Nhạc cụ cổ truyền VN – Đàn Ân Toong/Atoong

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp tục chuỗi bài Nhạc Cụ Cổ Truyền Việt Nam, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nhạc cụ đầu tiên trong bộ gõ, Đàn Ân Toong/Atoong.

Đàn Ân Toong/Atoong là nhạc cụ họ tự thân vang, chi gõ của người Việt/Tà Ôi.

Đàn Ân Toong/Atoong gồm 7 thanh gỗ đường kính khoảng 6 – 11cm, dài khoảng 41 – 72cm, phần giữa của mỗi thanh được đẽo vòng thành 7 thanh đàn. 7 thanh đàn này được sắp xếp từ thấp đến cao buộc vào 2 sợi dây mây rồi treo dốc lên giá đàn. Khi diễn tấu nghệ nhân sử dụng hai dùi bằng gỗ dài khoảng 20cm gõ trực tiếp vào các thanh gỗ.

Đàn Ân Toong nguyên thủy 4 thanh.
Đàn Ân Toong nguyên thủy 4 thanh.

Trước đây đàn chỉ gồm 4 thanh gỗ dài ngắn khác nhau được treo song song từ trên xuống bằng dây mây trên một cái giá. Loại 7 thanh sau này đã được thanh niên người Tà Ôi cải tiến để diển tấu các bài nhạc mới. Ân Toong là nhạc cụ do nam giới sử dụng để độc tấu, hoà tấu trong sinh hoạt thường ngày và đuổi chim thú đến phá hoại hoa màu.

Dưới đây mình có các bài:

– Ân Toong
– Đặc điểm về Dân nhạc

Cùng với 1 clip độc tấu đàn Ân Toong do nghệ nhân A Kheng Niềm diễn tấu để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Âm Nhạc Cổ Truyền VN)

Đàn Ân Toong 4 thanh.
Đàn Ân Toong nguyên thủy 4 thanh.

Ân Toong

Loại nhạc cụ của người Tà Ôi bằng gỗ họ tự thân vang chi gõ. Đàn gồm 4 thanh gỗ dài ngắn khác nhau được treo song song từ trên xuống bằng dây mây trên một cái giá tựa đàn T’ rưng ở Tây nguyên. Tại Phòng trưng bày của Viện Âm nhạc Việt Nam có cây đan Ân toong đã được thanh niên người Tà Ôi cải tiến gồm 7 thanh gỗ ứng với 7 âm để diển tấu các bài nhạc mới.

Gỗ dùng làm đàn là một loại gỗ xốp, mềm (gỗ cây bai bai). Hai mặt trước và sau thân gỗ được vạt phẳng, việc vạt sâu hay nông vừa để định cao độ khi chế tác, vừa làm mặt bằng để gõ. Cách treo đàn bằng dây thành dàn thì giống T’ rưng, nhưng hình dạng mỗi thanh gỗ lại tựa như những thanh đàn đá.

Các bộ đàn đều có kích cỡ khác nhau – Bộ đàn do nhạc sĩ Minh Phương mô tả trong tập sách Dư âm tình rừng thanh dài nhất là 1,90m, thanh ngắn nhất là 1,60m, đường kính thanh lớn nhất lại không trùng với thanh dài nhất mà ngược lại, thanh ngắn nhất lại có đường kính lớn hơn: 0,12m.

Nếu so với bộ đàn trên thì bộ đàn Ân toong mà chúng tôi khảo sát là bộ đàn nhỏ. Theo thứ tự từ trên xuống 4 thanh có kích thước như sau.

Thanh 1 dài 41cm, đường kính 6,5cm
Thanh 2 dài 49cm, đường kính 7cm
Thanh 3 dài 59cm, đường kính 8cm
Thanh 4 dài 48cm, đường kính 7,5cm

Hàng âm thanh của đàn:

danantoong2

Người diễn tấu dùng 2 dùi tre đặc ruột gõ trực tiếp vào các thanh gỗ. Âm thanh không sắc như đàn tơ rưng, đục và mềm hơn, mang màu âm của gỗ, nhưng vang vọng rất xa.

Có trường hợp người diễn tấu dùng 2 dùi gõ bằng ống nứa rỗng ruột để gõ đàn tạo ra hiệu quả âm thanh kép rất thú vị: âm thanh của đàn và âm thanh của 2 ống nứa kết hợp thành những quãng âm hòa quyện nhau giữa màu âm gỗ và tre nứa.

Âng toong có thể xếp vào loại nhạc cụ gõ ra giai điệu như cách gọi của GS Trần Văn Khê khi nói về các loại đàn “mộc cầm” (xylophone) hình chiếc thuyền ở Thái Lan, Kămpuchia, Inđônêxia, Miến điện, Philipin. Tuy nhiên không thể gọi Ân toong là đàn mộc cầm được, vì đàn mộc cầm của các nước Đông Nam Á kể trên đều là những đàn phiến gỗ hoàn chỉnh, gồm rất nhiều thanh gỗ định âm được sắp xếp trên một giá hình chiếc thuyền có cả hộp cộng hưởng, mà đàn ít nhất cũng gồm 17 phiến gỗ như đàn ranad thun của Thái Lan, đàn gam bang 21 phiến gỗ ở Java Inđônêxia v.v… và đều là thành viên chính thức trong các loại dàn nhạc của họ như dàn pinpeat (Kampuchia) dàn Gamelan (Java)…

Đàn Ân toong của người Tà Ôi có lẽ cùng dòng với đàn Tơ rưng gỗ của người ÊĐê mà tác giả Ama Nô mô tả trong sách “Giữ gìn, phát huy vốn văn hóa truyền thống của dân tộc”, ty VHTT Gia Lai – Kon tum – 1981: “Loại lớn làm bằng gỗ cây Đrỗn. Loại nầy có 4 khúc gỗ đường kính 10cm, dài nhất 130cm dùng để đánh khi giữ rẫy. Vùng người Mơ Nông ở NDut Liêng Krak… có loại đàn nầy. Loại nhỏ hơn của người ÊĐê thì có 6 khúc gỗ, âm thanh loại 5 cung, cũng đánh khi giữ rẫy” (3). Theo luận án Tiến sĩ Nghệ thuật học của Boun Theng Souksavatd thì người Lào cũng có loại nhạc cụ như đàn Ân toong gọi là Tunglung mà người Catu (Lào) gọi là Tinhtoong (4).

Ân toong là sản phẩm của nền nông nghiệp nương rẫy: phát, cốt, đốt, trỉa đã xuất hiện lâu đời. Khi đã chọn được một khoảnh rừng vừa ý, người Tà Ôi – Pakô tiến hành chặt cây để đốt rẫy, họ giữ lại những thân cây to để làm Ân toong, để giải buồn trong những ngày đêm canh rẫy, đồng thời để xua đuổi chim muông, thú dữ đến quấy phá hoa màu và có thể còn để thông tin cho nhau từ rẫy nầy qua rẫy khác ngăn cách bởi nhiều khe suối. Ân toong cũng còn là tín hiệu hẹn hò của trai gái trong bản, các cô gái đều thuộc từng tiếng đàn của chàng trai mình yêu thương…

Chú thích:

1. Ns Minh Phương sưu tầm
2. Theo NS Minh Phương. Sđd.
3. Theo GSTS Tô Ngọc Thanh – Nhạc cụ dân tộc thiểu số VN – NXB Văn nghệ Trung tâm văn hóa dân
tộc – TPHCM. 1995
4. Bước đầu hệ thống hóa và phân loại các nhạc cụ cổ truyền dân tộc Lào. Viện VHNT. 2001

Đàn Ân Toong cải tiến 7 thanh.
Đàn Ân Toong cải tiến 7 thanh.

Đặc điểm về Dân nhạc

(Th.S Vĩnh Phúc-Trường Đại học Nghệ thuật Huế)

Nhạc cụ ít dây

– Nhạc cụ của người Tà Ôi so với các tộc ít người ở Tây Nguyên thì kém phát triển hơn. Điều đó có nghĩa là gần với nguyên sơ hơn, chẳng hạn đàn ống tre (Âm plưng) dừng lại ở 2 dây, trong khi các nơi khác có đến 4 – 6, 7 dây; đàn âm preeng chủ yếu vẫn chỉ một dây, còn đàn Brŏ, đàn Goong ở Tây Nguyên đã phát triển đến 8, 10 dây, có gắn phím cố định và có đến 2 bầu cộng hưởng; đàn Ântoong, họ tự thân vang, chi gõ là một dạng đàn Tơ rưng gỗ dùng để đánh trên nương rẫy cũng chỉ gồm 4 thanh gỗ. Cách đây vài năm, một số thanh niên trẻ ở xã A Ngo cải tiến tăng thêm 3 thanh nữa. (Bộ đàn này hiện được trưng bày tại Viện Âm Nhạc) chủ yếu là để đánh các bản nhạc mới có chứa bán cung, nhưng rõ ràng là xa lạ với nhạc ngữ của họ. Hiện nay vẫn đang sử dụng lại loại Ântoong 4 thanh, trong khi đó các loại Tơ rưng ở Tây Nguyên từ lâu rồi đã sử dụng rất nhiều ống tre trong sinh hoạt âm nhạc truyền thống của họ chứ không phải để chơi các bản tân nhạc… vì thế, sự kém phát triển đó của nhạc cụ người Tà Ôi (chưa kể đến những loại sáo được chế tác rất thô sơ chỉ có 2 và 3 lỗ bấm như Areeng và Tirieel) thể hiện sự ít bị lai tạp các truyền thống âm nhạc khác.

Ngẫu hứng tự do

– Trong hòa tấu nhiều nhạc cụ thể hiện sự ngẫu hứng tự do của cá nhân. Theo quan niệm của họ, hòa tấu là tất cả mọi người cùng chơi chứ ít có ý thức hòa hợp các nhạc cụ. Điều đó thể hiện ở còi sừng trâu (Târ còi) cồng phẳng (Târ lè) đánh bịt tiếng và nhất là khèn. Chúng tôi thấy trong một số bài hòa tấu, đa số các nhạc cụ đều chơi lại các bài độc tấu của mình. Ngay trong khi đệm cho hát Karlơi, Târ lè thì đi theo lối diễn tấu trong dàn nhạc là đánh bịt tiếng với các âm hình tiết tấu nhanh, khèn thì chơi những nét nhạc trong bài độc tấu. Vì vậy dàn nhạc ở đây chỉ mang chức năng phụ họa chứ không phải chức năng đệm.

Chúng tôi trích ghi một đoạn hòa tấu và một đoạn các nhạc cụ phụ họa cho hát Calơi sau đây:

taoi9

taoi10

Để đệm cho bài hát đối đáp xiêng. Nét nhạc của khèn sau đây vừa là nhạc dạo, vừa để đệm luôn cho các chặng hát. Dù hát đến bao nhiêu lần thì cũng vẫn nét nhạc đó nhắc đi nhắc lại:

taoi11

Bài song tấu đàn Ân toong và sáo Talee cũng là người nào chơi bài của người ấy mà thôi. Tuy vậy, không hẳn là trống đánh xuôi kèn thổi ngược mà cũng có những quy định cụ thể như tất cả đều theo sự điều khiển của trống hai mặt da (A Kưr) về nhịp độ của dàn nhạc trong từng phần, và khi Târlè đánh chỏi nhịp với âm lượng lớn, vang là báo sự kết thúc phần này hoặc dẫn vào phần khác…

Bài bản hòa tấu nhạc cụ của người Tà ôih không nhiều chủ yếu là nhạc cụ gõ họvang tự thân và màng rung như: A Kưr, Koong, Târ lè, Târ còi, Khên và Kâr toŏtd, Kâr nhoong… với 3 khúc liên hoàn cơ bản:

– Roong hêl tâm moi (nhanh vừa)
– Pa lư tâm moi (chậm, nghỉ ngơi)
– Tặc ân toch tôr (nhanh)

3 khúc trên sử dụng trong mọi trường hợp nhưng nhiều nhất là trong tế lễ, hội lễ và tùy theo nội dung mà tấu một hay hai khúc hoặc cả 3 khúc được tấu đi tấu lại nhiều lần, thường là kết hợp với nhảy múa như một thể thống nhất. (Đặc biệt trong các nghi thức tế lễ thần linh thì khèn không thấy tham gia). Trong lễ đâm trâu khi mũi lao của già làng đâm trúng điểm quy định, nghĩa là con trâu sẽ phải gục chết thì nhạc chuyển qua khúc Tặc ân toch tôr tiết tấu tăng dần dồn dập hơn, cường độ cũng mạnh hơn, tiếng hú hét cũng nhặt hơn theo nhịp chân nhảy múa càng khẩn trương dần với đội hình di chuyển ngược chiều kim đồng hồ chung quanh nọc buộc trâu.

oOo

Đàn Ân Toong – A Kheng Niềm diễn tấu:

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s