Mệnh Lệnh Năng Lượng Bắt Buộc – CHƯƠNG 6 (PHẦN 9)

Người dịch: Nguyễn Thị Phi Yến

MỆNH LỆNH NĂNG LƯỢNG BẮT BUỘC:
100% TÁI TẠO NGAY BÂY GIỜ

CHƯƠNG 6: TÁI KHỞI ĐỘNG CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ 21 (Phần 9) 

6D. KẾT THÚC THỜI ĐẠI NGUYÊN TỬ:
LOẠI BỎ NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN BẰNG LỆNH CẤM TOÀN CẦU ĐỐI VỚI VŨ KHÍ HẠT NHÂN

Việc sử dụng năng lượng hạt nhân “vì mục đích hòa bình” đã đạt được sự chấp nhận phổ biến vì đây đã được xem là giải pháp thay thế cho cho vũ khí nguyên tử và chiến tranh hạt nhân. Nhưng trên thực tế, vũ khí nguyên tử đã trở thành nơi neo đậu cuối cùng của năng lượng hạt nhân. Việc sở hữu vũ khí hạt nhân vẫn còn là một dấu hiệu chứng tỏ “thành viên hạng nhất” trên vũ đài thế giới và, với năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (UN Security Council) gồm tất cả các cường quốc hạt nhân, là bằng chứng rõ ràng về vị thế toàn cầu. Tuy nhiên, năm cường quốc hạt nhân chính thức của năm 1990 (cùng với Israel, một cường quốc hạt nhân không chính thức) – sau một điểm ngoặt lịch sử – hiện nay đã trở thành 9 cường quốc: sau cuộc thử nghiệm vũ khí hạt nhân ngoạn mục vào năm 1998, Pakistan và Ấn Độ đã gia nhập nhóm cường quốc hạt nhân, cũng như gồm cả quốc gia vô lý và gây rắc rối – Bắc Triều Tiên.

Iraq đã muốn tham gia liên minh cường quốc hạt nhân, nhưng quốc gia này bị buộc phải đặt những tham vọng này sang một bên sau Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Người ta cho rằng, có thể Iran đang nỗ lực để trở thành một thành viên. Ukraine và Kazakhstan, các quốc gia sau Liên Xô cũ đều có khả năng kỹ thuật thiết lập vũ khí hạt nhân. Trước khi kết thúc chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi, Cộng hòa Nam Phi cũng đã  xem xét việc thiết lập vũ khí hạt nhân.

Có lẽ họ sẽ trở lại với những kế hoạch này tại một thời điểm nào đó, bởi vì việc sở hữu vũ khí hạt nhân, ngay cả khi họ không bao giờ có ý định sử dụng nó, nhưng chắc chắn điều này sẽ làm tăng vị thế chính trị của quốc gia trong trật tự chính trị thế giới toàn cầu. Các quốc gia khác như Bắc Triều Tiên, và có lẽ không lâu nữa Myanmar (Miến Điện) cũng muốn sử dụng vũ khí hạt nhân như một con tốt chính trị, đảm bảo sự tôn trọng từ cộng đồng quốc tế, để mà trong trường hợp cộng đồng quốc tế có nghi ngờ, cũng sẽ nhắm mắt làm ngơ đối với những vi phạm nhân quyền xảy ra trong nước  họ. Tựu chung lại, động lực cho việc sở hữu vũ khí hạt nhân ngày càng gia tăng. Hiện nay đang có 9 cường quốc hạt nhân – và rất có thể con số sẽ là 12 đến 15 vào năm 2020?

Một cách rõ ràng, việc tồn tại sở hữu hoặc tham vọng sở hữu vũ khí hạt nhân không thể được nhìn nhận một cách riêng biệt từ các câu hỏi về năng lượng hạt nhân. Không có Nhà nước nào đang sở hữu và mong muốn duy trì vũ khí hạt nhân sẽ sẵn sàng từ bỏ các nhà máy điện hạt nhân của mình (và cũng như vậy, không nước nào trong số các quốc gia đang bí mật phấn đấu để có vũ khí hạt nhân, mà chính dân cư của họ không hề biết đến, lại muốn để ngỏ cơ hội này ).

Nếu một quốc gia có, hoặc muốn, làm bom nguyên tử, quốc gia đó không chỉ cần các nhà máy điện hạt nhân, mà còn cần cơ sở cho một ngành công nghiệp công nghệ nguyên tử. Đối với mỗi nhà máy điện hạt nhân, công nghệ hạt nhân là một “công nghệ sử dụng kép”: có vũ khí hạt nhân mà không có tiềm năng về công nghệ nguyên tử của chính mình là điều không tưởng, và việc duy trì một tiềm năng như vậy chỉ để chế tạo vũ khí hạt nhân là không thể đủ khả năng chi trả được.

Do đó, chừng nào mà chúng ta còn có vũ khí hạt nhân, các nỗ lực sẽ được thực hiện để kích thích một “thời kỳ phục hưng điện hạt nhân“. Nhưng sẽ không có chính phủ nào thừa nhận việc nắm giữ vào các nhà máy điện hạt nhân của mình chỉ đơn giản là để duy trì vũ khí hạt nhân. Thay vào đó, cùng với các tổ chức năng lượng nguyên tử, các cường quốc hạt nhân tìm cách biện minh một cách tuyệt vọng rằng năng lượng tái tạo là không đủ để đáp ứng nhu cầu năng lượng. Và đây là cách mà kiến thức khoa học hạt nhân xuất sắc được đi đôi cùng với các luận cứ dốt nát chống lại năng lượng tái tạo.

Việc đặt dấu chấm hết với năng lượng hạt nhân có nghĩa là giải trừ hạt nhân, nếu không thì sẽ có những nỗ lực ngày càng lớn và có sức ảnh hưởng hơn nữa để hạn chế năng lượng tái tạo. Chính quyền các quốc gia công nhận và làm việc hướng tới mục tiêu sử dụng năng lượng tái tạo để đáp ứng tất cả các nhu cầu năng lượng của họ cũng phải chấp nhận mục tiêu giải trừ hạt nhân. Bất kỳ con đường nào khác sẽ là không phù hợp và là ngõ cụt.

Chính năm cường quốc hạt nhân được thành lập là các quốc gia chịu trách nhiệm chính cho việc gia nhập lực lượng vũ trang hạt nhân. Nhưng chính họ là những quốc gia, trong nhiều năm, đã vi phạm Hiệp ước Không gia tăng Hạt nhân năm 1970. Hiệp ước này có ba điều khoản chính: tại Điều 4, tất cả các quốc gia thành viên cam kết “trao đổi toàn bộ các thiết bị, vật liệu và thông tin khoa học và công nghệ đối có thể cho việc sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình”. Đây là tinh thần của thời kỳ từ những năm 1950 đến 1970, thời điểm mà năng lượng hạt nhân được coi là một nguồn năng lượng của tương lai. Tại Điều 2, các bên ký kết hiệp ước chưa sở hữu vũ khí hạt nhân cam kết không tìm cách trang bị vũ khí hạt nhân cho quốc gia trong tương lai và “cam kết không được nhận vũ khí hạt nhân hoặc các thiết bị nổ hạt nhân khác từ bất cứ nguồn nào, và không được sản xuất hoặc mua vũ khí hay thiết bị hạt nhân”. Còn trong Điều 6, các cường quốc hạt nhân cam kết đàm phán toàn diện và kiểm soát việc giải trừ vũ khí hạt nhân.

Trong suốt những năm 1970 và 1980, sự vi phạm quốc tế đối với các bổn phận này bị phớt lờ một cách nhân nhượng – thế giới đang chờ đợi các cuộc đàm phán giải trừ vũ khí hạt nhân giữa “Đông” và “Tây”. Với sự kết thúc các mối bất đồng Đông-Tây và sự tan rã của khối Hiệp ước Warsaw, cho thấy cơ hội cho việc kiểm soát và hoàn thành giải trừ vũ khí hạt nhân trên toàn thế giới cuối cùng đã đến. Nhưng phương Tây đã phớt lờ cơ hội này. Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization – NATO) duy trì chiến lược hạt nhân của mình vì “các mối nguy hiểm mới ở miền Nam” (mặc dù không có vũ khí hạt nhân trong khu vực này), do đó gián tiếp mở cánh cửa tiếp theo, mở rộng vòng vũ khí hạt nhân.

Sự phẫn nộ đối với những thử nghiệm nguyên tử của Ấn Độ và Pakistan vào năm 1998 (chính thức hoàn tất việc trở thành  thành viên của câu lạc bộ các cường quốc hạt nhân) là một sự đạo đức giả, bởi vì sự không tuân thủ của chính những nước chỉ trích gắn với vũ khí hạt nhân cũng không kém phần tai tiếng. Lệnh trừng phạt quốc tế đối với Iran được áp đặt bởi vì các tham vọng hạt nhân của Iran không có uy tín và không có quyền lực đạo đức (moral authority*), trong suốt thời gian mà năng lượng hạt nhân của Iran chỉ gắn liền với vũ khí hạt nhân của họ, do đó làm cho việc vi phạm hiệp ước của chính họ trở nên rõ ràng.

(còn tiếp)

Chú thích của người dịch:

* moral authority: quyền lực về mặt đạo đức, dựa trên nền tảng cơ bản là sự thật mà không bị phụ thuộc vào việc đúng sai viết trong luật. Đây là quyền lực gắn liền với sự thật.

© 2014 copyright Verlag Antje Kunstmann GmbH

Permission granted for translating into Vietnamese and publishing solely on dotchuoinon.com for non-commercial purposes.

Bản quyền bản dịch:  dotchuoinon.com

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s