Nhớ về những năm tháng chiến tranh

Tùy bút Quang Nguyễn
Viết nhân ngày kỷ niệm 40 năm
kết thúc chiến tranh 30.4.1975

Đến 1975, lớp chúng tôi chưa tham gia vào cuộc chiến, chúng tôi còn đi học, căng thẳng theo dòng thời cuộc, và chúng tôi vừa đủ lớn để nhận ra sự tàn khốc của chiến tranh, về cái chết và sự sống, về gia đình, bạn bè và tình yêu .

Hình ảnh của chiến tranh hằn lại trong tiềm thức là những tháng ngày kinh hoàng, đầy hoảng loạn, chúng tôi chưa ra chiến trường, chưa chiêm nghiệm cái tàn khốc lửa đạn, nhưng âm hưởng chiến tranh khắc sâu từng ngày từng giờ, trên trang báo, trên đài vô tuyến, và trong những câu chuyện thì thầm to nhỏ, ở đâu cũng in tì vết chiến tranh.

Trong thời khắc đối mặt với tang tóc, lòng người ai cũng mong mỏi: “Biết bao giờ hết chiến tranh?” Lớp chúng tôi lo lắng tuân thủ theo hướng dẫn của thầy cô giáo, của cha mẹ, anh em và, là thanh niên được tạm hoản thi hành quân dịch, chúng tôi phải chuẩn bị khi có lệnh động viên nhập ngũ.

Trong nhịp điệu hối hả của thời chiến, lớp chúng tôi vẫn rất yêu đời, lãng mạn, không khí chiến tranh tuy căng thẳng, nhưng rất may mắn chúng tôi được học hành tử tế, tự do biểu đạt, mà sau này hay bị phê bình là “ tiểu tư sản”.

Chiến tranh đã làm gia đình chúng tôi di chuyển nhiều lần, gánh gồng khỏi nơi chiến sự, bỏ ruộng vườn ở quê tới vùng di dân mới, rồi chiến tranh lan nhanh, lại di chuyển, cuộc sống tạm bợ, học hành chắp nối, trường đóng cửa tạm ngưng vì chiến cuộc.

Mỗi nhà mỗi cảnh nhưng ít nhà được đoàn viên, ấm cúng. Mẹ già, vợ trẻ, những đứa em nhỏ … mong ngóng người thân trở về từ cuộc chiến, nhà nào cũng có tin, vui buồn lẫn lộn, đầy nước mắt. Và nghĩa trang ngày nào cũng vài xe nhà binh đưa xác người về an táng.

Chiến tranh, phố xá đầy lính trận trở về.

Chiến tranh, đêm nghe còi giới nghiêm, xe công vụ hụ còi, đạn nổ gần xa.

Chiến tranh, mở radio đài bên nào cũng hô bên mình chiến thắng, bên ta vô sự.

Làm người dân trong thời buổi chiến tranh ly loạn, mọi nhà mọi người hằng đêm đều cầu mong Chúa, Phật, Thánh thần, ông bà… cứu rỗi, ban phúc lành, cho đất nước bình yên, cho lòng người từ tâm, thánh thiện…

Hình ảnh của chiến tranh bao trùm lên mọi mặt của đời sống, tất cả dành cho tiền tuyến, người chết rất nhiều, đất nước kiệt quệ, không có hàng hóa, giao thông trắc trở, cầu đường hư hỏng, nhà cửa tạm bợ nghèo nàn, đói ăn, thiếu uống, mọi tiện nghi đều rất xa xỉ…

Nhớ gì ? Đó là những tối bạn bè ngồi tĩnh tâm bên nhau, đắn đo những chuyện chỉ có ở thời chiến…đăng ký ở Trung tâm nhập ngũ ngày nào đây, học hành hãnh tiến sao cam go, đậu tú tài năm nay mình vào được Thủ Đức, bồ phải ra Đồng Đế…

Nhớ gì ? Đó là những lần phải vội vàng về nhà, vì âm vang tiếng súng, tiếng đại bác vọng về, tiếng máy bay quần thảo ngoài xa …phải về nhà, không thì cha mẹ anh em phải đi tìm…

Nhớ gì ? Đó là lúc đi bên người mình yêu thương, cầu mong mai này im tiếng súng…để được…thế này, thế nọ.

Nhớ gì ? Đó là những đêm không ngủ ở gian nhà trú ẩn, mọi người râm ran cầu khấn và các đấng thần linh chắc phải rộng lòng, ở đây họ không còn muốn lạc lõng, phân chia, sự sợ hãi làm họ gần nhau, không sang hèn gì trong hầm trú này mà ngoài kia đạn pháo như mưa…

Nhớ gì ? Đó là những buổi sinh hoạt du ca, những đêm lửa trại của trường, bạn bè khát khao hát những bài ca phản chiến, những bài hát mong đất nước hòa bình, người nông dân được ra đồng cày cấy… những bài hát một thời của những nhạc sỹ tài danh như Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Đức Quang…và nhiều người nữa.

Với riêng tôi, trải nghiệm với chiến tranh, lại là ngững ngày sắp kết thúc cuộc chiến.

Di tản, mẹ tôi chuẩn bị cho mỗi anh em mỗi đứa một bì nhựa, trong đó có hai cây vàng, một tờ giấy ghi vội thông tin của mỗi đứa, địa chỉ người thân ở các nơi, anh em tôi sắp sẵn, mỗi người một ba lô, một bi đông rồi theo cha đi , em út của tôi mới tám tuổi, mắt tròn xoe, không hiểu câu chuyện di tản, cứ khóc mếu, mẹ tôi không đành lòng, quyết liều chia ra hai nhóm, cha tôi đi về Sài Gòn với mấy đứa lớn, mẹ tôi ở lại nhà với hai đứa nhỏ.

Trong dòng người di tản bị tán loạn, tôi thất lạc gia đình, bị một mảnh đạn ngang bụng chảy máu nhiều, may nhờ một Trung úy Biệt Động Quân giúp đỡ khỏi vùng chiến sự. Mấy ngày sau không liên lạc được với ai, tôi rán tìm người khắp các trại tiếp đón, tìm người trên đài phát thanh. Chiến sự lại đến gần, tôi thuê ghe rời Nha Trang khi chợ Đầm còn trong biển lửa, chúng tôi lênh đênh trên biển trong những ngày biển động, rồi được tàu lớn treo cờ Mỹ cứu vớt, tôi một mình lên tàu chở hàng neo đậu ngoài khơi Cam Ranh, một số lính trên tàu làm loạn, họ có vũ khí, chắn cầu thang, cướp và trấn lột thường dân lên tàu, rất nhiều lính khác, hoặc người nào kháng cự liền bị nhóm lính làm loạn đạp thẳng thừng xuống biển, dĩ nhiên tôi đưa hết những gì mình có, bây giờ không theo ý họ, thì ai cũng là Việt Cộng.

Nhờ chút tiếng Anh, tôi được biết có khoảng 50 em bé của một cô nhi viện đang cập tàu, cần đưa lên boong, tôi sẵn lòng giúp, nhanh trí tôi cột cái giỏ cần xế vào dây thừng, rồi cùng người thủy thủ da đen hạ giỏ xuống, tàu thì cao, bên dưới phải hơn mười mét chỉ có vài ba Sơ với lúc nhúc em nhỏ một hai tuổi, nhiều đứa còn phải bế trên tay.

Lúc này có nhiều người đến giúp, nhóm lính làm loạn rút hết lên bên ngoài cabin, Chúng tôi ra hiệu cho các Sơ bỏ từng em một vào giỏ rồi kéo lên, đến khuya công việc tạm ổn, các em bé đã yên ấm bên trong lòng tàu, đêm đó tàu di chuyển, nghe tin từ những người mới đến, Nha Trang, Cam Ranh mất hết rồi…

Ở trên tàu mấy ngày chờ để về Sài Gòn, do có loạn, thủy thủ không ra mặt, không có gì để ăn, đói lã, lại đau mắt do không có nhà vệ sinh, người ta phóng uế ra sàn tàu, cầu thang… nhiều người bắt đầu sốt.

Sau hết tôi được biết, tàu được lệnh ra Phú Quốc. Mấy ngày trước tôi còn hăm hở, bây giờ không leo lên nổi vài bậc thang, tôi đói vô cùng, mắt hoa lên, người bị sốt hầm hập, hai mắt đầy ghèn vàng, không nhìn thấy được gì, tôi nằm lã đi bên hông mạn tàu ngoài khơi bến Dương Đông.

Để lập lại trật tự trên tàu, qua đôi mắt nhòe tôi biết nhóm lính làm loạn bị bắt và xử tử tại chỗ, nhưng không thấy ai trả lại tiền vàng bị mất.

Chúng tôi được đưa lên trại lính bỏ hoang, nhận lương thực, thuốc men. Tôi hồi phục lần, hết bệnh, nghe radio Tổng Thống ra lệnh hạ vũ khí đầu hàng, chúng tôi chẳng ai nói tiếng nào, Sài Gòn thất thủ, chiến tranh kết thúc rồi sao?

Lúc này tôi mới nhận ra mình được một trong các Sơ chăm sóc, nhưng tôi nhầm, người ta không phải Sơ, chưa phải Sơ, người ta mới đi tu học và chưa có lời thề suốt đời phụng sự…

Người ta bỏ tu, đi theo tôi… Tôi cứ tưởng mình ngon, sau này mới biết là mình đã bị chấm rồi, chạy đâu cho thoát. Có ngờ nghệch không ? tôi không biết. Nhưng với tôi, tôi thầm cảm ơn Thượng Đế trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, đã ban cho tôi người bạn đời và là người bạn tốt nhất, tôi biết rằng phải trân quý những phút giây hạnh phúc như thế nào, phải dọn mình sao cho xứng ân sủng của Người .

Quang Nguyễn

 

Một suy nghĩ 3 thoughts on “Nhớ về những năm tháng chiến tranh”

  1. Cảm ơn tác giả Quang Nguyên đã chia sẻ nổi niềm khi nhớ về những năm tháng chiến tranh cũng như sống giây phút hiện tại với tất cả tấm lòng trân quí và tri ân.

    Matta Xuân Lành

    Thích

  2. Em cám ơn anh đã kể lại những năm tháng chiến tranh hoảng loạn đó. Và chung vui với anh khi gặp được người bạn đời và người bạn tốt nhất của mình.

    Chúc anh chị và gia đình luôn bình an.

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s