướng dẫn cho hai soạn giả Hà Triều và Hoa Phượng vào nghề). Các tác phẩm cải lương của ông có thể kể: Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới, Phấn lá men rừng, Lưu Bình – Dương Lễ, Hồi trống trường làng… Riêng vở Người vợ không bao giờ cưới đã giúp cho nghệ sĩ Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm và trở thành ngôi sao trong làng cải lương.

Trước 1975, ngoài làm thơ, soạn tuồng cải lương, sáng tác các bản tân cổ giao duyên, Kiên Giang Hà Huy Hà còn là ký giả kịch trường của nhiều tờ báo lớn tại Sài Gòn như: Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lập Trường, Điện Tín, Tia Sáng, v.v… Sau 1975, ông làm phó đoàn cải lương Thanh Nga và Ban chấp hành Hội Sân khấu Sài Gòn qua nhiều nhiệm kỳ.

Ông mất ngày 31/10/2014 tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Sài Gòn, hưởng thọ 86 tuổi, và được an táng tại Nghĩa trang Bình Dương (phường Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương), cùng nơi chôn cất với “người đồng hương” Sơn Nam.

Tình yêu thuở học trò và bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”

Thuở học trò thường ai cũng có một mối tình đầu đời: “Cho thì nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu” và “Yêu là chết ở trong lòng một ít” (Xuân Diệu). Từ đó người ta làm thơ, từ đó người ta không quên kỷ niệm và cũng từ đó những chàng thi sĩ nổi tiếng hay chẳng nổi tiếng ra đời…

Về trường hợp bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím của nhà thơ Kiên Giang, sau đó được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc cũng vậy, ông kể: “Đây là tình yêu của một chàng trai ngoại đạo đối với một cô gái có đạo. Mối tình học trò đó ngây thơ tinh khiết không nhuốm bụi trần. Năm 1944, tôi ở Cần Thơ, học trường tư thục Nam Hưng (lúc ấy cậu học trò Trương Khương Trinh 15 tuổi), dốt toán nhưng giỏi văn chương, chuyên làm bài giùm cho các bạn cùng lớp, trong đó có cô bạn dễ thương thường mặc áo bà ba trắng, quần đen, mang guốc mộc, tên Nguyễn Th. Nh. (Nguyễn Thúy Nhiều).

“Có những buổi tan học, tôi lẽo đẽo theo sau Nh. về tới tận nhà nàng ở xóm Nhà thờ Chánh tòa Cần Thơ.

“Chiến tranh 1945 nổ ra. Tôi không có tiền đi xe đò về quê bên Rạch Giá. Nh. biết sự khó khăn đó, nhờ người đưa, giúp tôi. Về bên Rạch Giá, ít lâu sau tôi đi kháng chiến, làm trong ban báo chí chiến khu. Gặp một người bạn học cũ ở Cần Thơ làm trong ban quân nhạc, anh ta cho biết: “Con Tám Nh. nó vẫn chờ mày đấy”, tôi rất cảm động.

“Năm 1955, thời thế đã yên, tôi trở thành dân thường và một lần có công việc ghé ngang Cần Thơ. Tôi xin phép má của Nh., ngồi tâm tình rất khuya với nàng dưới ánh đèn dầu Huê kỳ, nhưng lúc đó Nh. đã có người dạm hỏi, sắp sửa lấy chồng, tôi buồn lắm.

“Sau này, tôi nghe tin Nh. có con đầu lòng, đặt tên con là “Triều” gồm tên “Trinh” của tôi và tên “Nhiều” của nàng ghép lại, chồng nàng biết và rất ghen tức. Chính vì lý do đó tôi đổi bốn câu cuối bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím tôi đã làm: “Xe tang đã khuất nẻo đời. Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu. Từ nay tóc rũ khăn sô. Em cài hoa tím trên mồ người xưa…” thành bốn câu khác để chồng nàng đỡ ghen: “Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo. Nhưng tin có chúa ở trên trời. Trong lòng con giữa màu hoa trắng. Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!…”.

“Năm 1999, hãng phim TFS Đài Truyền hình Sài Gòn có làm tập phim “Chiếc giỏ đời người” về sự nghiệp hoạt động văn nghệ của tôi. Khi trở về Cần Thơ quay cảnh trường cũ, tôi được hay tin Nh. đã mất một năm trước đó, tức năm 1998. Tôi mua một bó hoa huệ trắng, ra thăm mộ nàng ở nghĩa trang Cái Su. Thiệt đúng là: ‘Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh. Từng cài trên áo tím ngây thơ. Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng. Anh kết tình ta gởi xuống mồ…’.

Sau đây là nguyên văn bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím của Kiên Giang làm năm 1958, khi đó ông chưa sửa lại mấy câu cuối:

Lâu quá không về thăm xóm đạo.
Từ ngày binh lửa cháy quê hương.
Khói bom che lấp chân trời cũ.
Che cả người thương, nóc giáo đường.
Mười năm trước em còn đi học.
Áo tím điểm tô đời nữ sinh.
Hoa trắng cài duyên trên áo tím.
Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh.
Quen biết nhau qua tình lối xóm.
Cổng trường đối diện, ngó lầu chuông.
Mỗi lần chúa nhật em xem lễ.
Anh học bài ôn trước cổng trường.
Thuở ấy anh hiền và nhát quá.
Nép mình bên gác thánh lầu chuông.
Để nghe khe khẽ lời em nguyện.
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường.
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ.
Hai bóng cùng nhau một lối về.
E lệ em cầu kinh nho nhỏ.
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi.
Sau mười năm lẻ anh thôi học.
Nức nở chuông trường buổi biệt ly.
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo.
Khi nàng áo tím bước vu quy.
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ.
Chiếc áo tang liệm kín khối sầu!
Hoa trắng thôi cài trên áo tím.
Giữ làm chi kỷ vật ban đầu!
Em lên xe cưới về quê chồng.
Dù cách đò ngang cách mấy sông.
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím.
Nên tình thơ ủ kín trong lòng.
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo.
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương.
Giữ màu áo tím, cành hoa trắng.
Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường.
Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng.
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ.
Anh đem gạch nát xây tường lủng.
Chiếm lại lầu chuông, giết kẻ thù .
Nhưng rồi người bạn đồng song ấy.
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ.
Chuông đổ ban chiều, hồi vĩnh biệt.
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ.
Hoa trắng thôi cài trên áo tím.
Mà cài trên nắp áo quan tài.
Điểm tô công trận bằng hoa trắng.
Hoa tuổi học trò, mồ thắm tươi
Xe tang đã khuất nẻo đời.
Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu.
Từ đây tóc rũ khăn sô.
Em cài hoa trắng lên mồ người xưa.
(28/5/1958)

Phần dưới đây là lời kể của nhà báo Hà Đình Nguyên, người quen biết với nhà thơ kiêm soạn giả cải lương Kiên Giang Hà Huy Hà suốt 15 năm và đã được nhà thơ này kể lại nhiều kỷ niệm sâu sắc trong đời mình.
Chuyện “Hoa trắng thôi cài” và hai đoạn kết

Người viết (nhà báo Hà Đình Nguyên, -ĐD) được may mắn thân thiết với nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà trong khoảng 15 năm cuối đời của ông. Kiên Giang là nhà thơ, là soạn giả cải lương (tác giả các vở tuồng Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới và nhiều vở khác rất nổi tiếng).

Dù chơi thân với ông nhưng muốn gặp ông thật khó, bởi vì ông luôn dịch chuyển (rất giống với ông bạn thân cùng huyện, cùng làng là nhà văn Sơn Nam). Có hôm, tôi gọi điện thoại ngỏ ý muốn gặp ông để hỏi thêm một vài chi tiết cho bài viết. Ông bảo: “Tao đang ở gần sân vận động Thành Long (quận 8, Sài Gòn), mày muốn gì, xuống đây!”…

Nếu ai có dịp ngồi chung với nhà thơ Kiên Giang, hỏi ông về thời niên thiếu, về Sơn Nam, về Nguyễn Bính và nhất là về người con gái trong bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím, là ông sẽ kể một mạch bằng một giọng bùi ngùi, không hề đứt đoạn, làm như những chuyện đó đã thấm vào máu thịt của ông…

Yêu nhau chờ đợi ở cổng nhà thờ

Năm 17 tuổi, chàng học trò Trương Khương Trinh (tên thật của Kiên Giang) rời vùng quê Rạch Giá lên Cần Thơ học lớp Đệ nhị (lớp 11 bây giờ) ở Trường Trung học tư thục Nam Hưng. Vốn có năng khiếu văn chương nên chàng được các thầy giáo cho thực hiện một tờ báo tường lấy tên là Ngày xanh. Kiên Giang biên tập bài vở và trình bày (vẽ, trang trí…), còn cô bạn Nguyễn Thúy Nhiều thì nắn nót chép bài vở.

Tuy mang cái tên rất dân dã nhưng Nhiều rất đẹp với gương mặt thanh tú và mái tóc dài ôm xõa bờ vai. Gia đình nàng theo đạo Thiên Chúa nên mỗi sáng chủ nhật nàng thường đi lễ nhà thờ Cần Thơ.
Kiên Giang không theo đạo nhưng sáng chủ nhật nào cũng “rình” trước cổng nhà thờ để được “tháp tùng” nàng trên đường đi lễ về. “Yêu nhau” chỉ có vậy, ngoài những cái liếc mắt và những nụ cười thẹn thùng, e ấp thì hai người chẳng còn thứ gì để trao đổi nữa. Tuy thế, cả hai đều cảm nhận được những tình cảm sâu kín mà họ dành cho nhau…

Rồi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra, kéo dài suốt 9 năm (1945-1954), việc học hành bị gián đoạn, Kiên Giang và bạn bè thân thiết vào khu tham gia kháng chiến.

Hai đoạn kết khác nhau

Sau này, nhiều lần Kiên Giang tâm sự với người viết: “Điều xót xa là trong những tháng ngày loạn lạc đó, Nhiều vẫn âm thầm chờ đợi tôi. Năm 1955, nàng quyết gặp tôi một lần rồi mới lấy chồng. Tình cảm ấy cứ ám ảnh tôi khôn nguôi. Tôi đưa tâm sự của hai đứa vào bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím, làm tại Bến Tre năm 1957. Ở đoạn kết có những câu: Ba năm sau, chiếc xe hoa cũ. Chở áo tím về giữa áo quan. Chuông đạo ngân vang hồi tiễn biệt. Khi anh ngồi kết vòng hoa tang…, tôi đã “cho” người mình thầm yêu chết để mối tình kia còn nguyên vẹn là của riêng mình.

Tuy nhiên, một thời gian sau tôi có dịp gặp lại cố nhân ở Sóc Trăng (lúc này nàng đã có chồng). Sau cuộc gặp gỡ đó, tôi lại muốn “cho” người con trai trong bài thơ chết vì lý do bảo vệ quê hương, không còn vương vấn mối tình thuở học trò. Tôi đã sửa lại đoạn kết như thế ở Hàng Xanh (Gia Định, 1958, nay là quận Bình Thạnh, Sài Gòn), nhưng hầu như bạn đọc chỉ thích giữ nguyên tác. Nhất là khi nó đã được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ thành ca khúc thì bài thơ lại càng nổi tiếng, lan tỏa… Trong thơ là thế nhưng sự thật ngoài đời chẳng có ai chết hết trơn. Năm 1977, chúng tôi lại có dịp gặp nhau. 33 năm đã trôi qua, gặp lại, hai mái đầu đã bạc. Cả hai cố tránh không nhắc đến cái thời cùng học dưới mái trường Nam Hưng, nhưng tự trong sâu thẳm tâm hồn vẫn trân trọng “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”.

Đầu năm 1999, Hãng phim truyền hình Sài Gòn (TFS) có thực hiện một bộ phim tài liệu về nhà thơ Kiên Giang mang tên “Chiếc giỏ đời người” (nhà thơ Kiên Giang đi đâu cũng kè kè một chiếc giỏ, mặt ngoài vẽ chi chít chữ – HĐN). Trong kịch bản có một cảnh quay tại Cần Thơ. Khi ông và ê kíp làm phim đến nhà “người xưa” mời bà Nhiều ra quay cảnh ở Nhà thờ Chính tòa thì thấy ngôi nhà đóng cửa, lạnh ngắt. Người hàng xóm cho biết bà Nhiều đã qua đời năm 1998. Ông rất xót xa, sau đó mua một bó hoa huệ trắng tới nghĩa trang thăm mộ bà.

Rong ruổi đầy nhân hậu

Hưởng thọ 86 tuổi với gần 70 năm cầm bút, Kiên Giang đã để lại cho đời hàng trăm bài thơ, bài báo, bài vọng cổ và nhiều vở cải lương xuất sắc. Ngay cả trước khi bị đột quỵ và tử vong, ông vẫn đang xúc tiến việc in một tập thơ mới – coi như kỷ niệm cuối đời – nhưng đành để lại cho thân hữu tiếp tục lo việc in ấn.

Chơi thân với ông hơn 15 năm, tôi (nhà báo Hà Đình Nguyên, ĐD) chỉ thấy ông toàn “ăn nhờ ở đậu”. Ông dời chỗ ở không dưới chục lần. Hết che tạm cái chòi lá ở khu Dưỡng lão Nghệ sĩ (quận 8, Sài Gòn) lại về đường Bùi Minh Trực. Hết lên quận 9 ở với nhà thơ Thiên Hà lại về Mỹ Tho làm “ông từ giữ đền” cho Nhà Lưu niệm nhà văn Sơn Nam… Nhưng nơi ông gắn bó đời mình nhiều nhất chính là trụ sở Hội Ái hữu Nghệ sĩ Sài Gòn (133 Cô Bắc, quận 1, SG). Ở đó ông là một trong những cố vấn của hội, đưa ra các phương án cứu trợ những nghệ sĩ neo đơn, những nhân viên hậu đài đang gặp khó khăn. Mười lăm năm trước đây, nhà văn Sơn Nam đã nhận xét về người bạn thân của mình: “Kẻ cần cứu trợ nhất lại là người tích cực vận động cứu trợ cho người khác nhất!”.

Cậu thiếu niên Trương Khương Trinh tầm sư học… Nguyễn Bính!

Vào khoảng năm 1946, cậu học trò Trương Khương Trinh 17 tuổi, đang học trung học. Một hôm, có người bạn tên Nguyễn Phi Long khoe: “Nhà thơ Nguyễn Bính từ ngoài Bắc vô, đang ở Xóm biển, sau đình Nguyễn Trung Trực gần nhà tao”.

Vốn mê thơ văn, mà Nguyễn Bính lại là thần tượng của mình, nên Trương Khương Trinh quyết định đi tìm.
Đến khu Xóm biển, người ta chỉ cậu tới nhà ông quản thủ điền địa tên Ng.Đ.Lý (ông này vốn là người gốc miền Bắc, thấy “đồng hương” lưu lạc đến tận cái xứ chót biển phương Nam này nên đón về, cho ở nhờ). Hỏi người nhà ông Lý thì họ bảo: “Ông Bắc Kỳ đang ngủ ngoài đình”. Cậu ra đình Nguyễn Trung Trực, lúc ấy đã hơn 9 giờ sáng, nhưng thấy vắng teo.

Cậu hỏi thăm một bà hàng nước xem có thấy một nhà thơ dáng vẻ nho nhã ở ngoài này không. Bà hàng nước chép miệng, nói: “Chẳng thấy nhà thơ nhà thẩn nào cả, chỉ có một anh chàng hàn sĩ trông giống như ‘Trần Minh khố chuối’, ngày nào cũng trùm nóp nằm ngủ trước cửa đình. Chắc là ổng muốn xin Ngài báo mộng gì đó chăng?”

Lúc này cậu học trò mới nhìn kỹ, thấy một người vẫn còn nằm ngủ trong chiếc nóp (chằm bằng lá, giống như áo tơi). Đi quanh chiếc nóp một lát, cậu đánh bạo lay ông dậy: “Này, ông ơi, tui nghe nói ông vừa tới đây, tui cũng là người làm thơ. Xin chào mừng ông!”

Nhà thơ Nguyễn Bính ngồi dậy, dụi mắt nhìn cậu thiếu niên. Câu đầu tiên của ông là: “Có thuốc hút không?” Rất may, Khương Trinh cũng mới tập tành hút thuốc. Trong túi có bao Cotab còn sót lại 2 điếu, bèn đưa cho ông. Sau khi “phê” hết hai điếu thuốc, Nguyễn Bính xé vỏ bao thuốc và viết liền vào đó 4 câu thơ tặng người bạn mới:

Có những dòng sông chảy rất mau.
Nhớ chi nghĩa bến với duyên cầu.
Lá vàng hoa đỏ trôi không kịp.
Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau…

Khương Trinh mừng quá, mời nhà thơ đi uống cà phê. Gần chợ Rạch Giá, chỗ tiệm thuốc tây Nguyễn Khoa Dai có tiệm cà phê Quảng Phát, người ta nói là rất ngon. Hai người ngồi với nhau. Khi Khương Trinh hỏi sao nhà thơ không ở nhà ông Ng. Đ. Lý nữa, Nguyễn Bính cười buồn, bảo rằng tại bà vợ ông Lý đẹp quá, mái tóc buông dài đen nhánh, cứ nằm trên võng… ngâm thơ Nguyễn Bính! Ông chồng phát ghen, có cử chỉ không bằng lòng nên nhà thơ buồn, bỏ ra ngủ ngoài đình.

Cậu học trò sực nhớ cách đó không xa có căn nhà bỏ trống của một người coi giữ sân banh (sân bóng đá), nên cùng Nguyễn Bính đi tìm người này, điều đình để nhà thơ có chỗ trú chân. Nguyễn Bính đặt tên “giang sơn” của mình là “Mộc Kiều Trang” (trang trại có cây cầu bằng gỗ).

Thó tiền của mẹ… mua rượu cho thầy uống!

Dạo đó, bà mẹ của Khương Trinh có sạp bán các loại mắm cá đồng trong nhà lồng chợ Cầu Cất (Rạch Giá). Bà không thể ngờ được rằng cậu quý tử vẫn rình rình, mỗi khi bà có công chuyện rời khỏi sạp là “thó” mấy đồng để mua thức ăn, gạo thì xúc ở nhà, để “tiếp tế” cho ông thầy.

Nguyễn Bính là người Bắc, không biết ăn mắm cá đồng như dân Nam Bộ nhưng rượu đế thì uống tì tì. Khi chỗ ở đã tạm ổn định, ông thầy viết mấy câu thơ dán trước cửa chòi: “Từ dạo về đây sống rất nghèo. Bạn bè chỉ có gió trăng theo. Những phường phú quý xin đừng đến. Hãy để thềm ta xanh sắc rêu”. (Cái chòi gần như bỏ hoang thì làm gì có “thềm”, ha ha!…)

Chữ Nguyễn Bính rất đẹp, ông thường chép lại những bài thơ cũ của mình dán đầy lên vách gỗ: Ở đây ngày lại qua ngày. Nhà không mở cửa mưa đầy tuần trăng; rồi bài Nụ cười Bao Tự (ngày nay Kiên Giang không còn nhớ rõ), hoặc bài Những người của ngày mai (nhớ lõm bõm): Quê các anh miền Bắc xa xôi. Bước chân đi đã mấy năm rồi. Xa chiếc cầu ao, xa mái rạ. Cô gái làng gội tóc nước hương nhu… Quê anh ở miền Trung bát ngát. Bãi cát vàng bờ biển uốn quanh co…

Dưới mái “Mộc Kiều Trang” tại… sân đá banh chỉ có hai thầy trò nhưng mỗi bữa ăn thường kéo dài cả tiếng đồng hồ. Vừa ăn vừa đàm đạo chuyện văn chương, chuyện kháng chiến…

Bài thơ Tiền và lá của Khương Trinh được sáng tác trong dịp này cho nên văn phong cũng bị ảnh hưởng Nguyễn Bính ít nhiều. Trò đọc cho thầy nghe, thầy khen nhưng sửa lại vài chỗ, như ở câu: Tiền không là lá em ơi. Tiền là giấy bạc của đời phồn hoa, được Nguyễn Bính sửa lại: Tiền là giấy bạc của đời in ra. Rồi ở câu cuối: Phiên chiều họp một mình tôi vui gì, được Nguyễn Bính sửa là: Chợ đời họp một mình tôi vui gì…

Sự thực, làm thơ hay viết văn tùy thuộc năng khiếu từng người, nhưng có ông thầy chỉ dạy thì tiến bộ rất mau, hơn nữa ông thầy đó lại là một “ông vua” lục bát! Xem ra, những câu do Nguyễn Bính sửa rất hay. Ví dụ như câu của Khương Trinh: Phiên chiều họp một mình tôi vui gì; Nguyễn Bính sửa lại: Chợ đời họp một mình tôi vui gì; hai tiếng “chợ đời” bao quát hơn rất nhiều.

Tình nghĩa thầy trò ở Mộc Kiều Trang chỉ kéo dài được mấy tháng. Khi cậu học trò Trương Khương Trinh có công việc phải trở về Xẻo Đước (làng Đông Thái) chở lúa gạo cho gia đình, thì cũng là lúc phong trào “Nam kỳ tự trị” của Thủ tướng Nguyễn Văn Thinh do người Pháp đặt đang lên cao trào, họ tuyên truyền “Đả đảo Bắc kỳ” một cách quá khích. Mấy hôm sau, khi Khương Trinh trở lại Rạch Giá thì hay tin Nguyễn Bính đã bị bắt giam ở bót Giếng Nước. Cậu có mua xôi và gói thuốc lá hiệu Mélia tiếp tế cho thầy.

Khoảng nửa tháng sau Nguyễn Bính được thả. Ông buồn rầu nói với Khương Trinh: “Chắc anh phải xa em thôi chứ ở đây lâu không yên”. Rồi nhà thơ miền Bắc này âm thầm vào chiến khu U Minh Thượng hay U Minh Hạ gì đó cũng thuộc Kiên Giang. Ít lâu sau, Khương Trinh nghe nói ông thầy Nguyễn Bính đang là Chủ tịch Hội Văn nghệ Cứu quốc tỉnh Rạch Giá. Lần gặp cuối cùng giữa hai thầy trò là ở xóm Nước Trong, Khương Trinh đãi thầy một bữa thịt gà, do mình “cải thiện” được.

Năm 1956, Khương Trinh, 27 tuổi, lên Sài Gòn, làm “thầy cò” (sửa lỗi các bản in thử, gọi là sửa mo-rát) cho báo Tiếng Chuông. Hàng xóm nơi cậu ở trọ có một “ông cò” thứ thiệt (cảnh sát) hay hoạnh họe. Tức mình, cậu cũng dán mấy câu thơ của Nguyễn Bính lên cửa: “Từ dạo về đây sống rất nghèo. Bạn bè chỉ có gió trăng theo; nhưng chữa lại: Những thằng bất nghĩa xin đừng đến. Hãy để thềm ta xanh sắc rêu…”.

Khoảng năm 1960, bài thơ Hoa trắng thôi cài áo tím đã ra đời (năm 1958) và Khương Trinh ký bút hiệu là Kiên Giang. Khi đang làm báo Tia Sáng ở Sài Gòn, Kiên Giang có gặp bà Hồng Châu (người vợ miền Nam rất trẻ, nhà có tiệm sách nhỏ, lấy Nguyễn Bính ở U Minh Thượng, được một con gái, sau đó chuyển lên Xóm Gà, Gia Định). Mừng mừng tủi tủi nhưng lúc đó cả hai cùng nghèo, cám cảnh song không giúp đỡ gì cho vợ của cố nhân được. Có điều an ủi là Tết Bính Ngọ (1966), khi được tin Nguyễn Bính mất ở ngoài Bắc, Kiên Giang có thực hiện một chương trình tưởng niệm nhà thơ Nguyễn Bính trên tuần báo Văn Nghệ của Trần Chi Lăng và trên Đài Phát thanh Sài Gòn trong chương trình của Thi văn đoàn Mây Tần do chính Kiên Giang làm trưởng ban.

Duyên nghiệp cải lương

Nhà thơ Kiên Giang với tập thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím làm say đắm biết bao trái tim độc giả, nhưng đồng thời, ông bước sang địa hạt cải lương một cách ngoạn mục. Ông để lại khá nhiều vở, trong đó có hai vở gắn liền với những tên tuổi lớn như Thanh Nga, Hữu Phước, Út Bạch Lan, Lệ Thủy, Thanh Nguyệt… Đó là vở Người vợ không bao giờ cưới và vở Áo cưới trước cổng chùa.

Người vợ không bao giờ cưới là câu chuyện tình trắc trở giữa một chàng trai miền xuôi tên là Mộng Long và cô sơn nữ Phà Ca… Lúc trước, sơn nữ Phà Ca từng là vai diễn của Út Bạch Lan. Sau đó, nó là vai diễn đã đưa cô đào trẻ Thanh Nga lên ngôi vị “nữ hoàng sân khấu” khi cô đoạt giải Thanh Tâm vào năm 1958 lúc mới 16 tuổi, mở đầu cho một sự nghiệp lẫy lừng.

Áo cưới trước cổng chùa cũng là một tuyệt tác mang đậm chất thơ của Kiên Giang. Vở tuồng viết về ngôi chùa Phù Dung ở quê hương ông. Hiện nay, bên cạnh ngôi chùa này hiện vẫn còn ngôi mộ của một phụ nữ tên là Dì Tự, người được cho là thứ thiếp của Tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tứ. Xuân Tự cũng là một trong những vai diễn nổi tiếng của “nữ hoàng sân khấu” Thanh Nga (sau này Lệ Thủy đóng và từng tỏa sáng).

Thanh Nga với vai sơn nữ Phà Ca

Vở Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà xuất hiện đầu tiên trên sân khấu của đoàn Tiếng Chuông do cặp đào kép Hùng Minh – Bích Sơn thủ vai chính, nhưng hình như tiếng vang không được bao nhiêu.

Đến khi bà bầu Thơ mang vở về đoàn Thanh Minh dựng lại thì tạo nên một cơn lốc mạnh mẽ bất ngờ và đưa tên tuổi Thanh Nga lên đỉnh cao với giải Thanh Tâm. Phải nói rõ, đoàn Thanh Minh lúc ấy chỉ gọi là Thanh Minh thôi, tên này do ông Năm Nghĩa, cha dượng của Thanh Nga, khai sáng đoàn hát và đặt tên như thế. Sau khi Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm với vở Người vợ không bao giờ cưới thì bà bầu Thơ mới đổi tên đoàn thành Thanh Minh – Thanh Nga.

Khi Người vợ không bao giờ cưới được dàn dựng, đoàn đã có Hữu Phước vai kép chính (Kiều Mộng Long), Út Bạch Lan vai đào chính (sơn nữ Phà Ca), còn dàn bao thì có cô Kim Cúc (vợ của nghệ sĩ Năm Châu), Hoàng Giang (kép độc nổi tiếng, sau này làm nên dấu ấn với nhân vật Tào Quyên trong vở Tiếng trống Mê Linh)… Với dàn nghệ sĩ cỡ đó thì kịch bản được thăng hoa hơn hẳn.

Thanh Nga lúc ấy mới 16 tuổi, cho nên đoàn hát chỉ cho đóng kèm chia vai với Út Bạch Lan. Vai Phà Ca do Thanh Nga đóng đoạn đầu, còn Út Bạch Lan đóng đoạn sau. Nhưng không ngờ Thanh Nga đóng quá hay, ngay hôm sau báo Tiếng Dội lập tức có bài khen ngợi của ký giả kịch trường Trần Tấn Quốc. Và có thể từ chuyện này mà ông Trần Tấn Quốc nghĩ ra giải Thanh Tâm (lấy theo bút danh ký giả kịch trường của ông).

Giải Thanh Tâm lần đầu tiên năm 1958 đã trao cho Thanh Nga 16 tuổi, vai sơn nữ Phà Ca trong vở Người vợ không bao giờ cưới của Kiên Giang Hà Huy Hà.

Điểm nhấn mà nhà báo Trần Tấn Quốc nói tới trong bài viết của mình là Thanh Nga “diễn như diễn kịch” trong khi Hữu Phước diễn “cải lương”.

Thanh Nga diễn ra sao mà báo chí ca ngợi là “rất kịch”? Cô diễn chân thật, nhẹ nhàng, đúng cảm xúc của mình, không cường điệu. Giọng nói lúc cần thì run run, có khi lại tỉnh như không, tất cả đều mang nặng nội tâm của nhân vật. Một cô gái nhìn người yêu đi lấy vợ vì trách nhiệm đối với cha, vì phận sự đối với non sông, đất nước. Đau khổ mà cô không dám để lộ ra vì sợ người yêu thối chí. Bao nhiêu đau đớn, bao nhiêu dồn nén với những câu thoại mà trong nghề gọi là rất “đắt”, Thanh Nga 16 tuổi đã làm được tất cả và làm vượt trội khiến nhiều người gọi cô là “sơn nữ Phà Ca”. Rồi cô đoạt giải Thanh Tâm, tên tuổi cô vượt lên sáng chói từ đấy…

Áo cưới trước cổng chùa

Kiên Giang có cái duyên với cải lương khi vở Áo cưới trước cổng chùa cũng được đoàn Thanh Minh – Thanh Nga dàn dựng, cũng với dàn nghệ sĩ hùng hậu và do nghệ sĩ Thanh Nga đóng vai nàng Xuân Tự.

Tuy nhiên, sau khi Thanh Nga qua đời (1978) thì vở diễn ít được các thế hệ sau biết đến, còn các khán giả lớn tuổi thì lại có ấn tượng mạnh với các nghệ sĩ “mới nổi” nhưng cũng đầy tài năng như Lệ Thủy, Thanh Tòng, Thanh Nguyệt, Thoại Miêu, Thanh Vy, Tô Kim Hồng, v.v…

Lệ Thủy đóng vai nàng Xuân Tự. Nàng bị người vợ lớn của Tổng trấn Mạc Thiên Tứ ganh ghét cả tài lẫn sắc, nên nhân lúc ông đi vắng đã hãm hại nàng suýt chết. May sao ông về kịp, đã giải thoát cho nàng, nhưng nàng xin cho nàng được xuất gia đầu Phật. Ông đau lòng chấp thuận, và cất cho nàng một ngôi chùa nho nhỏ xinh xắn đặt tên là chùa Phù Dung. Nàng tu ở đó đến khi mất, tổng trấn xây ngôi mộ rất đẹp để tưởng nhớ nàng. Đó là sự tích chùa Phù Dung ở Hà Tiên đã được soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà viết thành cải lương. Đạo diễn lúc ấy là Diệp Lang và Ca Lê Hồng.

Nghệ sĩ Lệ Thủy sau năm 75 khoảng 30 tuổi, xinh đẹp, duyên dáng, đã nổi tiếng từ trước năm 1975, khán giả ái mộ vô cùng. Cô vào vai Xuân Tự với số phận truân chuyên khiến khán giả khóc hết nước mắt.

Đóng cặp với cô là nghệ sĩ Thanh Tòng vai Tổng trấn Mạc Thiên Tứ. Nhưng sự thực, nghệ sĩ Thanh Nguyệt đóng vai bà mẹ mù của Xuân Tự mới làm khán giả cảm động hơn cả. Thanh Nguyệt đã từng đoạt giải Thanh Tâm năm 1965, được đoàn Kim Chưởng rồi đến Kim Chung mời về hát với thù lao rất cao, nay là cô đào vang bóng một thời nhưng ca vẫn hay, diễn vẫn giỏi, đặc biệt gương mặt rất đẹp. Khi diễn vở Áo cưới trước cổng chùa, chị nói: “Tôi đã khóc từ khi đọc kịch bản. Nó hay từ nội dung cho tới lời thoại. Những thế hệ soạn giả như các anh Kiên Giang, Thế Châu, Hà Triều, Hoa Phượng, viết câu nào cũng đầy chất văn học, đọc mà thấm thía. Khi lên sàn tập, chúng tôi không ai dám “quên” một tiếng nào của mấy ảnh”.

Mới đây, trong live show của nghệ sĩ Lệ Thủy và con trai là Đình Trí, cô dựng lại trích đoạn Áo cưới trước cổng chùa mời Thanh Nguyệt và Tô Kim Hồng biểu diễn. – (Người kể: Hà Đình Nguyên).

Lòng nhân hậu hiếm có của “ông già nghèo nàn” Kiên Giang Hà Huy Hà

Báo TT đăng tin rằng nhà thơ lão thành Kiên Giang Hà Huy Hà mất vào ngày 31/10/2014 tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Sài Gòn, do đột quỵ, thì đến ngày 5/11/2014, chị Thùy, người con gái thứ ba của ông, đem đến tòa soạn một chiếc phong bì, bên trong có chứa 5 triệu đồng. Chị khóc và kể rằng: Trước ngày 28/10/2014 – thời điểm ông bị đột quỵ – nhà thơ Kiên Giang hoàn toàn khỏe khoắn. Khi đọc tin về một sản phụ ở Tiền Giang (Mỹ Tho) được chồng chở bằng xe Honda đi sinh thì bị xe vận tải cán trúng (sự thực là xe chở xi măng của một doanh nghiệp, -ĐD). Chiếc xe cán lên người, sản phụ chết ngay tại chỗ. Thai nhi lọt ra ngoài, bị thương tích nhiều chỗ và nát chân bên phải. Người chồng cũng bị xe cán, phải cắt cả hai chân. Nhà thơ lão thành khóc, ông nói, “Người Việt Nam mình sao mà khổ vậy!” rồi quyết định lấy số tiền lương hưu trí ít ỏi gần 3 triệu đồng của mình, từ Long Xuyên (lúc này ông đang ở với con gái và con rể tại Long Xuyên), đem đi Tiền Giang để tặng gia đình người bị nạn. Chị Thùy thấy tấm lòng của cha nên cũng góp cho đủ 5 triệu đồng. Do nghe tin cha con người bị nạn ở Tiền Giang đã được đưa lên Sài Gòn điều trị và cháu bé sơ sinh tuy bị cắt chân phải nhưng có thể được Bệnh viện Nhi Đồng I cứu sống, ông quyết định khăn gói lên Sài Gòn để trao tận tay số tiền 5 triệu đồng cho người bị nạn tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Ban đầu gia đình can ngăn vì tuổi ông đã lớn, lại di chuyển đường xa, nhưng ông quyết định phải đi để trao tiền cho kịp thời.

Nhà thơ một mình đi xe đò lên Sài Gòn và ghé nhà người quen ở quận 8 tạm trú, đồng thời viết bài kêu gọi mọi người giúp đỡ nạn nhân vì gia đình anh này rất nghèo. Ông định viết xong bài thì gửi đăng báo rồi vào bệnh viện trao tiền. Nhưng khi vừa xong bài viết, ông kêu mệt, tay chân tím ngắt. Nhà thơ nhanh chóng được đưa tới Bệnh viện Điều dưỡng ở quận 8, sau đó được chuyển vô Bệnh viện Nguyễn Tri Phương và ông mất tại đây vào lúc 6:30 sáng ngày 31/10/2014.

Sau khi việc chôn cất (tại nghĩa trang Bến Cát, tỉnh Bình Dương) đã xong, chị Thùy đem bài viết và chiếc phong bì đựng 5 triệu đồng của cha đến tòa soạn báo TT để nhờ tòa báo đăng tải và chuyển giùm số tiền đó cho gia đình người bị nạn. Chị nói, cứ nghĩ đến cháu bé Nguyễn Quốc Uy bị cưa chân từ lúc vừa mới chào đời một cách bất thường và tội nghiệp, chính chị cũng khóc.

(Đoàn Dự ghi chép)

oOo

Chuyện Tình Hoa Trắng – Ca sĩ Như Quỳnh:

 

Hồi Chuông Xóm Đạo – Ca sĩ Mạnh Đình:

 

Hồi Chuông Xóm Đạo – Ca sĩ Đặng Thế Luân:

 

Hồi Chuông Xóm Đạo – Ca sĩ Châu Tuấn:

 

Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím – NSND Hồng Vân diễn ngâm:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s