Dân ca dân nhạc VN – Dân ca H’Mông/Miêu

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca H’Mông (Mông) tiếp theo Dân ca M’Nông.

Miêu (tiếng Trung: ; bính âm: Miáo) là một nhóm dân tộc được công nhận là một trong 55 dân tộc thiểu số tại Trung Hoa. Người Miêu bao gồm các phân nhóm: H’Mông, Hmu, HmaoGhao Xong. Người Miêu bên ngoài Trung Hoa chủ yếu thuộc phân nhóm H’Mông và được gọi là người Mèo (ở Việt Nam), người Mẹo (ở Lào); tiếng Thái: แม้ว Maew hay ม้ง Mông). Ngày nay, họ tạo thành nhóm dân tộc lớn thứ 5 tại Trung Hoa và cũng là một trong các dân tộc thiểu số có dân số đáng kể tại Việt Nam.

Hai thuật ngữ, “Miêu” và “H’Mông” (“Mèo” và “H’Mông” tại Việt Nam), hiện thời đều được sử dụng để chỉ một trong những nhóm thổ dân ở Trung Hoa. Họ sống chủ yếu ở miền nam Trung Hoa, trong các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây và Hồ Bắc. Theo điều tra dân số năm 2000, số lượng người Miêu ở Trung Hoa khoảng 9,6 triệu. Ngoài phạm vi Trung Hoa họ còn sống ở Thái Lan, Lào (ở đó gọi là Lào Sủng), Việt Nam và Myanma do di cư bắt đầu vào khoảng thế kỷ 18, cũng như tới Hoa Kỳ, Guyana thuộc Pháp, Pháp và Úc như là kết quả của các cuộc di cư gần đây sau khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam. Tất cả các nhóm này cộng lại xấp xỉ 8 triệu người nói tiếng Miêu. Tại Việt Nam, có khoảng trên 780.000 người H’Mông. Nhóm ngôn ngữ này bao gồm 3 thứ tiếng và 30-40 thổ ngữ có thể hiểu lẫn nhau được, cùng với tiếng Bunu thuộc về nhánh Miêu trong hệ ngữ H’Mông-Miền (hay hệ Miêu-Dao).

Các nhà nghiên cứu phương Tây xử lý vấn đề thuật ngữ này không thống nhất. Những người đầu tiên sử dụng tên gọi theo kiểu Trung Hoa trong một loạt các phiên âm: Miao, Meau, Meo, Mo, Miao-tse, Miao-tsze, Miao-tseu (Miêu tộc) v.v. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của người H’Mông ở Lào (một phân nhóm của người Miêu) một số nhà nghiên cứu đương đại đã chấp nhận thuật ngữ khác là “H’Mông”.

Người H'Mông Hoa trong quần áo truyền thống tại chợ Bắc Hà, Việt Nam.
Người H’Mông Hoa trong quần áo truyền thống tại chợ Bắc Hà, Việt Nam.

Cho đến nay chúng ta đều biết đến tiếng H’Mông là một ngôn ngữ nằm trong hệ ngôn ngữ Miêu-Dao (hay Mông-Miền). Nhưng trên thực tế vấn đề phân loại theo quan hệ họ hàng của ngôn ngữ này đã từng có nhiều ý kiến khá khác nhau. Một số nhà ngôn ngữ học xếp ngôn ngữ H’Mông thuộc nhánh Miêu-Dao trong hệ Hán-Tạng. Trong những ý kiến đáng chú ý ta phải kể đến Paul K. Benedict với quan điểm quy các ngôn ngữ trong khu vực thành 2 hệ cơ bản: Hán-Tạng và Nam Thái (Austro-Thai). Trong đó vị trí các ngôn ngữ Miêu-Dao được định vị trong hệ Nam Thái.

Còn André G. Haudricourt từng bước đem so sánh cả hệ thống thanh điệu và cả lớp từ vựng cơ bản giữa các ngôn ngữ Miêu-Dao với các ngôn ngữ của hệ Hán-Tạng và hệ Nam Á. Ông đã cho rằng “các ngôn ngữ Miao-Yao hình như tạo nên mối liên hệ giữa các ngôn ngữ Nam Á và các ngôn ngữ Tạng-Miến”. Đây cũng chính là cơ sở để một hướng các nhà ngôn ngữ sau này không xếp các ngôn ngữ Miêu-Dao vào Nam Á hay Hán-Tạng mà là một họ ngôn ngữ độc lập vì những kiến giải của Haudricourt “không thuần tuý là sự so sánh từ vựng mà là sự phục nguyên, một thao tác thể hiện tính quy luật của những chuyển đổi âm thanh”. Kế thừa những nghiên cứu đi trước, Martha Ratliff đã đưa ra một bảng phân loại các ngôn ngữ Mông-Miền (hay Miêu-Dao) khá chi tiết trong đó tác giả đã định vị ngành Mông trắng (Mông Đơư) như sau:

Hệ ngôn ngữ (language family): Mông-Miền (Hmong-Mien)
Nhóm ngôn ngữ: Mông (Hmongic)
Nhánh: thuộc các phương ngôn Tứ Xuyên – Quý Châu – Vân Nam, còn gọi là nhánh Mông phía Tây (West Hmongic branch)
Tiểu nhánh: Tứ Xuyên – Quý Châu – Vân Nam
Phương ngữ: Mông trắng (White Mông)

Trong cuốn từ điển Bách khoa thư ngôn ngữ đã phân các ngôn ngữ H’Mông-Miền (hay Miêu-Dao) thành hai nhánh chính:

H’Mông – gồm có: Dananshan Hmong, Hmong Đông, Hmong Bắc, Hmong Tây, Hmong Daw, Hmong Njua, Miao Đỏ, Pa Heng, Punu

Miền (hay Dao) – gồm có: Ba Pai, Mien, Biao Mien, Iu mien, Mun, She

ở đây Mông Leng (Mông Lềnh) được xác định như một tên gọi khác của ngành Mông Njua (Mông Xanh) nằm trong nhánh H’Mông.

Thiếu nhi H'Mông.
Thiếu nhi H’Mông.

Người Miêu có lịch sử có lẽ từ cuối thời kỳ băng hà. Lịch sử sơ kỳ của họ có thể lần theo dấu vết của các câu truyện truyền khẩu và các lễ nghi an táng của họ.

Trong truyện truyền khẩu, truyền thuyết của người Miêu nói rằng họ đã đến từ những vùng đất cực kỳ lạnh lẽo, ở nơi đó bóng tối kéo dài 6 tháng và ánh sáng cũng kéo dài 6 tháng. Từ nơi này, họ đã đến Trung Hoa theo những chuyến đi săn. Một người thợ săn và con chó của ông đã theo đuổi con mồi trong một số ngày trong tuyết. Người thợ săn hết lương thực và phải quay về để chuẩn bị tiếp tục đi săn mà không có con chó của mình. Khi người thợ săn bắt đầu lên đường trở lại thì con chó đã ở phía sau lưng ông. Người thợ săn hôn hít con chó của mình và phát hiện thấy có những hạt cây lạ dính trên lông của nó. Lúc đó, tuy người Miêu cho rằng toàn thể thế giới đã được thám hiểm hết, nhưng những hạt lạ đã dẫn dắt họ tới Trung Hoa.

Nơi thứ hai trong đó miêu tả người Miêu từ nơi nào đến diễn ra trong nghi thức an táng “chỉ đường” của họ. Trong nghi thức này, người đã chết được chỉ dẫn cho về với tổ tiên. Người ta tin rằng người đã chết rời bỏ thế giới này để trở về với cội nguồn của họ, là một nơi cực kỳ lạnh lẽo. Thời kỳ băng hà cuối cùng đã kết thúc cách đây khoảng 10.000 năm và nó xảy ra cùng thời điểm với sự ra đời của người hiện đại. Các điều kiện được miêu tả trong truyện truyền khẩu và nghi thức an táng của người Miêu chắc chắn nói đến một thế giới chỉ có toàn tuyết và băng giá, là những thứ thấy được cho đến khi kết thúc thời kỳ băng hà gần đây nhất.

Tại Trung Hoa, Vương quốc Miêu đầu tiên được ghi chép có tên gọi là Cửu Lê và những người cai trị nó có tước hiệu là Chiyou (Xi Vưu) (trong tiếng Hoa) hay Txiv Yawg (trong tiếng H’Mông). “Trí Zờ” có nghĩa là “Ông-cha”, và là tước hiệu tương đương nhưng không ít quyền lực hơn hoàng đế. Các tổ tiên “Xi Vưu” được coi là dân tộc Liangzhu. Jiuli được cho là có quyền lực đối với 9 bộ tộc và 81 thị tộc.

Quân Thanh chiến đấu với quân nổi dậy người Miêu tại Hồ Nam năm 1795.
Quân Thanh chiến đấu với quân nổi dậy người Miêu tại Hồ Nam năm 1795.

Theo truyền thuyết Trung Hoa, bộ tộc của Xi Vưu đã bị đánh bại ở Trác Lộc (涿鹿, một địa danh cổ trên ranh giới tỉnh Hồ Bắc và Liêu Ninh ngày nay) bởi liên minh quân sự của Hoàng ĐếViêm Đế, các thủ lĩnh của bộ tộc Hoa Hạ (華夏) khi họ tranh giành quyền làm chủ lưu vực sông Hoàng Hà. La bàn được cho là lý do quyết định trong chiến thắng của người Hoa Hạ. Trận đánh này, được cho là diễn ra vào thế kỷ 26 TCN, đã diễn ra dưới điều kiện thời tiết mù sương và người Hoa Hạ đã có thể chiến thắng tổ tiên của người Miêu là nhờ có la bàn.

Sau thất bại, bộ tộc ban đầu của người Miêu được chia ra thành hai nhóm bộ tộc nhỏ, là MiêuLê (黎). Người Miêu tiếp tục di chuyển về phía Tây Nam còn người Lê về phía Đông Nam giống như bộ tộc Hoa Hạ (ngày nay là người Hán) mở rộng xuống phía Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử Trung Hoa, họ được nói đến như những kẻ “man di” do sự chênh lệch ngày càng tăng trong văn hóa và kỹ thuật so với người Hán. Một bộ phận các bộ tộc này đã bị đồng hóa thành người Hán trong thời kỳ nhà Chu (1122 TCN-256 TCN).

Có một phiên bản khác của thời kỳ hậu Cửu Lê, người dân của Cửu Lê chia thành 3 nhóm đi theo 3 hướng khác nhau. Người ta nói rằng Xi Vưu có 3 con trai, và sau khi Cửu Lê thất thủ thì con trai cả của ông dẫn một số người về phía Nam, con trai thứ dẫn một số người về phía Bắc còn người con trai út ở lại Trác Lộc và đã bị đồng hóa theo văn hóa Hoa Hạ. Những người đi về phía Nam thành lập ra nhà nước San Miêu. Có lẽ vì sự phân chia thành nhiều nhóm nhỏ nên rất nhiều dân tộc ở Viễn Đông coi Xi Vưu là tổ tiên của mình, và vì thế nhiều câu hỏi được đặt ra về bộ tộc thực sự của Xi Vưu cũng giống như của người Miêu hay các dân tộc khác. Ví dụ, người Triều Tiên cũng cho Xi Vưu là tổ tiên của mình. Ngoài ra, theo chính sách hợp nhất các bộ tộc hiện nay của Trung Quốc, Xi Vưu được nhắc đến như là một trong những tổ tiên của người Trung Hoa cùng với các tổ tiên của người Hán là Hoàng Đế và Viêm Đế.

Mong_10

Nằm trong một quốc gia đa dân tộc, dân tộc H’Mông được coi là một thành viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Dân tộc H’Mông cư trú thường ở độ cao từ 800 đến 1500m so với mực nước biển gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt-Trung và Việt-Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông và Tây bắc Việt Nam như: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La… Do tập quán du mục nên một số người H’Mông trong những năm 1980, 1990 đã di dân vào tận Tây Nguyên, sống rải rác ở một số nơi thuộc Gia Lai và Kon Tum.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người H’Mông ở Việt Nam có dân số 1.068.189 người, đứng hàng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc ở Việt Nam, cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người H’Mông cư trú tập trung tại các tỉnh:

– Hà Giang (231.464 người, chiếm 31,9% dân số toàn tỉnh và 21,7% tổng số người H’Mông tại Việt Nam)
– Điện Biên (170.648 người, chiếm 34,8% dân số toàn tỉnh và 16,0% tổng số người H’Mông tại Việt Nam)
– Sơn La (157.253 người, chiếm 14,6% dân số toàn tỉnh và 14,7% tổng số người H’Mông tại Việt Nam)
– Lào Cai (146.147 người, chiếm 23,8% dân số toàn tỉnh và 13,7% tổng số người H’Mông tại Việt Nam)
– Lai Châu (83.324 người)
– Yên Bái (81.921 người)
– Cao Bằng (51.373 người)
– Nghệ An (28.992 người)
– Đắk Lắk (22.760 người)
– Đắk Nông (21.952 người)
– Bắc Kạn (17.470 người)
– Tuyên Quang (16.974 người)
– Thanh Hóa (14.799 người).

Sơn nữ Chương Thị Hoa, tộc H'Mông trong một cuộc thi Hoa Hậu Dân Tộc. (L.T.)
Sơn nữ Chương Thị Hoa, tộc H’Mông trong một cuộc thi Hoa Hậu Dân Tộc. (L.T.)

Trên thực tế cho thấy các cư dân H’Mông ở Việt Nam vẫn có quan hệ với các cư dân đồng tộc ở các nước khác, đặc biệt là những địa bàn sát biên giới giữa Việt Nam với Trung Hoa và Lào.

Các truyền thuyết đều cho biết rằng người H’Mông là tộc người di cư vào Việt Nam sớm nhất khoảng 300 năm và muộn nhất là 100 năm về trước. H’Mông là tên tự gọi có nghĩa là người (Môngz). Còn các dân tộc khác còn gọi dân tộc này với các tên Miêu, Mèo, Mẹo. Căn cứ vào đặc điểm về dân tộc học và ngôn ngữ học, người ta chia tộc H’Mông ra làm các ngành: H’Mông Trắng (Môngz Đơư), H’Mông Hoa (Môngz Lênhs), H’Mông Đỏ (Môngz Si), H’Mông Đen (Môngz Đuz), H’Mông Xanh (Môngz Dua), Na Miểu (Mèo nước). Trong đó, cũng có ý kiến cho rằng H’Mông Hoa và H’Mông Đỏ là một.

Tiếng H’Mông là một ngôn ngữ không có chữ viết. Năm 1961 phương án chữ H’Mông theo tự dạng Latin đã được chính phủ Việt Nam phê chuẩn (cụ thể bộ chữ được xây dựng theo ngữ âm ngành H’Mông Lềnh Sa Pa — Lào Cai) có bổ sung thêm một số âm vị của các ngành H’Mông khác, gồm 59 phụ âm (có 3 âm vị phụ âm của ngành H’Mông Đơư và H’Mông Sua), 28 vần và 8 thanh. Vào thập niên 1970, phong trào học chữ H’Mông phát triển khá mạnh ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam, nơi có nhiều người H’Mông sinh sống. Nhưng đến nay với nhiều nguyên nhân khác nhau mà tình hình học chữ H’Mông đã không còn phát triển như trước kia nữa.

Nhà ở của người H’Mông được xây dựng tương đối thống nhất. Nhà được xây dựng trên nền đất, gồm 3 gian 2 chái. Gian giữa đặt bàn thờ, hai bên bố trí bếp và buồng ngủ. Buồng ngủ không được bố trí ngang hàng với bàn thờ. Nhà giàu có được xây dựng kiên cố, cột gỗ kê trên đá tảng đẽo hình đèn lồng hay như quả bí, mái lợp ngói, gác lát ván. Nhà của người nghèo xây dựng đơn giản, cột ngoảm, vách nứa hay ván bổ, mái tranh. Nhà được mở từ 2 đến 3 cửa, cửa chính đối diện với bàn thờ. Các chuồng trại chăn nuôi làm tách riêng ra một khu vực.

Mong_14

Người H’Mông trồng ngô, lúa trên nương rẫy, ruộng bậc thang, ngoài ra còn trồng lanh, bông, lúa mạch. Trước đây trồng cây thuốc phiện. Công cụ sản xuất chủ yếu là chiếc cày. Chiếc cày của người Hmông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Chăn nuôi chủ yếu bò, lợn, gà, ngựa, nhất là ngựa thồ.

Người H’Mông phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Hmông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép.

Người H’Mông ăn Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn Tết Nguyên Đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người H’Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Người H’Mông là dân tộc theo chế độ phụ hệ. Tính phụ quyền trong gia đình người H’Mông rất mạnh, người đàn ông đóng vai trò quyết định mọi việc trong gia đình và là người thừa kế tài sản trong gia đình. Người phụ nữ không được thừa kế tài sản trong gia đình, khi lấy chồng thì thứ tài sản duy nhất người con gái được mang về nhà chồng là những đồ trang sức bằng bạc và váy áo.

Mong_13

Người H’Mông có đời sống văn nghệ khá phong phú, đặc biệt là văn học truyền miệng có rất nhiều thể loại, như Truyện thần thoại về anh hùng văn hóa tìm ra loại giống và dạy người H’Mông cách trồng ngô, lúa, trồng lanh làm vải mặc … Truyện cổ tích về các con vật chiếm khá nhiều, đặc biệt là truyện về Hổ…

Kềnh tộc H'Mông.
Kềnh tộc H’Mông.

Kềnh H’Mông là nhạc cụ thổi hơi của người H’Mông. Một số dân tộc khác cũng có loại nhạc cụ kềnh. Người Kinh gọi kềnhkhèn, vì thế kềnh H’Mông còn được gọi là khèn Mèo.

Kềnh H’Mông có 6 ống trúc rỗng ruột với độ dài ngắn khác nhau. Những ống này xuyên qua 1 bầu gỗ. Phần trên của đầu bầu gỗ thuôn nhỏ, nối với 1 ống trúc khác tạo thành ống thổi. Trên mỗi thân ống trúc nằm ngang có 1 lưỡi gà nhỏ bằng đồng nằm ở chỗ cắm qua bầu gỗ, gần đó, phía bên ngoài bầu gỗ là lỗ bấm. Muốn tạo ra âm thanh của ống nào, người ta bịt tay vào lỗ bấm của ống đó, thổi hơi vào khiến lưỡi gà rung lên phát ra âm thanh. Lúc hít hơi vào lưỡi gà cũng bị tác động cho ra âm thanh. Tùy theo mức độ dài ngắn, to nhỏ mà các ống có âm thanh khác nhau. Riêng ống ngắn nhất và ống dài nhất có 2 lưỡi gà song song phát ra đồng âm. Nhìn chung, khi bịt lỗ hay mở ra đều có thể tạo âm thanh khi thổi. Kỹ thuật sử dụng kềnh H’Mông cơ bản là những thế bấm như vỗ, vê, ngắt, láy rền, đánh chồng âm, hợp âm và hoà âm…

Kềnh H’Mông giống như nhiều loài khèn khác, là nhạc cụ đa thanh, âm sắc có nhiều chất kim loại, hơi rè nhưng mạnh mẽ. Nhạc cụ này có âm vực trong vòng 1 quãng tám, mỗi ống chỉ phár ra 1 âm thanh. Một số nghệ nhân đã cải tiến loại kềnh này thành 8 – 9 ống hoặc vẫn giữ nguyên 6 ống nhưng làm khóa bịt mở lỗ bấm để tạo thêm vài âm nữa, do đó âm vực rộng hơn đôi chút.

Người H’Mông thổi kềnh trong những cuộc vui, tang ma hay lúc đi từ nhà đến chợ. Hiện nay, họ có nhiều loại kềnh với kích cỡ khác nhau (nhỏ, vừa và to). Theo truyền thống, nhạc cụ này do nam giới sử dụng, thường dùng để đệm hát.

Sáo Mèo tộc H'Mông.
Sáo Mèo tộc H’Mông.

Sáo H’Mông hay Sáo Mèo là nhạc cụ của người H’Mông ở miền Bắc Việt Nam. Nó thường được sử dụng để giải trí sau giờ phút lao động mệt nhọc. Tuy nhiên nó còn là phương tiện giao duyên hữu hiệu của các chàng trai đối với con gái trong bản làng.

Sáo H’Mông có khả năng diễn tả ngôn ngữ của người H’Mông, thay họ nói lên tình cảm trong lòng. Ngày xưa sáo H’Mông chỉ là nhạc cụ độc tấu cho số lượng người nghe hạn chế. Ngày nay nhiều nghệ nhân đã tăng cung bậc, âm vực và độ vang của nhạc cụ này để giúp nó có khả năng hòa tấu với những nhạc cụ khác hay độc tấu có dàn nhạc đệm.

Sáo H’Mông cổ truyền làm bằng ống nứa dày hoặc trúc, dài khoảng 20 cm và có đường kính khoảng 0,7 cm. Trên 1 đầu ống có lưỡi gà đồng, còn trên thân ống có từ 2 đến 4 lỗ bấm nằm cùng hàng. Lưỡi gà đồng còn được gọi là lam, hình tam giác cân được khía ra trên 1 miếng đồng mỏng hình chữ nhật. Người ta cài miếng đồng này vào thân sáo và dùng sáp ép lại cho khỏi xê dịch. Người diễn ngậm cả đầu ống có lưỡi gà vào 1 bên miệng để thổi. Ở phía dưới có một lỗ bấm nằm giữa lỗ bấm đầu và lỗ bấm thứ hai phía trên.

Loại sáo H’Mông cải tiến có thân ống to hơn, đường kính khoảng 2 cm và dài đến 45 cm. Nó được khoét tổng cộng 9 lỗ bấm, người thổi chỉ cần áp vào phần thân ống có lưỡi gà vào miệng rồi dùng đôi môi bịt quanh lưỡi gà để thổi. Khi những lỗ bấm được bịt hoặc mở chúng sẽ phát ra âm thanh cao thấp khác nhau lúc thổi.

Sáo H’Mông dân gian có âm vực chưa đủ 1 quãng tám nhưng ở loại cải tiến có thêm 1 âm trầm nữa, thấp hơn âm trầm nhất 1 quãng tám. Âm sắc của sáo H’Mông trong trẻo, mượt mà, tuy nhiên còn có cả âm rè. Nếu người thổi không tạo ra được âm sắc cổ truyền của người H’Mông thì đồng bào H’Mông không công nhận đó là tiếng sáo H’Mông vì nó không nói được tiếng H’Mông.

Để diễn sáo này người ta thường sử dụng kỹ thuật rung, đánh lưỡi, phi, nhấn hơi, vuốt và láy…
Ngày nay nhiều nghệ nhân đã tăng cung bậc, âm vực và độ vang của nhạc cụ này để giúp nó có khả năng hòa tấu với những nhạc cụ khác hay độc tấu có dàn nhạc đệm.

Đàn Môi tộc H'Mông.
Đàn Môi tộc H’Mông.

Đàn Môi là từ tiếng Việt để chỉ một loại nhạc cụ dân tộc làm bằng tre, phổ biến hầu hết trong các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau.

Đàn môi được dùng trong sinh hoạt giao duyên tỏ tình của người dân tộc thiểu số (người H’mông), nam hay nữ sử dụng đều được. Họ đánh những bài tình ca mà ai cũng thuộc nên người nghe ngầm hiểu ý của người sử dụng nhạc cụ.

Đàn môi Việt Nam thường làm bằng 1 miếng đồng dát mỏng hay mảnh tre vót mỏng tạo dáng chiếc lá tre. Người ta cắt một chiếc lưỡi dài theo chiều thân đàn, phần đầu lưỡi rời ra chỉ còn phần gốc dính vào thân đàn. Chiếc lưỡi này là bộ phận rung của nhạc cụ. Phần cuối thân đàn có buộc 1 sợi dây hay có 1 tay cầm. Khi thổi người ta giữ sợi dây hay tay cầm bằng tay trái, đặt đàn cách đôi môi một chút, đủ để không chạm vào răng. Ngón cái của tay phải bật vào đầu đàn khiến lưỡi rung lên, chuyển chấn động đến khoang miệng và vang lên trong khoang miệng. Khi thay đổi khẩu hình âm thanh sẽ phát ra khác nhau, tuy nhiên số lượng âm không nhiều, cao độ không chuẩn, hơi nhòe và nghe nhỏ.

Gọi đàn môi là do thói quen gọi lâu ngày ở Việt Nam. Thật ra nhạc cụ chưa hẳn là đàn, bởi vì các nhà nghiên cứu phân tích nó theo nhiều cách khác nhau. Có người cho rằng đàn môi là nhạc cụ dây vì có lưỡi là dây rung, khoang miệng là bộ phận tăng âm. Người khác bảo đàn môi là nhạc cụ hơi vì chiếc lưỡi làm nhiệm vụ lưỡi gà như trong khèn. Quan điểm thứ 3 cho rằng nó là nhạc cụ tự thân vang, nguồn âm thanh xuất phát từ chiếc lưỡi rung toàn thân.

Nếu chấp nhận đàn môi là nhạc cụ dây thì ta có quyền gọi nó là đàn. Trên thế giới nhiều nước cũng có đàn môi với tên gọi khác và chất liệu làm đàn cũng khác so với loại đàn môi ở Việt Nam, một ví dụ là Jew’s harp, phổ biến ở Châu Âu.

Khèn Bầu H'Mông.
Sáo (Khèn) Bầu H’Mông.

Sáo Bầu (Hulusi) là loại nhạc cụ thổi của các dân tộc thiểu số Trung Hoa, được tộc H’Mông rất yêu thích và thường xuyên sử dụng. Hình bên ngoài và kết cấu của Sáo Bầu rất đặc biệt, nó hoàn toàn là một quả bầu nguyên vẹn, cắm ba ống sáo và ba lưỡi gà kim loại lên quả bầu là thành Sáo Bầu. Đoạn cán quả bầu cắm ống sáo để thổi, thân bầu trở thành hộp âm của sáo, phần đáy quả bầu cắm ba ống sáo to nhỏ khác nhau, mỗi ống sáo gắn lưỡi gà bằng bạc hoặc bằng đồng, ống sáo giữa là to hơn cả, trên đó khoét bảy lỗ nhỏ, có thể thổi các giai điệu, hai ống sáo phụ chỉ có thể thổi hòa âm với cây sáo chính.Cũng như các loại nhạc cụ sáo, âm lượng của nó tương đối nhỏ, song âm thanh của cây sáo chính rất êm dịu, dưới âm nền của hai cây sáo phụ, khiến người nghe có một cảm giác mang vẻ đẹp kín đáo, mông lung. Bởi vì âm thanh láy nền của nó mượt mà thướt tha như ̀tiếng tơ lụa bay theo chiều gió, cho nên người ta còn gọi Sáo Bầu là “Sáo Bầu tơ”. Sáo Bầu thường dùng để thổi các bài sơn ca, đặc biệt là sành về thổi những bản nhạc trôi chảy, giai điệu thường ngân dài, hợp âm phong phú, âm thanh du dương hài hòa, có thể bày tỏ tư tưởng tình cảm của người thổi.

Người H’Mông say đắm dân ca dân tộc mình, đó là Tiếng hát tình yêu (gầu plềnh), Tiếng hát cưới xin (gầu xuống)… Trong những dịp lễ hội, đặc biệt là hội Gầu tào (đón năm mới), những bài hát dân ca này không chỉ thể hiện bằng lời mà còn có thể giãi bày thông qua những nhạc cụ dân tộc (sáo, khèn, kèn lá, đàn môi…). Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Kèn lá, đàn môi là phương tiện chủ yếu để thanh niên trao đổi tâm tình sau một ngày lao động mệt mỏi.

Kho tàng dân ca của tộc H’Mông có bài “Xuân về trên bản H’Mông” khá nổi tiếng và phổ biến luôn làm say đắm lòng người.

Các bài dân ca khác của tộc H’Mông:

DỪNG CHÂN (Dân Ca Mèo)

Xa vời rừng ban xinh tươi,
nở trắng ngàn đỉnh đồi,
Nắng chiều vàng non khơi, xa vời
Bên lửa hồng ai ngóng chờ người năm xưa,
Nàng hẹn mong anh nói nên lời, nàng yêu
Anh không rời
Bên lửa hồng ai đón chờ người năm xưa
Nàng còn đây bao tháng năm chờ
Nàng còn đây không mờ
Mưa chiều, dừng chân anh ơi
Kià mưa tràn đỉnh đồi
Hoa buồn vì mưa rơi, không cười
Bên lửa hồng nay đón chờ người năm xưa,
Nàng hẹn mong anh nói nên lời,
nàng yêu anh không rời
Bên lửa hồng nay đón người về dừng chân
Nàng đợi qua bao tháng năm chờ,
Nàng còn đây không mờ.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

 

HÁT RU CON (KHỔNG MÍ NHỦA)

Ơ ! Em ơi ngủ ! Em chị ngủ ngon
Em chị chóng ngoan đừng khóc
Mẹ mua nhiều quà
A ru hỡi mẹ mua thật nhiều xôi.

Nữ nhạc sĩ Đoan Trang (ái nữ của NS Nguyễn Đình Nghĩa) ký âm.
Nữ nhạc sĩ Đoan Trang (ái nữ của NS Nguyễn Đình Nghĩa) ký âm.

 

Hát Ru Con (Mèo Vạt-Hà Giang)

Chim về ngàn yêu thương,
Con Ơi ngoan con ngũ hỡi con
Ơi con ngũ ngàn lời yêu thương với đời con
Chập chùng ngoài xa đêm đêm nghe tiềng rừng vọng nơi đây
Ru hỡi ơi, ru hởi ru ơi.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

 

Nhắn Gửi (Dân ca H’Mông)

Nhắn Gửi đôi lời cùng anh
Hỏi núi gọi suối bao giờ
Mừng đón anh về
Nhắn gửi đôi lời cùng em
Trông vời lưng núi
Hẹn em chờ đến ngày anh trồng lúa
Trồng xong nương sắn mùa
Em đợi chờ đón anh về
Nhắn gửi đôi lời cùng em
Xa người yêu dấu anh còn đi
Anh dặn em đừng lo
Dù mưa nắng bao ngày anh về cùng em
Xa anh thì nhớ
Đừng xa lòng em
Đừng thương nhớ
Nào ai ngoài
Ngày trông tháng chờ
Một sáng anh về Vui sống cùng anh.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

 

Cô Nói Sao (Dân ca H’Mông)

Có bao giờ tôi thấy như vậy đâu!
Có ai ngờ bố mẹ cô đã nói vờ!
Nói cô đã đi suối
Mà sao thấy mời những người anh em đã về đây.
Có ai ngờ bố mẹ cô đã nói vờ!
Nói cô lấy củi trong rừng,
sao tôi thấy mời những người thông gia hai họ khắp nơi kéo về

Cô nói sao (âm ngữ H’Mông):

(Cha tang tu tang dua nê gày xinh!
Cha co lềnh nả lềnh chí dúa u trù!
Háy tua dùa mông chí đề ê dúa mông
Hu lùa dơê kế dề ho.
Cha cao lềnh nả lềnh chí dúa u trù
Hay tua dúa mồng chi tơ na Say dúa mồng
Hu lua dở ua kê trù kê lùa i tùa dua ca da)

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

 

NHỚ EM YÊU (Dân Ca H’Mông)

A Chiều, lòng anh nhớ gọi em. Mái !
Chiều, kìa tiếng sáo gọi em lưng đồi.
Vầng trăng lên sáng rồi, bừng lên núi
Nhớ người yêu, lòng anh buồn
Buồn ăn chẳng no lòng
Kìa tiếng sáo gọi em ơi Mái !

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

 

Dưới đây mình có các bài:

– Thanh âm của núi
– Nét văn hóa độc đáo trong Nghi lễ “Sâu khấu” của người Mông, Yên Bái
– Lễ hội Gầu Tào – nghi thức độc đáo của người Mông
– Độc đáo Lễ hội “Cúng rừng” của người Mông, Lào Cai
– Lễ cúng họ của người Mông ở Yên Bái
– Hội chọi bò truyền thống của người Mông, Đắk Lắk
– Ngôi nhà truyền thống – Nét kiến trúc độc đáo của người Mông, Hà Giang
– Trang phục dân tộc H’Mông
– Hoa văn – họa tiết trên thổ cẩm của người H’Mông

Cùng với 27 clips tổng thể văn hóa dân tộc H’Mông để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia & DTV)

Bài “Tiếng Sáo Xa Lá”, dân ca Mèo.

Thanh âm của núi

(Hà Phong)

Vẻ đẹp của màu sắc được cảm nhận bằng mắt, vẻ đẹp của âm thanh cảm nhận bằng tai. U u tiếng gió, rào rào tiếng mưa, trầm hùng tiếng thác đổ… Lời của Khèn ngân rung cõi lòng, dẫn dắt người nghe ngược thời gian về với thuở hồng hoang, kỳ vĩ. Dòng chảy văn hóa của người Mông vẫn ngàn năm mãnh liệt, dù được cất lên lãng đãng trôi trong bình minh sớm, hay thảnh thơi phiêu du dưới ánh chiều tà, đều làm cho người nghe rung cảm, phút chốc muốn hóa thành thi sĩ.

Trong cuộc đời, ai đã một lần lên Tây Bắc để được nghe tiếng Khèn Mông (H’Mông). Để nhớ, để thương, để vấn vương tơ lòng… Âm thanh cây Khèn truyền bảo của người Mông có thể làm đắm say cả những du khách khó tính nhất. Với người Mông, tiếng Khèn là sợi dây tâm linh nối người sống và người đã khuất, là “cây cầu” bắc lời tỏ tình đôi lứa, là những câu chuyện cổ được kể bằng âm thanh.

Đến buổi chợ phiên, Khèn trên vai song hành cùng người xuống chợ, để rồi khi hương rượu ngô nồng mùi men lá mềm môi, Khèn cùng người bắt đầu tấu lên những giai điệu hoang dã, nguyên khôi mà say đắm của núi, của rừng.

Múa khèn. (ảnh Ngô Dư)
Múa khèn. (ảnh Ngô Dư)

Khèn Mông được chế tác bằng gỗ cùng sáu ống trúc lớn, nhỏ, dài, ngắn khác nhau. Sáu ống trúc tượng trưng cho tình anh em tụ hợp. Chúng được xếp khéo léo, song song trên thân Khèn. Nhìn và tưởng tượng thêm một chút thấy chúng như dòng nước đang trôi. Dòng nước đó chở thứ âm thanh huyền diệu, chảy mãi từ nguồn lịch sử cho đến tận bến bờ hiện tại.

Được sinh ra và lớn lên giữa chốn núi rừng nên Khèn đối với tôi không lạ, vậy mà mỗi khi nghe những thanh âm dìu dặt của Khèn, tôi như mụ mị, thả mặc tâm hồn mình lang thang theo tiếng Khèn. Mười lần như một, đeo đẳng trong tôi cảm giác tiếng Khèn như sợi tơ lóng lánh dưới ánh sáng của mặt trời.

Tôi đã từng được ngồi nghe cụ già người Mông kể lại: Ngày xưa, tổ tiên người Mông giỏi lắm, rất nhiều chàng trai vừa biết thổi khèn, vừa múa trên những chiếc cọc dựng sát gần nhau. Ở phía dưới dân làng đốt những đống lửa, ai không khéo, không giỏi, rơi xuống sẽ bị bỏng. Những chàng trai giỏi nhất luôn là mơ ước để các cô gái chọn lấy làm chồng.

Tiếng khèn bản xa. (ảnh Hà Trường)
Tiếng khèn bản xa. (ảnh Hà Trường)

Những nghệ nhân dân gian thời đó chẳng khác gì võ sư đã đạt đến tuyệt đỉnh Kung fu. Cũng đã có lần tôi thử thổi Khèn, nhưng chỉ bật được ra những âm thanh yếu ớt. Thế mới biết để thổi được Khèn, người ta phải có một làn hơi thật khỏe. Vậy mà đàn ông người Mông đều có thể thổi Khèn một cách nhẹ nhàng, thanh thoát. Phải chăng khí núi đã hun đúc, tạo nên hai lá phổi khỏe mạnh dành tặng cho người Mông?

Xưa, dân tộc Mông vốn sống du cư. Lịch sử trên những nẻo đường thiên lý không ít mồ hôi và nước mắt. Và Khèn chính là người bạn làm vui bên kiếp đời lang bạt. Từng có thời kỳ, số phận người Mông trầm luân giữa bờ mê lú của loài hoa anh túc. Vậy mà tiếng Khèn vẫn không tắt, nó âm ỉ, trường tồn để trở thành báu vật truyền lại cho các thế hệ sau, trở thành một phần văn hóa không thể thiếu của người Mông.

Tiếng Khèn ngấm sâu vào máu thịt người Mông, thân quen như miếng “mèn mén” (bột ngô đồng) mẹ mớm từ lúc mới biết ăn dặm. Con trai 13 tuổi đã có cây Khèn trên vai mỗi khi lên nương, xuống chợ. Âm thanh của Khèn mạnh mẽ như chính cuộc sống người Mông, bởi nếu không kiên cường mạnh mẽ, người Mông xưa kia chắc khó lòng đương đầu nổi với sự khắc nghiệt nơi núi cao, đá dựng.

Cuộc sống người Mông, bước chân ra khỏi cửa là chạm núi, chạm mây, mặt đất lúc nào cũng như nghiêng nghiêng sẵn sàng thử thách. Người và trâu cày nương mà như làm xiếc, chân duỗi, chân quỳ men theo sườn dốc, lưỡi cày len lỏi trong đá, moi lên từng chút đất một. Cây ngô lớn lên từ đất, từ đá được tưới đẫm bởi mồ hôi người Mông, cây nào cũng cứng cáp. Người Mông hầu như gắn số phận mình với rừng, đôi chân quấn xà – cạp tung hoành, tạo nên lối mòn, đến tận cả những đỉnh núi cao, hoang vu nhất. Người Mông bảo: “Không có một ngọn núi nào cao bằng đầu gối”. Tự tin và kiêu hãnh đến thế là cùng.

Yên bình trong thanh âm của núi.
Yên bình trong thanh âm của núi.

Đã có lần, tôi bắt gặp những nghệ nhân dân gian thổi Khèn nơi đỉnh núi mênh mang lộng gió, tóc bị thổi ngược ra phía sau, bước chân tưng bừng trên bãi cỏ. Hình bóng họ in trên nền trời xanh, hệt một tuyệt tác của thiên nhiên. Núi vút ngàn cao, rừng bao la rộng cũng chẳng thể làm chìm khuất đi tiếng Khèn đầy khát khao, dạt dào sức sống. Khoảnh khắc xuất thần và đáng nhớ ấy trong đời không phải lúc nào cũng dễ gặp.

Và cứ muốn nghe mãi, để được bâng khuâng, mơ màng, hư hư, thực thực trong cõi âm thanh. Nhưng cũng dường như, chỉ có vẻ đẹp yên bình, bát ngát của đất trời mới giúp cho tiếng Khèn mang một ma lực, một mãnh lực vang vọng và nồng nàn đến vậy…”Khắc đi, khắc đến”, câu nói cửa miệng của người Mông giống như lời mời khám phá, hãy mạnh dạn bước chân trên con đường, đến với thanh âm của núi. Đến với tiếng Khèn một ngày, để nhớ tiếng Khèn một đời.

Mong_Người H'Mông

Nét văn hóa độc đáo trong Nghi lễ “Sâu khấu” của người Mông, Yên Bái

(TH-Cinet-DTV)

“Sâu khấu” là Nghi lễ cúng cho cả dòng họ của người Mông xã Chế Cu Nha (Mù Cang Chải, Yên Bái), mang ý nghĩa cầu một năm mới bình an, hạnh phúc, thể hiện tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cùng huyết thống.

Cũng như cộng đồng người Mông sống ở miền núi phía bắc, người Mông xã Chế Cu Nha có đời sống văn hoá tín ngưỡng khá phong phú, sự đa dạng ở đây được thể hiện trong từng dòng họ, từng gia đình qua cách thờ cúng, kiêng kỵ và quan niệm khác nhau về thế giới tâm linh. Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Vì thế hàng năm bà con đều tổ chức Nghi lễ “Sâu khấu”.

Nghi lễ “Sâu khấu” được tổ chức vào dịp cuối năm, thường diễn ra vào buổi tối, tùy thuộc vào mỗi dòng họ và những điều kiêng kị mà mỗi dòng họ có những ngày tổ chức khác nhau. Địa điểm tổ chức được thay đổi theo từng năm, mỗi gia đình trong dòng họ sẽ đứng ra tổ chức nghi lễ một lần theo chu kỳ tuần tự từ nhà này sang nhà khác.

Theo quan niệm của người Mông, việc tổ chức lễ cúng luân phiên để mỗi nhà, mỗi gia đình có điều kiện thể hiện tấm lòng thành đối với tổ tiên, thần linh. Trước khi diễn ra nghi lễ này, gia chủ tổ chức lễ cúng có trách nhiệm thông báo trước với mọi người trong dòng họ để cùng bàn bạc, phân công, thống nhất về thời gian, địa điểm và kinh phí tổ chức nghi lễ.

Lễ vật chính trong lễ cúng là thịt lợn; gà trống 2 con để làm lễ chính đã được luộc chín, 1 con gà trống còn sống để khi thực hiện nghi lễ; giấy dó được gấp và dán quanh nơi thờ cúng, thể hiện các linh vật trong nghi lễ; chỉ 3 màu gồm: đỏ, vàng và trắng; các ống tre cùng một số lễ vật, biểu tượng khác.

Người Mông, Yên Bái.
Người Mông, Yên Bái.

Khi mọi việc đã chuẩn bị xong, mâm lễ cúng đã sắp đầy đủ, những người trong dòng họ tề tụ đông đủ cùng tham gia làm lễ cúng. Mọi người lấy tất cả số chỉ ba màu bện chặt vào nhau và nối thành sợi dây dài, những tập giấy đó cắt thành khuôn và gập, sắp xếp theo nghi lễ, tượng trưng cho những linh vật mà người Mông quan niệm để thờ cúng cho may mắn trong năm. Trưởng dòng họ (thầy cúng) với trang phục truyền thống đầu đội mũ làm bằng giấy bìa màu trắng, tay cầm thanh la, sau đó ngồi và bắt đầu làm lễ.

Thầy cúng cầm bó hương khấn cầu các hương hồn của thần núi, thần sông phù hộ cho dòng họ một năm mới mưa thuận gió hòa, gặp nhiều điều may mắn, tránh được tai ương… gọi các vật nuôi như gia súc, gia cầm về chuồng trại, xua đuổi những gì không may mắn của năm cũ, mọi thành viên trong dòng họ quỳ gối chắp tay lạy ba lạy khi có yêu cầu của thầy cúng. Trong quá trình làm lễ, một người đàn ông trong dòng họ được phân công phụ giúp thầy cúng, cầm 2 chân con gà trống, sau đó làm động tác đưa lên đưa xuống tạo hai cánh gà thành hai cánh quạt, quạt vào những tấm giấy dó, nếu những mảnh giấy bay đi thì là điềm lành cho năm tới, nếu những mảnh giấy dó không bay có nghĩa là năm mới sẽ không gặp may mắn.

Tiếp đến, thầy cúng sẽ gặp và làm tư tưởng để động viên mọi người không sợ đen đủi, cứ yên tâm lao động sản xuất, sống đúng đạo lý của người Mông, của dòng họ thì sẽ được thần linh, tổ tiên phù hộ.

Sau khi nghi lễ kết thúc, mọi người trong dòng họ có mặt tại nghi lễ xếp theo một vòng tròn, thầy cúng dùng những sợi chỉ màu đã được bện và nối sẵn, đi theo một vòng tròn những người trong dòng họ, cuộn chỉ đi hết đến người cuối cùng, cũng là đích của gia chủ đó sang năm đến lượt tổ chức nghi lễ. Đây là sợi chỉ ràng buộc của đồng bào Mông, thể hiện sự đoàn kết nội bộ của dòng họ.

Có thể thấy, Nghi lễ “Sâu khấu” dân tộc Mông xã Chế Cu Nha là một nét văn hóa truyền thống đặc sắc mang tính gắn kết cộng đồng, dòng họ, khuyên dạy con người nên sống thiện, sống có ích, tạo nên một cộng đồng tốt đẹp.

Mong_1

Lễ hội Gầu Tào – nghi thức độc đáo của người Mông

(Lê Sơn-Trần Ngọc-Cinet)

Dân tộc Mông là dân tộc có một đời sống tinh thần, tâm linh rất phong phú và đa dạng, tạo nên truyền thống văn hóa Mông với rất nhiều nét đặc sắc. Một trong những lễ hội tiêu biểu thể hiện truyền thống của người Mông chính là lễ hội Gầu Tào.

Nhắc tới truyền thống văn hóa của người Mông, không chỉ nói tới những tập quán canh tác, chăn nuôi, ăn ở… mà còn ở tín ngưỡng, phong tục, tâm linh. Trong đó, tất cả những tín ngưỡng về sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tinh thần đều xoay quanh mối quan hệ gia đình, dòng họ, làng bản và những tín ngưỡng đó đều được tái hiện qua lễ hội Gầu Tào.

Lễ hội Gầu Tào là lễ hội lớn nhất, đông người tham gia nhất, được coi là lễ hội tiêu biểu và đặc sắc nhất của người Mông.

“Gầu Tào” với mục đích là cúng tạ trời đất, thần linh phù hộ ban cho gia đình sự khỏe mạnh, thịnh vượng, cầu phúc, cầu lộc ban cho dân bản, mở hội tạ ơn trời đất, núi sông đã ban cho tài lộc, mùa màng bội thu, gia súc, gia cầm đầy chuồng… Đây cũng là dịp để bà con trong bản tụ họp, vui chơi chuẩn bị bước vào một năm mới, một mùa canh tác mới.

Thời gian mở hội thường trong khoảng từ ngày mồng một đến ngày 15 tháng giêng. Nếu hội tổ chức 3 năm liền thì mỗi năm tổ chức 3 ngày liền, hội làm gộp một năm sẽ tổ chức 9 ngày. Lễ hội Gầu Tào gồm 2 phần lễ và hội. Hội thường được tổ chức ở tất cả các làng xã, huyện lị và có đồng bào Mông sinh sống, được tổ chức trên một khu đất đồi tương đối bằng phẳng để thuận lợi cho việc đi lại, vui chơi hoặc những nơi có cảnh quan đẹp với đồi núi, cây cổ thụ tạo không khí thiêng liêng. Lễ hội Gầu Tào có thể do một gia đình, một dòng họ hay một làng bản đứng ra tổ chức.

Tại địa điểm được thầy cúng lựa chọn và là nơi dựng cây nêu (là cây mai cao vút ngọn lá và được trang trí thêm các hình nộm, các hoa văn bằng nhiều màu sắc) để thông báo cho bà con nơi đây sắp diễn ra lễ hội Gầu Tào. Đồng thời tại điểm đó được dựng hai cây gỗ to, bóc vỏ, cao chừng 10m, bên trên có xà ngang. Tại điểm ngọn được treo một bầu rượu lộc và buộc một sợi dây thừng to thả xuống làm dây leo cho các chàng trai trong bản thi thố.

Ngay từ cuối tháng chạp, khi được thầy cúng bói xin mở hội. Gia đình mở hội cầu phúc hay cầu mệnh, trong gia đình cử ra một người chặt cây làm cây nêu. Đầu tiên lễ dựng nêu được tổ chức. Nơi trồng cây nêu (cũng là địa điểm mở hội). Cây nêu được chôn nơi cao nhất thường là đỉnh đồi. Khi dựng xong, gia chủ còn làm lễ cúng ở ngay chân cột nêu mời tổ tiên các thần phù hộ cho có con, mọi thành viên đều khỏe mạnh, bằng an kế tục việc làm ăn, làm mặc theo dòng họ. Cây nêu được dựng lên, các làng gần, làng xa biết rằng tết năm nay sẽ mở hội Gầu tào. Mọi người đều hiểu chuẩn bị dự hội.

Sau phần của thầy mo, làm những thủ tục lễ bái, hầu hết là dùng những từ hoa mỹ (pàng lỳ) thanh cao, những câu ví mỹ miều, những câu tục ngữ (lù txà) khoa trương. Mọi người tụ tập đến bãi mở hội. Khắp bãi dựng thêm nhiều lều lợp lá cây cho người già ăn uống chúc tụng. Bãi bằng nhất được dọn ra cho trẻ em đánh quay.

Các nơi khác trong bãi, tổ chức các trò chơi cho ngày hội được quy định trước. Các nơi này mỗi nơi đều có quán xử (chủ sự) quản lý chung. Ngoài ra cần có xừ quan (quản lý) chăm lo việc ăn uống, có hấu pầu tờ (quản củi đuốc), hấu pầu giê (trông nom xay giã dần sàng) cùng với xừ quan.

Kết thúc lễ hội, chủ nhà làm lễ, cây nêu được hạ xuống. Thày mo đốt thẻ giấy, hốt than cho vào gáo nước, vừa đi vừa cầu khấn. Sau mỗi đoạn khấn vái, thày lại hấp một ngụm nước phun ra xung quanh. Mảnh vải đỏ thì mang về treo trong nhà cầu mong sự bình an và thịnh vượng.

Tiếp theo, các chàng trai, cô gái cùng nhau bước vào các tiết mục thi thố đặc sắc. Những tiếng khèn, những tiếng cười reo được vang lên náo nức khắp làng bản, báo hiệu một mùa xuân mới đã về và cũng hứa hẹn một năm mới mùa màng bội thu, một cuộc sống ấm no, sung túc và thịnh vượng.

Một số hình ảnh tại Lễ hội Gầu Tào:

Mong_2

Những nghi lễ chuẩn bị trước khi dựng cây nêu.
Những nghi lễ chuẩn bị trước khi dựng cây nêu.

Mong_3

Thầy mo và gia chủ cùng uống rượu trước khi làm lễ tế thần linh
Thầy mo và gia chủ cùng uống rượu trước khi làm lễ tế thần linh.

Mong_4

Thầy mo tế thần linh và chọn phương hướng dựng cây nêu.
Thầy mo tế thần linh và chọn phương hướng dựng cây nêu.

 

Cây nêu được dựng.
Cây nêu được dựng.

 

Gia chủ mời rượu cảm ơn các thầy mo.
Gia chủ mời rượu cảm ơn các thầy mo.

 

Gia chủ hát mừng trước làng bản.
Gia chủ hát mừng trước làng bản.

 

Ngô và lúa, tượng trưng cho mong muốn mùa màng bội thu.
Ngô và lúa, tượng trưng cho mong muốn mùa màng bội thu.

Mong_6

Mong_5

Và những tiết mục văn nghệ và thi tài đặc sắc tại lễ hội.
Và những tiết mục văn nghệ và thi tài đặc sắc tại lễ hội.

Độc đáo Lễ hội “Cúng rừng” của người Mông, Lào Cai

(TH-TQ-DTV)

Lễ cúng rừng của người Mông thường được tổ chức vào đầu năm.
Lễ cúng rừng của người Mông thường được tổ chức vào đầu năm.

Cũng như nhiều dân tộc khác, dân tộc Mông nói chung và người Mông Lào Cai nói riêng có một nền văn hóa phong phú đa dạng, được thể hiện thông qua các lễ hội. Trong số đó, độc đáo và đặc sắc nhất phải kể đến “Lễ hội cúng rừng” của người Mông xã Sín Chéng, huyện Si Ma Cai.

Được tổ chức vào ngày 06/6 Âm lịch hàng năm, Lễ hội cúng rừng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh của người Mông xã Sín Chéng. Đây là một trong những lễ hội lớn nhất, độc đáo và quan trọng nhất trong năm đối với người Mông nơi đây.

Theo các già làng nơi đây kể lại: lễ hội cúng rừng đã có từ lâu đời và được gắn liền với triết lý đa thần của cư dân nông nghiệp. Trong đời sống tâm linh của người Mông luôn tồn tại những truyền thuyết cổ xưa, những câu chuyện huyền bí kể về sự linh thiêng của những khu rừng cấm, rừng thiêng. Họ luôn tin rằng trong rừng có “Thần rừng” cai quản và che chở phù hộ cho dân làng trong cuộc sống hàng ngày, vì vậy, Thần rừng được tôn thờ, sùng kính như đối với ông bà tổ tiên. Tín ngưỡng thờ “Thần rừng” của người Mông như một sợi dây tâm linh được truyền từ thế hệ này, sang thế hệ khác. Vì thế hiện nay thôn nào của xã Sín Chéng cũng có một khu rừng cấm nằm ở địa thế đẹp nhất của thôn, với những qui định “bất khả xâm phạm”.

Linh thiêng lễ hội cúng rừng.
Linh thiêng lễ hội cúng rừng.

Lễ vật để cúng rừng gồm: 1 con gà trống, 1 con lợn nhỏ, 4 chén rượu, 1 ít mẻ, 1 ít cơm tẻ, hương và giấy bản. Các lễ vật này được bầy trên một chiếc bàn được làm bằng tre hoặc vầu. Thầy mo tiến hành nghi lễ cúng “Thần rừng” qua hai lần cúng, cúng khi con vật còn sống và sau khi đã chế biến chín. Thức ăn chín được đặt trên lá chuối hoặc lá khoai mon rừng và để lên bàn cúng, cùng với 4 chén rượu và một ít mẻ để vào 2 chiếc lá khoai. Mỗi lần cúng đều có bài cúng riêng và tương ứng với một thời gian nhất định trong buổi lễ. Trước khi con vật được đem đi chế biến để cúng lần thứ hai, thầy cúng sẽ cắt tiết gà rồi lấy lông nhúng vào bát tiết dán lên gốc cây cổ thụ, báo với “Thần rừng” là dân làng đang dâng lễ vật lên “Thần rừng”, có như vậy mới linh nghiệm và “Thần rừng” mới chấp nhận.

Điều đặc biệt của lễ hội cúng rừng của người Mông nơi đây là: ngoài việc cúng “Thần rừng”, đây còn là dịp được xem như một cuộc họp tổng kết năm của thôn trong công tác bảo vệ rừng, cuộc họp tổng kết này có sự tham gia của tất cả các chủ hộ trong thôn, cán bộ lãnh đạo cấp uỷ, chính quyền xã và cán bộ kiểm lâm. Việc thực hiện các qui ước, hương ước về bảo vệ rừng, tình hình phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, an ninh trật tự thôn bản, các khoản đóng góp, các khoản được Nhà nước hỗ trợ… đều được đem ra bàn bạc công khai.

Thầy mo làm lễ cúng.
Thầy mo làm lễ cúng.

Sau phần lễ, bà con dân bản tập trung ở khu đất trống ở cửa rừng để nghe cán bộ thôn, cán bộ xã triển khai các chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, vận động nhân dân đoàn kết giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn khó khăn, các hộ dân trong thôn không được thả rông gia súc phá hoại hoa màu, không vi phạm các quy ước, hương ước thôn bản, đặc biệt là quy ước về bảo vệ và phát triển rừng.

Lễ hội cúng rừng của người Mông nói chung và người Mông xã Sín Chéng nói riêng còn có một ý nghĩa khác là cầu mong cho một năm mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, con cháu khỏe mạnh, cuộc sống no ấm, yên vui.

Ngoài ý nghĩa tâm linh lễ hội cúng rừng còn có vai trò, tác dụng to lớn trong việc gắn kết cộng đồng các dân tộc, gắn con người với thiên nhiên, vì vậy đã trải qua nhiều thế hệ, xong lễ hội cúng thần rừng của người Mông vẫn còn nguyên giá trị và được lưu truyền từ đời nay sang đời khác.

Lễ cúng họ của người Mông là một nét văn hóa truyền thống đặc sắc mang tính gắn kết cộng đồng, dòng họ.
Lễ cúng họ của người Mông là một nét văn hóa truyền thống đặc sắc mang tính gắn kết cộng đồng, dòng họ.

Lễ cúng họ của người Mông ở Yên Bái

(TH-Cinet-DTV)

Lễ cúng họ là một nghi lễ hết sức đặc sắc và độc đáo của người Mông Si Suối Giàng (Yên Bái).

Trong các sinh hoạt tín ngưỡng của người Mông Si ở xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn (Yên Bái), lễ cúng họ thể hiện tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cùng huyết thống.

Lễ được tổ chức thường xuyên hàng năm, tùy thuộc vào mỗi dòng họ và những điều kiêng kị mà mỗi dòng họ có những ngày tổ chức khác nhau. Địa điểm tổ chức được thay đổi theo từng năm, mỗi gia đình trong dòng họ sẽ đứng ra tổ chức nghi lễ một lần theo chu kỳ tuần tự từ nhà này sang nhà khác.

Theo quan niệm của người Mông nơi đây, việc tổ chức lễ cúng họ luân phiên để mỗi nhà, mỗi gia đình có điều kiện thể hiện tấm lòng thành đối với tổ tiên, thần linh. Đến lượt nhà nào được vinh dự tổ chức nghi lễ cho cả dòng họ thì gia đình đó phải tự lo liệu toàn bộ mọi chi phí của buổi lễ từ vật, đồ dâng cúng và thực phẩm thết đãi cả dòng họ trong ngày hôm đó.

Lễ vật chính trong lễ cúng là thịt lợn. Gia chủ sẽ phải chuẩn bị một con lợn từ 50 – 70 kg gọi là lợn Zù xu để tổ chức nghi lễ cúng. Ngoài việc dùng làm lễ vật, lợn Zù xu còn dùng làm thực phẩm trong ngày lễ, một phần trả công cho thầy cúng và những người giúp việc…

Để trang hoàng cho lễ cúng, gia chủ chôn chính giữa ngôi nhà một ngọn của cây Zàng. Cành chè của các gia đình trong dòng họ sẽ được treo lên trên thân cây Zàng. Đồng bào quan niệm, cây Zàng cùng với cây chè vè có tác dụng trừ ma, do vậy các gia đình đều buộc chung các cành chè vè cùng cây Zàng sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp xua tan mọi điều xấu xa.

Lễ cúng được tổ chức tại hai nơi. Đầu tiên, thầy cúng với trang phục truyền thống cầm hương cúng khấn trước cây Zàng đại ý cầu xin thần linh phù hộ cho dòng họ một năm được mưa thuận gió hòa, gặp nhiều điều may mắn, tránh được tai ương…

Lễ cúng họ cầu xin thần linh phù hộ cho dòng họ một năm được mưa thuận gió hòa, gặp nhiều điều may mắn, tránh được tai ương…
Lễ cúng họ cầu xin thần linh phù hộ cho dòng họ một năm được mưa thuận gió hòa, gặp nhiều điều may mắn, tránh được tai ương…

Lễ cúng tiếp theo được tiến hành sau khi kết thúc lễ cúng ở trong nhà, thầy cúng nhổ cây Zàng mang ra cửa chính, đi vòng ra phía sau nhà theo hướng tay phải, làm nghi thức xua đuổi tà ma cho cả dòng họ. Tất cả anh em, con cháu đều đi theo sau thầy cúng ra phía sau nhà. Thầy cúng phụ mang theo một con dao và một cây nỏ, tất cả các dụng cụ sử dụng trong lễ cúng đều dùng cho nghi thức đuổi ma trừ tà. Cây Zàng sau đó lại được chôn vào chính giữa ngôi nhà, thầy cúng lại tiếp tục cúng cầu xin thần linh bảo vệ cho dòng họ thoát hẳn khỏi sự quấy phá của ma tà.

Kết thúc lễ cúng, thầy cúng dùng con dao chặt đôi bó chè vè và cho anh em, con cháu mang đi vứt thật xa ngôi nhà của gia chủ với quan niệm vứt bỏ đi những điều không may mắn. Do vậy, người dân tin rằng, ai càng đi xa thì người đó và gia đình của họ sẽ càng may mắn hơn. Cùng đó, thầy cúng phụ dùng cây nỏ bắn lên trời 3 mũi tên để xua đuổi tà ma về làm hại các gia đình cho dù ở dưới đất hay trên không trung.

Các nghi lễ hoàn thành, mọi thành viên trong gia tộc quây quần ăn uống, trò chuyện. Sau lễ cúng Zù xu là các trò chơi dân gian như đánh quay, đẩy gậy, bắn nỏ, ném pao… thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng, dòng họ. Khi kết thúc mọi nghi lễ, tất cả dòng họ quây quần vui vẻ bên mâm rượu, ôn lại truyền thống dòng họ, ông trưởng họ nhắc nhở con cháu luôn nhớ đến công ơn tổ tiên, ông bà và quy ước của dòng họ.
Zù xu – lễ cúng họ của người Mông nơi vùng cao Mù Cang Chải là một nét văn hóa truyền thống đặc sắc mang tính gắn kết cộng đồng, dòng họ, khuyên dạy con người nên sống thiện, sống có ích, tạo nên một cộng đồng tốt đẹp cần được lưu giữ, bảo tồn và phát huy.

Chọi bò - dân tộc H'Mông.
Chọi bò – dân tộc H’Mông.

Hội chọi bò truyền thống của người Mông, Đắk Lắk

(Cinet-DTV)

Chọi bò là thú chơi không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đồng bào Mông huyện Krông Bông (Đắc Lắk), nó đã trở thành nét văn hóa đặc sắc trong những ngày đầu xuân của bà con dân tộc nơi đây.

Cứ mỗi độ Tết đến, xuân về, công việc đồng áng đã tạm xong, người Mông ở các thôn trên địa bàn huyện Krông Bông lại nô nức chuẩn bị lễ hội xuân. Lễ hội xuân thường diễn ra từ ngày mùng 2 và kéo dài đến mùng 6 tết Nguyên đán, với nhiều nội dung phong phú như: múa khèn, hát dân ca, thổi ví lè, thổi lá, ném còn, chọi cù… nhưng độc đáo nhất vẫn là hội chọi bò.

Theo lời kể của bà con nơi đây: hội chọi bò thể hiện cho sức mạnh, sự dẻo dai, đoàn kết, phát triển của đồng bào Mông; được hình thành từ thập niên hai mươi của thế kỷ trước và được lưu truyền đến ngày nay. Trước đây, khi còn ở quê hương cũ, điều kiện kinh tế chưa phát triển, giao thông đi lại khó khăn, hội chọi bò thường được tổ chức vào dịp Tết cổ truyền của người Mông (khoảng đầu tháng 12 dương lịch), với quy mô nhỏ trong bản để tạo không khí vui tươi ngày tết. Những năm gần đây, lễ hội này được tổ chức vào dịp tết Nguyên đán, song song với các hoạt động vui xuân khác với quy mô tổ chức mở rộng hơn, có sự tham gia của nhiều thôn, nhiều xã.

Bò mộng khỏe, sừng nhọn, tai to, vó cao… sẽ được tuyển chọn để thi đấu.
Bò mộng khỏe, sừng nhọn, tai to, vó cao… sẽ được tuyển chọn để thi đấu.

Để có được những con bò tốt tham gia hội chọi bò, nhiều gia đình đã cất công đi các nơi chọn mua. Những con bò được chọn phải có thân mình thon chắc, chân cân đối, trán sần sùi và quan trọng nhất là cặp sừng to, dài, cong vừa và nhọn về nuôi. Nuôi bò chọi đòi hỏi nhiều công phu: thức ăn phải chọn loại cỏ thật tốt và non, ngoài ra còn phải cho ăn thêm các loại thức ăn khô, nhiều tinh bột như ngô, sắn. Bò chọi được nuôi nhốt và không được giao phối với bò cái, khoảng 2 tháng lại cho bò chọi thử một lần để rèn luyện kỹ thuật chọi.

Trước khi diễn ra lễ hội, công tác bảo đảm an toàn cho người xem luôn được chú trọng. Bãi chọi thường được chọn là nơi đất trống, thấp, trũng, có cỏ dày càng tốt. Đến ngày hội, hàng ngàn người dân, du khách thuộc các dân tộc Mông, Mường,Tày trong những bộ trang phục truyền thống sặc sỡ màu sắc… ùn ùn đổ về trung tâm hội thi để xem các chú bò tranh tài.

Các dân tộc Mông, Mường,Tày… trong những bộ trang phục truyền thống sặc sỡ màu sắc…về xem hội thi.
Các dân tộc Mông, Mường,Tày… trong những bộ trang phục truyền thống sặc sỡ màu sắc…về xem hội thi.

Các cặp bò bốc thăm thi đấu, những con thắng ở vòng loại được chọn vào vòng chung kết; ở vòng chung kết cũng tiến hành bốc thăm chia bảng, từng cặp bò thi đấu loại trực tiếp. Bốn con bò chiến thắng cuối cùng sẽ vào bán kết và chung kết để chọn danh hiệu Nhất, Nhì, Ba. Phần thưởng cho những con thắng cuộc chính là sự cổ vũ nhiệt tình của người xem.

Hội chọi bò của đồng bào Mông nơi đây xem như một ngày hội của dân làng, không những ở trong xã mà bà con lân cận khắp nơi từ già đến trẻ dù mưa hay nắng, đi lại khó khăn cũng đến tận mắt chứng kiến.

Khác với lễ hội chọi trâu khi trâu thắng cuộc sẽ bị giết để tế thần linh, còn trong hội chọi bò, những chú bò thắng cuộc sẽ không bị giết thịt mà được gia chủ, người dân trong bản hết sức yêu thương, coi đó là một sự may mắn mang đến nhiều tài lộc cho dân bản trong năm mới.

Ngôi nhà truyền thống của người Mông.
Ngôi nhà truyền thống của người Mông.

Ngôi nhà truyền thống – Nét kiến trúc độc đáo của người Mông, Hà Giang

(TQ-DTV)

Hà Giang là mảnh đất hội tụ của đa dạng nền văn hoá. Đó là mảnh đất của 22 tộc người cư trú và mỗi dân tộc mang đến cho nơi đây một nét văn hoá độc đáo riêng. Trong số đó đặc sắc nhất phải kể đến văn hóa người Mông. Nhắc đến văn hóa người Mông là nói đến kiến trúc độc đáo của những ngôi nhà truyền thống.

Với môi trường sống ở trên các sườn núi cao, khí hậu lạnh khắc nghiệt, đã ảnh hưởng sâu sắc đến kiến trúc nhà ở của người Mông nơi đây. Từ quan niệm sống, môi trường đã hình thành nên nét độc đáo trong văn hóa kiến trúc của ngôi nhà trình, tường bằng đất, lợp ngói hay tranh là phù hợp nhất, với ưu điểm vừa giữ ấm về mùa đông, mát mẻ trong mùa hè và lại có thể chống được kẻ gian, thú dữ…

Đồng bào dân tộc Mông rất chú trọng việc chọn đất làm nhà. Sau khi chọn được đất tốt, đất lành, người ta tiến hành san nền, kê móng, trình tường nhà. Công việc trình tường nhà được bà con dân tộc Mông tiến hành khá công phu với một số quy định như người lạ không được vào khu vực nhà đang trình tường, nhất là phụ nữ. Để trình tường nhà, bà con phải làm những chiếc khuôn gỗ có chiều dài 1,5 m, rộng 0,45 m – 0,5 m. Khi trình tường, người ta đổ đất đầy khuôn gỗ, dùng những chiếc vồ nền chặt đất. Đất dùng để trình tường phải được loại bỏ sạch rễ cây, đá to, cỏ rác. Khi tiến hành trình tường, người ta huy động vài chục thanh niên trai tráng trong làng đến giúp; cứ như vậy khuôn nọ nối tiếp khuôn kia cho đến khi hoàn thành. Sau khi trình tường xong, gia chủ sẽ tiến hành chọn ngày tốt, hợp với tuổi chủ nhà mới được vào rừng chặt hạ cây cột cái, cây đòn nóc.

Kiến trúc ngôi nhà của người Mông tương đối thống nhất theo một khuôn mẫu, dù to hay nhỏ đều phải có 3 gian 2 cửa (gồm một cửa chính, một cửa phụ và tối thiểu là 2 cửa sổ). Ngôi nhà có thể có một hoặc 2 chái nhà, nhưng đều không liên quan trực tiếp đến 3 gian nhà chính. Ba gian nhà chính của người Mông được sắp xếp như sau: Gian bên trái dùng để đặt bếp nấu nướng và buồng ngủ của vợ chồng gia chủ; gian bên phải dùng để đặt bếp sưởi và giường khách; gian giữa thường rộng hơn 2 gian bên và là gian để bàn thờ tổ tiên, đồng thời cũng là nơi tiếp khách, ăn uống của gia đình. Phòng ngủ của vợ chồng, con cái được bố trí riêng. Người Mông thường ngủ bằng phản gỗ hoặc giát bằng tre mai đập giập.

Nhà Trình tường của người Mông.
Nhà Trình tường của người Mông.

Cửa chính nhà của ngưòi Mông cũng phải tìm gỗ tốt để làm, nếu là tre nứa thì phải là thân trúc hoặc mai già. Cửa bao giờ cũng mở vào trong chứ không mở ra ngoài. Người Mông không sử dụng bản lề, then chốt bằng sắt mà hoàn toàn bằng gỗ, bởi người Mông coi cửa mở ra đóng vào là lòng bụng con người, trong khi đó bản lề sắt thép là những vật cứng được ví như dao kiếm. Ngoài cửa chính, nhà của người Mông còn có cửa phụ, là lối để đưa đồ dùng cho người chết vào nhà lúc tang ma. Chỉ khi đưa ra nghĩa địa mới đi qua cửa chính.

Một nét độc đáo nữa trong cấu trúc nhà truyền thống của người Mông là tất cả các ngôi nhà thường được xếp đá xung quanh vô cùng chắc chắn. Để có được hàng rào đá hoàn chỉnh bao quanh ngôi nhà và mảnh đất rộng chừng 200 – 300 m2, gia chủ cùng với người thân phải mất hàng tháng trời nhặt những mảnh đá vỡ quanh nhà về xếp thành hàng rào đá. Những viên đá có kích cỡ khác nhau với nhiều góc cạnh được xếp lèn vào nhau, tạo nên bức tường bao kiên cố, phẳng mà không cần sử dụng chất kết dính nào. Chiếc cổng gỗ có mái và dán giấy đỏ xen giữa bờ rào đá trước nhà, được người Mông trang điểm tạo nên vẻ ấm cúng giữa cái lạnh mùa đông ở Cao nguyên đá.

Cùng với việc làm nhà mới là làm chuồng gia súc. Chuồng gia súc được làm chếch với cửa chính, tuỳ thuộc vào hướng gió. Để làm chuồng gia súc, người ta cũng phải xem tuổi gia chủ, tính ngày tháng rồi mới làm. Người Mông rất yêu quý gia súc, có khi còn làm chuồng gia súc tốt hơn làm nhà ở. Khi làm chuồng gia súc người HMông đều thắp hương cúng ma chuồng, ma trại phù hộ cho gia súc hay ăn chóng lớn, dễ nuôi.

Trải qua hàng thế kỷ, người Mông Hà Giang ngày nay vẫn không ngừng sáng tạo để cải tiến ngôi nhà truyền thống của mình cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, cũng như trong sinh hoạt, lao động sản xuất mà vẫn không quên gìn giữ những nét đặc trưng truyền thống của dân tộc.

Trang phục dân tộc H'Mông.
Trang phục dân tộc H’Mông.

Trang phục dân tộc H’Mông

Trang phục dân tộc H’Mông chủ yếu may bằng vải lanh tự dệt. Đậm đà tính cách tộc người trong tạo hình và trang trí với kỹ thuật đa dạng.

Trang phục nam Hmông độc đáo khác nhiều tộc người trong khu vực; trang phục nữ khó lẫn lộn với các tộc khác bởi phong cách tạo dáng và trang trí công phu, kết hợp kỹ thuật nhuộm, vẽ sáp ong, thêu, ghéo, dệt hoa văn với kiểu váy rộng và đẹp

Trang phục nữ Người H’Mông có nhiều nhóm khác nhau, trang phục nữ các nhóm cũng có sự khác biệt. Tuy nhiên nhìn chung có thể thấy phụ nữ Hmông thường mặc áo bốn thân, xẻ ngực không cài nút, gấu áo không khâu hoặc cho vào trong váy. Ôống tay áo thường trang trí hoa văn những đường vằn ngang từ nách đến cửa tay, đường viền cổ và nẹp hai thân trước được trang trí viền vải khác màu (thường là đỏ và hoa văn trên nền chàm).

Phụ nữ Hmông còn dùng loại áo xẻ nách phải trang trí cổ, hai vai xuống ngực giữa và cửa ống tay áo. Phía sau gáy thường được đính miệng và trang trí hoa văn dày đặc bằng chỉ ngũ sắc. Váy phụ nữ Hmông là loại váy kín, nhiều nếp gấp, rộng, khi xòe ra có hình tròn. Váy là một tiêu chuẩn nhiều người đã dựa vào để phân biệt các nhóm Hmông (Hóa, Xanh, Trắng, Đen… ).

Đó là các loại váy trắng, váy đen, váy in hoa, vẽ sáp ong kết hợp thêu. Váy được mang trên người với chiếc thắt lưng vải được thêu trang trí ở đoạn giữa. Khi mặc váy thường mang theo tạp dề.

Tạp dề mang trước bụng phủ xuống chân là giao thoa giữa miếng vải hình tam giác và chữ nhật; phần trang trí hoa văn là miếng vải hình tam giác cân phía trên, miếng hình chữ nhật là màu chàm đen, kích thước tùy từng bộ phận người Hmông.

Trang phục Nữ người H'Mông.
Trang phục Nữ người H’Mông.

Phụ nữ thường để tóc dài quấn quanh đầu, có một số nhóm đội khăn quấn thành khối cao trên đầu. Đồ trang sức bao gồm khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, vòng chân, nhẫn.

Trang phục truyền thống của phụ nữ Mông gồm áo xẻ ngực, váy, tấm vải che phía trước váy, thắt lưng và xà cạp.

Áo của người phụ nữ (tiếng Mông là so) có cổ phía trước hình chữ V, được nẹp thêm vải màu tuỳ thích; phía sau là một bức thêu hình chữ nhật được trang trí hoa văn rất hài hòa, trang nhã và gắn đồng bạc, tạo âm thanh vui nhộn cho bộ trang phục. Hai ống tay áo thường được thêu hoa văn là những đường vằn ngang với đủ màu sắc từ nách đến cửa tay. Đây là nơi hoa văn tập trung nhiều nhất làm nổi bật chiếc áo của người Mông.

Váy phụ nữ Mông (gọi là Ta) là loại váy mở, có nhiều nếp gấp, rộng, khi xòe ra mềm mại như cánh hoa. Phần cạp váy được khâu xếp lại cho vừa một vòng bụng và có hai dây để buộc. Trên nền váy chàm, hoa văn được thêu, in và ghép từng tấm thật ấn tượng và độc đáo. Phần thêu hoa văn được thực hiện ở nửa dưới của váy.

Hoa văn (tiếng Mông gọi là pàng tau) trong trang phục của người Mông hoa chủ yếu là hoa văn hình học như hình chữ nhật, hình vuông, hình thoi, hình xoáy ốc và thỉnh thoảng có những mô típ hoa văn chưa xác định được như thế này. Những mô típ hoa văn được hình thành trên cơ sở sợi ngang của kỹ thuật dệt trên khung cửi và sau này được lặp lại trong kỹ thuật thêu. Màu sắc chủ đạo được thêu trên váy là màu xanh, đỏ, đen, vàng.

Nói đến trang phuc dan toc của phụ nữ Mông không thể thiếu được “lăng” là chiếc thắt lưng. Trong bộ trang phục của phụ nữ Mông còn có “xế” (tấm vải che trước váy) và “khử lau” (xà cạp quấn chân). Đồng bào Mông quan niệm, đeo “xế” và quấn xà cạp là thể hiện sự ý tứ và kín đáo của người phụ nữ. Phụ nữ Mông thường để tóc dài và quấn vòng quanh đầu rồi đội khăn, tạo nên một sắc thái độc đáo riêng khó nhầm lẫn với các dân tộc khác.

Trang phục Nam người H'Mông.
Trang phục Nam người H’Mông.

Trang phục nam người H’Mông thường mặc áo cánh ngắn ngang hoặc dưới thắt lưng, thân hẹp, ống tay hơi rộng. Aáo nam có hai loại: năm thân và bốn thân. Loại bốn thân xẻ ngực, hai túi trên, hai túi dưới. Loại năm thân xẻ nách phải dài quá mông. Loại bốn thân thường không trang trí loại năm thân được trang trí những đường vằn ngang trên ống tay. Quần nam giới là loại chân què ống rất rộng so với các tộc trong khu vực. Đầu thường chít khăn, có nhóm đội mũ xung quanh có đính những hình tròn bạc chạm khắc hoa văn, có khi mang vòng bạc cổ, có khi không mang.

Không rực rỡ sắc màu, không nổi bật như trang phục phụ nữ, trang phục của con trai người Mông rất độc đáo và riêng có, không bị lẫn lộn với bất cứ dân tộc nào trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Con trai dân tộc Mông mặc quần màu đen, ống rất rộng để có thể leo đồi, núi và múa khèn dễ dàng. Trong trang phục của nam giới người Mông còn có chiếc thắt lưng (còn gọi là lăng dua la) với nhiều ý nghĩa khác nhau.

Trang phục của cả nam và nữ dân tộc Mông đều là do đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ dân tộc Mông làm ra. Với sự cần cù và trí tưởng tượng phong phú, người phụ nữ Mông đã trở thành người nghệ sĩ tạo nên những tác phẩm nghệ thuật làm say đắm lòng người.

oOo

Phim tài liệu: Chợ tình trên cao nguyên Mộc Châu – dân tộc H’Mông:

 

Tết của người H’Mông có gì đặc biệt?:

 

Cuộc Sống Dân Tộc H’Mông:

 

Lễ hội Tu Su dân tộc H’Mông:

 

Nghề dệt lanh của người H’Mông:

 

Chợ tình Sapa với người H’Mông:

 

Chuyện tình Khâu Vai – Hà Giang:

 

Độc đáo trò chơi dân gian người H’Mông:

 

Nhạc cụ dân tộc Mông – Mường Lát – Thanh Hóa:

 

Khèn người H’Mông:

 

Múa khèn dân tộc H’Mong:

 

Tiếng khèn người H’Mông thổi khi đi cưới vợ:

 

Ông vua sáo Mông:

 

Múa Sênh Tiền – Dân tộc H’Mông:

 

Độc tấu Sáo Mông:

 

Độc tấu Sáo Bầu “Xuân về trên bản H’Mông” – nghệ nhân Thào A Tủa biểu diễn:

 

Độc tấu Sáo Mèo “Xuân về trên bản H’Mông” – nghệ nhân Thào A Tủa biểu diễn:

 

Xuân về trên Bản H’Mông – tiếng sáo truyền cảm độc đáo nhất của bé Thào A Tùng cùng sự phụ họa Đàn Môi của một nghệ nhân:

 

Xuân về trên bản Mèo – Sáo Mèo đặc biệt:

 

Xuân về trên bản H’Mông – Nguyễn Thiệp:

 

Sáo và múa dân tộc H’Mong:

 

Điêu múa H’Mông:

 

Múa Dân tộc Mông – Đoàn NT Cao nguyên xanh – Mèo Vạc:

 

Dân Ca H’Mông – Đỉnh Núi Có Hoa Chân Núi Thơm (Bản tiếng Trung):

 

Laaj Tsawb 2014 邹兴兰 Sings”Nkauj Muam Nrau Nus” during “Hmong Int’l Huashan – Hauvtoj Festival 2014” – (Ca sĩ Laaj Tsawb [dân tộc H’Mông] hát bài “Nkauj Muam Nrau Nus” trong “Lễ hội “Hmong Int’l Huashan – Hauvtoj 2014”):

 

Ca sĩ Laaj Tsawb (dân tộc H’Mông) hát bài “”Nkauj Muam Nrau Nus” trong “Lễ hội năm mới 2012”:

 

Một suy nghĩ 3 thoughts on “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca H’Mông/Miêu”

  1. Em rất thích tiếng sáo Xuân về trên bản H’Mông của Thào A Tùng vì giai điệu vừa lãng mạn vừa rộn ràng. Mỗi lần tivi chiếu về người H’Mông là thường phát kèm bản nhạc này nên mỗi lần nghe bản nhạc này là em nhớ đến người H’Mông.

    Em cám ơn chị Phượng. 🙂

    Số lượt thích

  2. Thu Hương ơi,

    Chị cũng mê thích tiếng sáo của Thào A Tùng nhất vì tiếng sáo của em ấy hết sức truyền cảm một cách tự nhiên theo cảm xúc của em chứ không bị gò bó trong kỹ thuật.

    Người trong nghề thường hay dùng từ “lấy hồn người” để ám chỉ những nghệ sĩ/nghệ nhân có khả năng truyền đạt âm thanh làm xao động lòng người một cách xuất sắc. Bé Thào A Tùng nhất định là một nghệ nhân “lấy hồn người” với tiếng sáo độc đáo của em không khó khăn chi hết. 🙂

    Tiếng sáo và khèn bầu của Thào A Tủa cũng rất độc đáo mà chị cũng rất mê thích. Tộc H’Mông may mắn có hai nghệ nhân trẻ tuổi tài cao này quả là một kho tàng vô giá của họ.

    Cám ơn em luôn theo dỏi và chia sẻ cùng chị. Bình an của Cha luôn ở cùng em Hương nghe. XO

    Số lượt thích

  3. Dạ, tiếng sáo và khèn bầu của anh Thào A Tủa cũng rất hay ạ. Nghe thật ma mị.

    Hồi nhỏ em hay chơi trò mặc đồ công chúa và cầm sáo lên thổi (giả vờ thôi ạ, em không biết thổi, hồi cấp 2 có tự học nhưng học không vô 🙂 ), và cũng hình dung mình đang ở giữa núi rừng, có hoa thơm bướm lượn, rồi mình bay bay xuyên rừng xuyên núi kiểu giống trong phim đấy ạ. Cũng vui. 🙂

    Các clip chị giới thiệu làm em cảm thấy rất vui. Em cám ơn chị. 🙂

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s