Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 7 (PHẦN 1)

Người dịch: Nguyễn Thu Trang

MỆNH LỆNH NĂNG LƯỢNG BẮT BUỘC:
100% TÁI TẠO NGAY BÂY GIỜ

CHƯƠNG 7: MỘT QUYẾT ĐỊNH ĐÁNG GIÁ (Phần 1)

Đạo đức xã hội thay vì chủ nghĩa kinh tế năng lượng

Tháng 7 năm 2010, Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đã tuyên bố rằng tiếp cận với nước sạch là quyền con người. Mặc dù rõ ràng đây là một quyền cơ bản, tuyên bố này chưa cho phép các bên tự mình trực tiếp áp dụng điều được nêu ra. Bởi nếu hay khi việc áp dụng này xảy ra, sẽ đưa đến những hệ quả trên phạm vi rộng lớn, thậm chí nghiêm cấm các phương thức sản xuất gây ô nhiễm nguồn nước mà qua đó gián tiếp gây nguy hại tới sức khỏe con người. Quyền con người là một dạng nguyên tắc đạo đức và chúng ta không thể cho phép sự trung thành với những nguyên tắc này bị phụ thuộc vào việc liệu điều đó có “cộng thêm” giá trị hoặc là một mối đe dọa đối với “sự cạnh tranh”.

Tuyên bố của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc lúc này về quyền con người đối với nước sạch là kết quả của việc gia tăng nỗ lực để định nghĩa quyền con người một cách mạnh mẽ hơn và mong muốn làm những quyền này có hiệu lực, nhằm ưu tiên các quyền đó so với các quyền chung khác về tự do và bình đẳng, và nhằm kết hợp với các quyền xã hội ví dụ như bảo tồn thiên nhiên.

Trong bối cảnh khủng hoảng xã hội toàn cầu, cuộc khủng hoảng có liên hệ chặt chẽ với khủng hoảng sinh thái, phạm vi xác định quyền con người được xem xét trên những khía cạnh mới. Điều khoản trong Điều 2 Luật Căn Bản của nước Đức cho mỗi người quyền “toàn vẹn thể xác” từ lâu đã được hiểu chủ yếu như cấm bạo lực thể xác đối với mỗi cá nhân và bảo vệ cá nhân khỏi tổn thương cơ thể. Nhưng kể cả trong các điều khoản của hiến pháp Đức, ô nhiễm môi trường là một mối đe dọa lớn hơn nhiều đối với sự toàn vẹn thể xác. Điều 1 trong chương về môi trường của Hiến pháp Pháp năm 2004 nói rằng “mọi người có quyền sống trong một môi trường cân bằng và khỏe mạnh”.

Trong chương về Các Quyền Cơ Bản, một phần cốt lõi của Hiệp Ước Liên Minh Châu Âu, Điều 37 nói rằng “môi trường được bảo vệ cao độ và cải thiện chất lượng môi trường phải được tích hợp vào trong các chính sách của Liên Minh và đảm bảo đồng bộ với nguyên lý phát triển bền vững”. Tuy nhiên, chừng nào mà chúng ta còn gắn bó với hệ thống năng lượng cũ, không chỉ việc triển khai các quyền cơ bản này như thực tế mỗi ngày là bất khả thi, mà cả việc triển khai quyền con người mới được tuyên bố đối với nước sạch, hoặc một quyền được thảo luận nhều nhưng chưa được tuyên bố chính thức đối với không khí sạch, hay với năng lượng hiện có trên thị trường, hoặc các phương pháp trồng trọt thực sự bền vững (cho các thế hệ sau này) cũng là bất khả thi. Những quyền này chỉ có thể được thực hiện thông qua việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, chính bởi vậy, vì các quyền con người, nghĩa vụ chính trị là phải hành động.81

Quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo là khả thi về mặt kỹ thuật, do đó loại bỏ bất kỳ biện minh đạo đức nào đối với việc trì hoãn quá trình này.  Thậm chí các phản đối hợp lệ liên quan đến kinh tế cũng không còn tồn tại. Claudia Kemfert, người đứng đầu khoa Năng Lượng, Giao Thông và Môi Trường tại Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Đức (Institute for Economic Research ‒ DIW), tính toán rằng cho tới năm 2015, chỉ riêng nước Đức cũng đã phải đối mặt với khoản chi phí 50 tỷ Euro dành cho phục hồi các thiệt hại môi trường, 10 tỷ Euro dành cho đầu tư thích nghi ban đầu và 40 tỷ Euro dành cho các chi phí gia tăng về năng lượng hóa thạch. Cho tới năm 2025, các chi phí này sẽ tăng lên tới 290 tỷ Euro.82

Một báo cáo xuất bản bởi Liên Hợp Quốc vào tháng 7 năm 2010, về tác hại môi trường gây ra bởi 3000 công ty lớn nhất thế giới, đi tới một kết luận kịch tính trên phương diện kinh tế, đó là nhờ lạm dụng tài nguyên thiên nhiên (tính đến cả phát thải khí nhà kính và các loại khí thải khác, và ô nhiễm nước), các công ty này gây tổn hại tới 2 tỷ USD mỗi năm. Mở rộng đánh giá tác hại này tới mọi lĩnh vực kinh tế và đối với tất cả các tác hại gây bởi hệ thống cung cấp điện từ nhiên liệu hóa thạch và hạt nhân, cho thấy chi phí lớn hơn nhiều và việc sử dụng sai các nguồn vốn. Tính toán này bao gồm những người chết do khai mỏ than hoặc urani, hoặc những người bị bệnh bạch cầu do sống gần nhà máy điện hạt nhân, các khoản trợ giá hoặc công khai hoặc được che đậy dành cho điện hạt nhân và điện từ năng lượng hóa thạch lên tới hàng trăm tỷ đô la mỗi năm, cho tới cả các chi phí chính trị và quân đội dành cho “an ninh năng lượng quốc tế” mà chỉ riêng nước Mỹ bỏ ra hàng trăm tỷ đô mỗi năm, như Amory Lovins và các đồng tác giả đã tính toán trong cuốn Thắng nước cuối ván cờ dầu mỏ  (Winning the Oil Endgame).83

 (còn tiếp)

© 2014 copyright Verlag Antje Kunstmann GmbH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Bản quyền bản dịch:  dotchuoinon.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s