Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Mùa Xuân Yêu Em” (“Chuyện Tình”) – Đỗ Quý Toàn & Phạm Duy

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Mùa Xuân Yêu Em” (“Chuyện Tình”) của Thi sĩ Đỗ Quý ToànNhạc sĩ Phạm Duy.

Thi sĩ Đỗ Quý Toàn thường được biết tới với bút hiệu Ngô Nhân Dụng, ông sinh ngày 15-6-1939 tại Bắc Ninh. Ông là giáo viên văn chương ở các trường trung học ở Sài Gòn. Ngoài ra ông còn là một nhà văn, nhà thơ, một huynh trưởng hướng đạo. Ông nổi tiếng ở hải ngoại qua các bài bình luận chính trị, kinh tế,văn học trên báo Người Việt.

Năm 1954, ông theo gia đình di cư vào Sài Gòn. Ông là giáo viên văn chương ở các trường Chu Văn An, Nguyễn Du. Khởi sự viết văn làm thơ từ 1955. Bài viết của ông thường đăng ở Ngàn Khơi, Văn Nghệ, Sống, Lửa Việt, Tân Dân…

Thi sĩ Đỗ Quý Toàn.
Thi sĩ Đỗ Quý Toàn.

Trong biến cố 30 tháng 4 1975, ông lại di cư, kỳ này sang Montréal Canada. Sau đó đã dạy học tại các trường Võ Bị Hoàng Gia St. Jean, đại học Concordia, đại học McGill, rồi là giáo sư đại học Québec tại Montréal (UQAM) về môn tài chánh xí nghiệp. Ông tiếp tục viết cho các báo tiếng Việt ở hải ngoại. Tháng 4-1987, ông cùng các nhà văn Trương Bảo Sơn, Nguyễn Khắc Ngữ đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam tại Canada.

Ông cũng từng giữ chức chủ bút tạp chí Thế Kỷ 21 trong nhiều năm. Ông nổi tiếng ở hải ngoại qua các bài bình luận chính trị, kinh tế,văn học trên báo Người Việt.

Theo lời ông kể – bài thơ “Chuyện Tình” được ông viết khoảng năm 1959 và in lần đầu tiên trên báo Ngàn Khơi khoảng năm 1961. Ngày đám hỏi của ông năm 1964 ông mang ra đọc cho bạn bè nghe, trong số này có nhạc sĩ Phạm Duy. Nhạc sĩ Phạm Duy liền ngỏ ý mang bài thơ này của ông về nhà. Khoảng một tuần sau nhạc sĩ Phạm Duy gặp lại ông ở đường Lê Lợi và hát cho ông nghe thi khúc “Mùa Xuân Yêu Em”.

doquytoan_ĐB2

Thi phẩm “Chuyện Tình” (Thi sĩ Đỗ Quý Toàn)

Ôi anh yêu em vì em biết nói
Em đã biết thưa em còn biết gọi
buổi sáng trời mưa khiến anh nhớ em
bây giờ trời nắng anh nhớ em hơn
ngồi xuống đây đi nghe chim đang hót
đồng cỏ bàn tay trời cao mắt ướt
khi ngó nhau thôi còn biết nói gì
hai đứa ngồi đó như hai hòn bi
có cánh hoa đẹp anh hái cho em
em không thèm nhận anh chết cho xem
và anh sẽ khóc miên man suốt ngày
ôi chả bao giờ buồn như bữa nay
này em yêu quý em có biết nghe
trên cánh đồng cỏ có con bò kia
nó kêu “bò” “bò” và nó ăn cỏ
trời hôm nay cao, yêu em, hỡi gió
và trên đỉnh đồi có cây to tướng
ở một cành ngang có một tổ kiến
có con đi ra có con đi vào
trời hôm nay nắng, yêu em xiết bao
này em yêu dấu em nào có hay
hồi nãy trên trời có con chim bay
có con chim nó bay qua trên trời
trời xanh đến thế đôi mình lứa đôi

doquytoan_Mùa Xuân Yêu Em1

doquytoan_Mùa Xuân Yêu Em2

Thi khúc “Mùa Xuân Yêu Em” (Nhạc sĩ Phạm Duy)

Anh yêu em, yêu em vì em biết nói
Ðã biết thưa: Thưa Anh ! Em còn biết gọi
Sáng trời mưa, khiến cho anh nhớ em
Bây giờ nắng, anh nhớ em nhiều…
Ngồi xuống đây, nghe chim là chim ca hót
Ðồng cỏ như bàn tay, trời như mắt say
Ta ngó nhau, ôi còn biết nói gì
Hai đứa ngồi, ngồi đó như hai hòn bi…
Có cành hoa đẹp anh hái cho em
Em không thèm nhận, anh chết cho xem
Rồi anh sẽ khóc liên miên suốt ngày
Ôi chẳng bao giờ buồn như bữa nay
Này em yêu quý, em nào có nghe
Trên cánh đồng cỏ, có con bò kia
Nó kêu bò bò, và nó ăn cỏ
Trời hôm nay cao, yêu em hỡi gió…
Trên đỉnh đồi cao có cây to tướng
Trên một cành ngang có một tổ kiến
Có con đi ra và có con đi vào
Trời hôm nay nắng, yêu em xiết bao
Này em yêu quý em nào có hay?
Ban nãy trên trời có đôi chim uyên
Có đôi chim trắng bay trên nền trời
Trời xanh xanh quá đôi mình lứa đôi
Trời xanh xanh quá đôi mình lứa đôi…

Dưới đây mình có bài:

– Khả năng phân thân Đỗ Quý Toàn/Ngô Nhân Dụng

Cùng với 2 clips tổng hợp thi khúc “Mùa Xuân Yêu Em” (“Chuyện Tình”) do hai ca sĩ Ý Lan và Nhật Trường diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Thi sĩ Đỗ Quý Toàn.
Thi sĩ Đỗ Quý Toàn.

Khả năng phân thân Đỗ Quý Toàn/Ngô Nhân Dụng

(Du Tử Lê)

Bản chất khiêm tốn, giáo sư Đỗ Quý Toàn bút hiệu Ngô Nhân Dụng từng nhấn mạnh, ông không phải là người được đào luyện ở ngành sử học, nhưng không vì thế mà tác phẩm Đứng Vững Ngàn Năm (ĐVNN) của ông có thể xếp vào thể loại nào khác hơn nghiên cứu lịch sử. Như chỉ danh, đó là bộ môn mang tính khoa học, dựa trên những sự kiện đã xẩy ra trong quá khứ, để phân tích…

Vì thế, đòi hỏi trước tiên của bất cứ tác giả nào khi dấn mình vào lãnh vực này, là tính khách quan. Thiếu vắng yếu tố căn bản này, tác phẩm sẽ không thể đứng vững bởi thiếu sức thuyết phục. Tuy nhiên, trước đòi hỏi vừa kể, không phải học giả hay sử gia nào cũng có thể đạt được! Tôi nghĩ khó khăn này, còn cam go hơn nữa, một khi tác giả đó, vốn là thi sĩ: Trường hợp của nhà biên khảo Ngô Nhân Dụng/Đỗ Quý Toàn.

Tôi không biết có phải vì họ Đỗ có quá nửa đời gắn bó với nghiệp nhà giáo(?) nên khi bước vào lãnh vực nghiên cứu, ông đã tách bạch được một cách dứt khoát, lạnh lùng giữa hai con người nhà thơ và nhà nghiên cứu. Tựa đó là hai con người hoàn toàn khác biệt nhau trong một con người (7)

Với một sở học sâu rộng, cộng thêm số vốn ngoại ngữ phong phú như tiếng Tàu, tiếng Pháp, tiếng Anh, khi biên soạn tác phẩm ĐVNN, Ngô Nhân Dụng đã trích dẫn, đối chiếu rất nhiều sử liệu khác nhau của các tác giả uy tín, xưa cũng như nay. Ông không phân biệt nguồn gốc của bất cứ tác giả nào, miễn tác phẩm có những phát kiến khả dụng hoặc, có thể dùng cho nhu cầu đối chiếu tư liệu…

Tính khách quan của Ngô Nhân Dụng đã thể hiện một cụ thể, công bình, trong sáng, khi ông nhắc tới nhân vật điển hình Lý Bôn, tức vua Lý Nam Đế, một người Việt gốc Trung Hoa, khai sinh ra triều đại Tiền Lý vào thế kỷ thứ 6, trước Tây Lịch.

Nhắc lại sự kiện Lý Bôn, tôi muốn minh xác tính khách quan mạnh mẽ, quyết liệt của họ Đỗ. Ông không để lòng yêu nước (đương nhiên) lẩn sâu trong tiềm thức lôi cuốn ngòi bút ông xóa bỏ những chứng tích quá khứ, chất liệu căn bản dựng nên ngôi đền lịch sử.

Trụ vững từ điểm đứng khách quan, Ngô Nhân Dụng cũng đã nêu lên một nhận xét mà chưa (hay ít) sử gia nào chú ý. Như khi ông đề cập tới “Những chuyển động lặng lẽ, âm thầm bên trong các lũy tre làng nhiều đời đã tích lũy trong ký ức tập thể dân Việt. Các cụ già nhớ chuyện cũ kể lại cho con cháu. Những thi sĩ nông dân cất lên giọng hát, sáng tác tại chỗ các câu vè, rồi trong đó nẩy ra những hạt ngọc chuyền nhau đi xa hơn…” (8) Và đáng kể hơn nữa, khi ông phân tích không phải vì Việt Nam bị đô hộ 1,000 nên VN đương nhiên chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa hoặc vì thế mà không độc lập!

Ở chương thứ 31, tựa đề “Những nước khác, quanh Trung Quốc,” tác giả dẫn chứng hai quốc gia “láng giềng” của Trung Quốc là Nhật Bản và Đại Hàn… Cả hai quốc gia này không hề bị người Hán đặt ách thống trị bao giờ.Nhưng họ vẫn tiếp thu tinh hoa Nho giáo. Và, không vì thế mà đất nước họ không độc lập. Nền văn hóa của họ không rực rỡ!

Tác giả ĐVNN cũng nêu trường hợp của Miến Điện mà “…xét về nguồn gốc thì đa số người ‘Miến’ ngày nay có thể coi là xuất phát từ một vùng phía Tây Nam Trung Quốc! Họ vẫn là một quốc gia độc lập…” (9)

Ngay nước Mông Cổ, vẫn theo tác giả ĐVNN, số phận của Mông Cổ có phần khác hơn 3 quốc gia vừa kể. Sau nhiều giai đoạn thăng trầm, từng bị người Hán rồi Nga đô hộ, nhưng “…Cuối cùng tôn giáo cũng là một yếu tố quan trọng giúp họ đoàn kết và và gây dựng một tinh thần dân tộc. Vì ở cách xa Trung Quốc một sa mạc Gobi, và biết dùng ngoại giao đi giữa Nga và Trung Quốc cho nên nước Mông Cổ vẫn giữ được độc lập trong suốt thế kỷ 20…” (10)

Theo tác giả Ngô Nhân Dụng, Việt Nam cũng vậy và, còn hơn thế, ở chỗ cha ông ta dư thừa khôn ngoan để tiếp nhận mọi nền văn hóa, học thuật giá trị của nhân loại. Kết quả là tự xa xưa Việt Nam đã là một thứ “melting pot” của ba tôn giáo lớn: Phật, Lão, Nho… đồng nguyên, với bản sắc Việt Nam. (11)

Những ghi nhận trên của Ngô Nhân Dụng nhằm đi đến kết luận:

“…Trong số những yếu tố chính làm cho người Việt giữ vững được dân tộc và đất nước gồm có: giữ gìn tiếng nói là bảo vệ văn hóa truyền thống hữu hiệu cho nòi giống, sức mạnh tôn giáo mà tiêu biểu là Phật Giáo góp phần đoàn kết toàn dân tập trung và xây dựng lực lượng tri thức để giúp việc trị quốc an dân, vị thế địa lý và thiên nhiên khắc nghiệt của nước Văn Lang làm tiêu hao sinh mạng của quân Hán phương Bắc, sự giàu có của vùng đất Giao Châu đã giúp cho việc xây dựng và nuôi giữ một lực lượng binh sĩ đủ để chiến đấu với quân Tàu, tình trạng nội loạn của nước Tàu nên không còn có thì giờ để tâm đến việc xâm lấn các lân bang, đặc biệt là nhờ ‘nghị lực và tính chất riêng,’ mà cụ Trần Trọng Kim đã đưa ra, đã là những nhân tố quyết định cho sự đứng vững của dân tộc Việt Nam trong suốt mấy ngàn năm qua.

Đề cập đến quan điểm của cụ Trần Trọng Kim về ‘nghị lực và tính chất riêng,’ tác giả Ngô Nhân Dụng giải thích thêm rằng chính yếu tố này góp phần hình thành tính không thay đổi, tính cứng đầu của người Việt Nam cố chấp giữ phong tục, tập quán và nếp văn hóa truyền thống của mình…” (12)

Nơi chương cuối, tác giả Ngô Nhân Dụng nhấn mạnh và cảnh báo:

“Nước Việt sẽ không bao giờ mất. Điều đáng lo không phải là mình còn được độc lập hay không. Đáng lo là mình chậm tiến quá, trong khi những nước chung quanh, kể cả Trung Quốc, đang tiến rất nhanh. Đáng lo hơn hết, là dù nước mình vẫn còn nhưng dân mình không phát triển, đuổi kịp các nước chung quanh, kinh tế cũng như chính trị. Tổ tiên chúng ta giành lấy độc lập không phải để con cháu sau này chịu sống như một nước nghèo hèn thua kém mãi. Mà trong thế giới ngày nay, một quốc gia muốn ngẩng đầu lên phải phát triển. Làm sao để kinh tế nước ta có thể tiến lên ít nhất ngang hàng với các nước phát triển ở vùng Đông Nam Á; để dân mình được sống tự do như họ?” (13)

Những đoạn văn thống thiết như trên, người đọc sẽ gặp được rất nhiều trong tác phẩm ĐVNN của Ngô Nhân Dụng. Vẫn trụ vững từ điểm đứng khách quan, sau khi phân tích dữ kiện, ông đã gióng giả những hồi chuông huyết thống, hầu lai tỉnh số người có trách nhiệm trước mọi hưng, vong của đất nước.

Đầu thập niên (19)90, đôi lần về Orange County, thay vì ở nhà Trần Duy Đức, tôi ở lại căn phòng của nhà văn Mai Thảo, trên lầu khu chung cư dành cho người cao niên, đường Bolsa, sau lưng nhà hàng Song Long, thành phố Westminster. (15)

Một tối, “ăn nhậu” xong, trở về, chủ biên tạp chí Văn trải chăn mền trên sàn, bảo tôi ngủ trước. Ông cần viết cho xong “Sổ Tay” (một thứ “Lời Nói Đầu”) để ngày mai có người tới lấy đi đánh máy (16). Đang viết, ông ngừng bút. Châm thuốc. Thấy tôi còn đọc sách, ông kể, lâu lắm, ông mới nhận được thơ của Đỗ Quý Toàn ở Canada.Ông bảo, ông rất thích nên đã viết trong “Sổ Tay” Văn, đại ý:

“…Đỗ Quý Toàn là tiếng thơ trí tuệ nhất hôm nay, ở hải ngoại mà chúng ta có được…”

Tôi cười. Bỏ sách xuống. Không trả lời. Tôi nghĩ, ông nói, chỉ là nói vậy thôi, chứ không hề chờ đợi nơi tôi, câu trả lời, góp ý. Phát biểu của ông, cho tôi chút bất ngờ vì, chưa bao giờ tôi nghe ông nhắc về thơ họ Đỗ trong những lần gặp gỡ chung hay riêng. Tuy tôi vẫn nhớ thơ Đỗ Quý Toàn từng xuất hiện khá nhiều trên tạp chí Sáng Tạo, Saigon, trước 1975. Thấy tôi im lặng, ông gặng hỏi:

“Tôi nói đúng chứ, Lê?!?”

“Vâng. Anh.” Tôi đáp.

Gần giống trường hợp Thanh Tâm Tuyền, trong 20 năm văn học miền Nam, thơ Đỗ Quý Toàn không được quần chúng biết đến nhiều, như một số nhà thơ khác. (17) Mặc dù, với văn giới, ngay tự những năm tháng quê nhà, thơ Đỗ Quý Toàn đã được lượng giá như một tiếng thơ sớm định hình.

Cụ thể, trong tác phẩm “Thi Ca và Thi Nhân”, nhà phê bình văn học Cao Thế Dung viết về thơ Đỗ Quý Toàn như sau:

“… Thơ tự do còn thể hiện một sự biệt tích của lòng yêu dấu trong đó có một giai nhân nào không còn là nàng tình muôn thuở (như một Dương Quý Phi, hay Bao Tự hay Désirée…) Thơ tự do – trong thi điệu và ngôn ngữ – ví như đứa con tình nguyện đi hoang và tự ném tuổi thơ đốt cháy trong một ngọn lửa tình cờ phi lý và rất tàn bạo của thời đại.“Đỗ Quý Toàn với thi tập ‘Nàng’ là một tiêu biểu. Thơ tự do của họ Đỗ như không là thơ (theo quan niệm cũ thông thường về thơ). Thơ ông là những ngôn ngữ như lá cành trên sa mạc hoặc sỏi đá trên vùng tuyết lạnh và tiếng thơ như tiếng huýt sáo theo giọng ca được sáng tác trong tình cờ và hợp tấu theo bước chân đi của một lãng tử tình nguyện xa nhà, xa cả thân thể. Bài ‘Tự Tình’ là một thí dụ đơn giản về cách cấu tạo ngôn ngữ thơ cũng như thi điệu của thơ tự do:

“Hãy yêu chàng như núi
núi nào có biết gì
núi nằm đá yên ngủ
đã hàng muôn năm qua
khi núi thức mùa xuân.Hãy yêu chàng như cỏ
cỏ ngây ngất mọc đầy
tràn lan quanh mặt đất trên trái đất quay…”
(18)

Ở hải ngoại, trong một bài viết mang tính nhìn lại những chặng đường đời thường, cũng như thi ca của họ Đỗ, nhà thơ Luân Hoán ghi nhận:

“…Đã yêu thơ, sống cùng thơ một thời gian, thì không thể bỏ làm thơ, ngưng làm thơ, dù công việc bề bộn thường ngày: dạy học, viết báo, đọc sách, trồng hoa, đưa vợ đi chợ, đi ăn, đưa con vào trường…Nhưng Đỗ Quí Toàn dường như luôn luôn chừng mực. Tôi có cảm tưởng anh vô cùng kính cẩn trong từng câu thơ anh viết. Có đến 26 năm sau, tập thơ thứ ba của anh mới được ra đời. Dĩ nhiên chỉ căn cứ theo sự thành hình cụ thể của tác phẩm. Cầm tập thơ Cỏ Và Tuyết (19) trên tay như cầm một tặng phẩm vô giá. Với chỉ bảy mươi trang giấy thật đặc biệt từ màu sắc đến độ dày. Tập thơ hồng hào, phương phi như một tấm nhan sắc lộng lẫy, không phân biệt giới tính. Đẹp như đẹp trai rất đúng. Đẹp như đẹp gái cũng không sai. Họa sĩ Võ Đình góp tay trang điểm bằng mẫu bìa cùng phụ bản, với một lối vẽ khác hơn nhiều người. Cỏ và Tuyết là hai hình ảnh thân mến của thị dân Montréal. Cỏ thì chỗ nào trên thế giới không có. Nhiều người từng nói: có đất là có cỏ. Tuyết cũng chẳng hiếm quí. Không ít những quốc gia đầy tuyết như Nga, Na Uy…Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn…Cả miền bắc Việt Nam thỉnh thoảng còn có tuyết nữa là. Nhưng cả Cỏ lẫn Tuyết ở Montréal hẳn nhiên phải khác lạ, rực rỡ, lộng lẫy hơn tất cả, bởi vì Cỏ Tuyết ở xứ này đang có một nhà thơ để tâm quan sát chúng, thưởng ngoạn chúng. Lấy lòng ra lót ổ cho chúng phơi phới nhú đầu, thong dong bay lượn. Ngắm, nghĩ và thương yêu đối tượng của mình, Đỗ Quí Toàn gói gọn trong 14 chữ:

“Tuyết đã tan
cỏ cựa quậy vươn
lời réo gọi
mặt trời tình nhân”
(Cỏ Và Tuyết, trang 38)

“Không là thơ ngắn của Tàu, chẳng là thơ cụt của Nhật. Sức sống mãnh liệt của vạn vật qua giống thực vật nhỏ nhoi nhất được giới thiệu. Sự hoán đổi nhịp nhàng của thời tiết được mở ra và nỗi nhiệt tình mến yêu đang chào đón cuộc sống, hiện diện…” (20)

Mặt khác, tôi cũng không tìm được sự đồng cảm với nhà phê bình văn học Cao Thế Dung (22), khi ông viết về thơ Đỗ Quý Toàn, trong cuốn “Thi Ca và Thi Nhân” (23) có đoạn như sau:

“…Thơ ông là những ngôn ngữ như lá cành trên sa mạc hoặc sỏi đá trên vùng tuyết lạnh và tiếng thơ như tiếng huýt sáo theo giọng ca được sáng tác trong tình cờ và hợp tấu theo bước chân đi của một lãng tử tình nguyện xa nhà, xa cả thân thể…” (24)

Tôi nghĩ nên xác nhận rằng: Tôi không tìm thấy tính “sa mạc, sỏi đá” nào trong tất cả những bài thơ của Đỗ Quý Toàn, tôi được đọc từ quê nhà, tới hải ngoại. Tôi cũng không tìm thấy dấu vết những “bước chân đi của một lãng tử tình nguyện xa nhà, xa cả thân thể,” trong cõi-giới thơ họ Đỗ!

Trái lại, với tôi, thơ Đỗ Quý Toàn luôn nồng nàn tình yêu thiên nhiên. Tình yêu con người:

“…Chàng trên môi em là mặt trời xoay./Những con chim biển bay trong những chiếc lồng nắng ngời bọt trắng/ Trong hơi thở chàng em ngập ngụa như cồn cát non dưới cơn triều vĩ đại./ Trên bàn tay chàng dòng sông trào cuốn tới sóng mênh mông/ mang thân em làm phù sa đưa em đi về thăm thẳm xa tới biên cương của sông và biển/ tới biên cương của nước và trời biên cương của ngân hà và vũ trụ…”

(…)

“Hãy im lặng như sao đêm./ Thì thầm lời tình tự./ Hãy bao la như sóng cả./ Mùa nước lũ mênh mang hãy phì nhiêu như trái đất nở nang ban sự sống biết bao nhiêu mùa hoa cỏ.”(Trích ĐQT: “Mặt trời nàng”)

Hoặc:

“…Khi núi thức mùa xuân./ Hãy yêu chàng như cỏ./ Cỏ ngây ngất mọc đầy/ Tràn bao quanh trái đất./ Trên trái đất quay./ Hãy yêu chàng như biển./ Đất quay biển quay theo./ Nhịp nhàng như luân vũ khúc…” (Trích ĐQT: “Tự Tình”)

Tôi vẫn nghĩ, một người không thể có tình yêu thiên nhiên, nhân loại, nếu không yêu chính mình. Cá nhân hay thân thể thi sĩ, trong trường hợp này, là chiếc cầu nối, ngôi đền chứng giám cuộc gặp gỡ kỳ diệu gữa thiên nhiên và nhân thế:

“…Hãy yêu chàng như màu xanh
Yêu chàng như màu đỏ
Như màu tím màu vàng
Trên da trời chói chang
Mặt trời mọc rồi lặn
Trời da vàng da đen
Yêu chàng như thế đó
Hãy yêu chàng như thế
Như thế như thế…”
(25)

Là người có đôi chút kinh nghiệm và, quan tâm tới kỹ thuật thi ca, qua nhiều trích đoạn thơ kể trên của họ Đỗ, tôi muốn nói một trong những nét đặc thù của cõi-giới thơ Đỗ Quý Toàn là khả năng sử dụng kỹ thuật “Liên tưởng mắt xích” hay “Liên tưởng xâu chuỗi” (Associated links) – – Là kỹ thuật cho phép thi sĩ chuyển tải một loạt hình ảnh, ý tưởng… Nó như dòng nước chảy xiết, không khoảng lặng. Tuy nhiên, vẫn theo tôi, không phải nhà thơ nào, trường hợp nào, cũng có thể sử dụng kỹ thuật đó. Một người làm thơ non tay, khi lạm dụng kỹ thuật này, nó sẽ tố cáo sự vụng về, gượng gạo của lạm dụng vô cảm, lạc lõng, ngô nghê!

Như bất cứ một thi sĩ nào khác, họ Đỗ cũng có một số thơ lục bát (không nhiều). Lục bát Đỗ Quý Toàn, tới nay, vẫn nghiêng về điều tôi muốn gọi là “đẹp xưa” – – cũng với tất cả tâm hồn đắm đuối thở cùng nhịp thở thiên nhiên. Thí dụ:

“Rừng vừa trải một lần mưa. Nắng riêu lũng khói vàng xoa dạn hồn. “Người đi chim xuống chiều thuôn. Chim kêu bóng thấp sương dồn lung lung. “Trời đưa mây tới hư không. Nằm nghe ngày xuống hoài mong buồn về.(ĐQT: “Buồn về”)

Hay: “Không gian đang đóng cửa ngoài. Nắng sa xuống núi mưa ngoài bến sông. “Lòng sầu dớm chút sương trong. Trời yên lặng thế – gì mong giãi bày. “Này thôi, đừng nhớ hôm nay. Ngồi, nghe bụi nhỏ rơi đầy ước mơ. (ĐQT: “Bên ngoài”)

Tuy nhiên, điểm mạnh trong sinh phần thơ Đỗ Quý Toàn, theo tôi, vẫn là cách nói của riêng ông, ở những thể thơ khác. Điển hình như bài thơ được nhiều người biết đến: Bài “Chuyện tình” (26)

“Chuyện tình” hay “Mùa xuân yêu em” có 24 câu. Bốn câu đầu mở vào bài thơ là:

“Ôi anh yêu em vì em biết nói
Em đã biết thưa em còn biết gọi
buổi sáng trời mưa khiến anh nhớ em
bây giờ trời nắng anh nhớ em hơn…”

Tôi biết, nhiều người rất thích thú khi thấy họ Đỗ cho biết, người yêu của ông, không chỉ “biết nói” mà còn…“biết thưa”!

Nhưng cũng không ít người ngạc nhiên, tự hỏi, “Ủa! Như vậy thì những phụ nữ còn lại, không…“biết nói, biết thưa” sao?

Với những ai làm thơ, và nhất là có nghiên cứu, hiểu biết về kỹ thuật thi ca, sẽ nhận ra rằng: Tác giả đã sử dụng kỹ thuật hoán dụ (metonymy) để hóa thân người yêu của ông thành chim. Nhờ thế, họ Đỗ đem được vào bài thơ của ông, tính dí dỏm, hóm hỉnh (vốn ít thấy trong thơ Việt). Mặt khác, nó cũng cho thấy tình yêu tác giả dành cho nhân vật nữ trong thơ của ông, mới nồng nàn, thắm thiết dường nào!(27)

Và, đây cũng là một “cách nói khác” nói về tình yêu, với những liên tưởng mới, đẹp, như:

“khi ngó nhau thôi còn biết nói gì
hai đứa ngồi đó như hai hòn bi…”

Hoặc:

“…có cánh hoa đẹp anh hái cho em
em không thèm nhận anh chết cho xem…”

Dĩ nhiên, người yêu của ông (ngay khi có thực sự là một con chim nhỏ), cũng dư biết đó chỉ là “dọa dẫm”, làm duyên vậy thôi. Bởi vì, ngay sau đó, tác giả đã nhãng quên điều mới nói, để lại âu yếm hỏi:

“…này em yêu quý em có biết nghe
trên cánh đồng cỏ có con bò kia
nó kêu ‘bò’ ‘bò’ và nó ăn cỏ…”

Cứ thế, ông dẫn dụ con chim nhỏ của ông hướng thương yêu đến những sinh vật nhỏ nhoi nhất, như con…kiến. Hoặc với thiên nhiên cao, rộng, thênh thang… Như gió. Như núi, đồi. Như một…“cây to tướng”:

“…trời hôm nay cao, yêu em, hỡi gió
và trên đỉnh đồi có cây to tướng
ở một cành ngang có một tổ kiến
có con đi ra có con đi vào
trời hôm nay nắng, yêu em xiết bao…”

Tôi nghĩ, tôi không quá lời khi nói, thay vì kể chuyện cổ tích (mà trẻ con rất thích) họ Đỗ đã dùng hình ảnh, thiên nhiên để gợi óc tò mò trẻ thơ nơi đáy sâu tâm hồn người yêu ông. Trước khi dẫn dụ nàng tới hình ảnh một con chim (khác):

“…hồi nãy trên trời có con chim bay
có con chim nó bay qua trên trời…”

Tôi rất thích hai chữ “hồi nãy,” ngụ ý, “xui ghê,” con chim ấy đã bay mất! Nhưng, hiện tại, ngay bây giờ, ở đây là “em” – Cũng là chim. Nhưng hiện thực. Sống động. Giữa:

“trời xanh đến thế đôi mình lứa đôi”.

Đọc thơ Đỗ Quý Toàn, thơ của một người yêu tổ quốc mình, nồng nàn qua tình yêu ngôn ngữ Việt, tôi muốn ví tiếng thơ đó, như những lượng suối trong veo, đầu nguồn. Nó trong trẻo tới độ, ta có thể vốc lên tay từng vốc nước ở bất cứ đoạn suối nào, ta vẫn có thể soi thấy mặt mình trong hân hoan, rạng ngời từng giọt nước.

Từ đấy, tôi không ngạc nhiên, khi biết có nhiều người yêu thơ họ Đỗ.

Nhưng, xin “hãy yêu chàng…” cách của mình. Mà, không nhất thiết phải làm công việc giống…như tôi, trên đây!

Chú thích:

(7) Không phải đợi tới tác phẩm “Đứng Vững Ngàn Năm” họ Đỗ mới cho thấy khả năng phân thân của ông. Mà, ngay từ năm 1992, là năm nhà xuất bản Thanh Văn, Hoa Kỳ, ấn hành tác phẩm “Tìm Thơ Trong Tiếng Nói” (Một tác phẩm nghiên cứu về thi ca, đến nay vẫn còn được nhiều người nhắc đến và tìm kiếm) – – Ông đã cho thấy: Dù là một nhà thơ thành danh rất sớm, từ trước thời diểm tháng 4-1975, ở quê nhà, nhưng không vì thế mà ông áp đặt quan điểm riêng của ông về thi ca. Trái lại, ông vẫn trích dẫn những quan điểm, nhận định về thi ca của nhiều tác giả khác, từ Đông sang Tây như “…Bùi Giáng, Beardsley, Cao Bá Quát, Chế Lan Viên, Coleridge, De Man, Elliot, R Frost, Hàn Mạc Tử, Huy Cận, Jarrell Jakobson, Kim Thánh Thán, Lê Quý Đôn, Lưu Trọng Lư, H. Miller, Nguyễn Tuân, Nguyễn Tử Tấn, Pasternak, E. Pound, IA Richards, G. Seferis Shklovsky, Tào Tuyết Cần, Tùng Tiện Vương, Thanh Thảo, P. Valery v.v.”
(8) Sđd. Trang 430
(9) Sđd. Trang 421.
(10) Sđd. Trang 423.
(11) Thuật ngữ “Tam giáo đồng nguyên” cũng được biết với cụm từ “Tam giáo nhất nguyên” nữa.
(12) Huỳnh Kim Quang, tường thuật buổi ra mắt tác phẩm “Đứng Vững Ngàn Năm” – Việt Báo (Hoa Kỳ) – – Số đề ngày thứ Ba, ngày 6 tháng 8-2013)
(13) Sđd. Trang 437. eid=97#.Uhky1Bs3uGc
15) Đó là nơi ở sau cùng của tác giả “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền,” kể từ khi ông rời căn nhà của người em ruột ở thành phố Garden Gorve. Người tìm và đứng tên thuê căn studio này, là cố nhà báo Đỗ Ngọc Yến (1941-2000) – – Chủ nhiệm sáng lập nhật báo Người Việt. Vì lý do sức khỏe, vài năm trước khi từ trần, nhà văn Mai Thảo đã dọn xuống đất, cũng là studio.
16) Tới ngày mất, nhà văn Mai Thảo (1927-1998) vẫn cương quyết không sử dụng computer. Thậm chí, ông còn từ chối đề nghị của một bạn trẻ, đánh máy danh sách mấy trăm độc giả dài hạn của báo Văn, để ông chỉ việc gỡ những miếng label in sẵn, dán lên bì thư mà thôi. Trong tình thân với một số người, ông giải thích, không phải ông “gàn, chướng” mà, ông cho rằng, đích thân ông viết tên độc giả nơi bìthư, tuy có mất thì giờ thật, nhưng đó là sợi giây liên lạc thân thiết giữa Văn và bạn đọc.
(17) Trừ ca khúc “Mùa xuân yêu em” thơ Đỗ Quí Toàn, nhạc Phạm Duy (1921-2013), là trích đoạn từ bài thơ nhan đề “Chuyện tình,” họ Đỗ viết năm 1959. Phổ biến lần đầu trên báo Ngàn Khơi 1960. Năm 1964, ông chọn đọc trong hôn lễ với người bạn đời của ông là bà Hà Dương Thị Quyên. Trong số tân khách tham dự, có nhạc sĩ Phạm Duy… Tuy nhiên, không vì thế mà quần chúng biết được những gì nằm ngoài ca khúc.
18) Cao Thế Dung, “Thi ca và Thi nhân” Quần Chúng, Saigon, xuất bản năm 1969. Trích theo Luân Hoán, Wikipedia – Tiếng Việt.
(19) “Cỏ và Tuyết” thơ Đỗ Quí Toàn, Thanh Văn XB, Hoa Kỳ, 1988.
(20) Nđd.
(21), (23), (24), (25), (26) Nđd.
(22) Họ Cao hiện cư ngụ tại tiểu bang Virginia.
(27) Đây cũng là một ân thưởng thi ca dành cho các thi sĩ. Họ có thể ví von, so sánh người yêu của họ, với bất cứ một hình tượng nào; mà, không sợ bị ai phiền trách. Có khi họ còn được yêu thích hơn, như trường hợp họ Đỗ trong bài thơ này vậy.

oOo

Mùa Xuân Yêu Em – Ca sĩ Ý Lan:

 

Mùa Xuân Yêu Em – Ca sĩ Nhật Trường:

 

Một suy nghĩ 3 thoughts on “Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Mùa Xuân Yêu Em” (“Chuyện Tình”) – Đỗ Quý Toàn & Phạm Duy”

  1. Em cam on chi Phuong! Bai viet ve nha tho Do Quy Toan rat suc tich va hay. Em cung rat thich bai tho “Mua Xuan Yeu Em” va bai pho nhac cua Pham Duy. No the hien mot tinh yeu ngay ngo khong vu loi. Mot tinh yeu voi tam hon tre nho va la dai kho trong con mat nguoi doi.

    Em chuc chi va anh Hoanh luon co mot Mua Xuan Tinh Yeu nhu the!

    QNhu

    Số lượt thích

  2. QNhư ơi,

    Chị đồng cảm với em “Mùa Xuân Yêu Em” (“Chuyện Tình”) là một bài thơ tình ngây ngô thơ trẻ và rất dại khờ trong mắt người đời. Nhưng có phải khi được yêu như thế thì mình hạnh phúc nhất trên đời Như nhỉ. 🙂

    Cám ơn em luôn đồng hành và chúc lành cho anh chị.

    Bình an và sức khỏe Như nhé.

    Chị P. ❤ XO

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s