Trở lại Hoàng Sa

22/01/2015 10:03

(TNO) Bị Trung Quốc đâm chìm tàu, nhưng những ngư dân Việt vẫn tiếp tục đóng tàu mới trở lại ngư trường Hoàng Sa.

Trở lại Hoàng Sa 1
Trở lại Hoàng Sa - ảnh 2Con tàu mới được đóng theo kiểu tàu Thái Lan

Hôm qua (21.1), chiếc tàu cá ĐNa 90657 (thay thế con tàu ĐNa 90152 bị tàu vỏ sắt 11209 của Trung Quốc đâm chìm vào chiều 26.5.2014) của gia đình bà Huỳnh Thị Như Hoa, đã chính thức hạ thủy.

“Không thể phụ lòng bà con”

Trung tuần tháng 1.2015, Hợp tác xã trục vớt, đóng sửa tàu thuyền Bắc Mỹ An, (Q.Sơn Trà, TP.Đà Nẵng) tất bật hơn. Nơi đây không chỉ đông đúc tàu cá sửa chữa chuẩn bị cho năm đánh bắt mới, mà còn có một con tàu đặc biệt đang hoàn thiện lớp sơn phủ cuối cùng. Đó là con tàu công suất 944 CV thuộc loại “khủng” của vợ chồng bà Huỳnh Thị Như Hoa và ông Trần Văn Vốn. Đây là gia đình ngư phủ mà tháng 5.2014, hàng triệu trái tim người Việt đã hướng về khi tàu cá ĐNa 90152 của ông bà bị tàu Trung Quốc truy đuổi và đâm chìm ngay trên vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Trở lại Hoàng Sa - ảnh 3

Ông Trần Văn Vốn sẽ trực tiếp cầm lái con tàu mới

Sau gần 6 tháng ăn ngủ, lăn lộn ngay tại triền đà cùng anh em, ông Vốn đen sạm, nhưng phấn chấn hẳn lên khi con tàu đã thành hình. Trong nhiều hạng mục, ông Vốn lưu ý thợ phải để ông tự tay sơn lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc trên nóc tàu. Con tàu mới này là 1 trong 3 chiếc được thiết kế theo kiểu tàu Thái Lan của ngư dân Đà Nẵng.

Chiều 26.5.2014, tàu cá ĐNa 90152 của bà Huỳnh Thị Như Hoa (38 tuổi, ngụ P.Xuân Hà, Q.Thanh Khê TP.Đà Nẵng) do ông Đặng Văn Nhân làm thuyền trưởng đang hành nghề hợp pháp tại vùng biển Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam thì bị tàu vỏ sắt số hiệu 11209 của Trung Quốc đâm chìm. Rất may 10 ngư dân được tàu cá đi cùng cứu vớt, dù tàu Trung Quốc tiếp tục cản trở việc trục vớt tàu bị nạn nhưng lực lượng Kiểm ngư Việt Nam đã hỗ trợ kịp thời, lai dắt về Đà Nẵng. Theo bà Hoa, con tàu ĐNa 90152 gia đình bà mua lại năm 2003 với giá 2 tỉ đồng, khi đó công suất chỉ 150 CV nhưng sau đó được nâng lên 450 CV.

“Ban đầu định đóng kiểu tàu cũ, tham khảo nhiều thì thấy kiểu tàu Thái Lan hiện đại hơn, hỏi anh em bạn nghề họ cũng ưng ý nên tháng 8.2014, tui vô tới Vũng Tàu tìm thợ thầy, thuê công ty thiết kế, chọn công nhân tay nghề cao ra đóng, chọn thêm thợ giỏi ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. Quyết định lấy kiểu tàu Thái Lan nhưng có điều chỉnh thiết kế vài chỗ theo kinh nghiệm của tui”, ông Vốn tự hào.

Ông nhẩm tính, con tàu cùng ngư lưới cụ trị giá đến 7,3 tỉ đồng, nếu tính cả chi phí phát sinh thì phải 8 tỉ, là con tàu tốn kém nhất của gia đình ông. Đó là lắp máy cũ, chứ nếu máy mới thì chi phí còn đội lên cao hơn.

“Hồi đó mọi người khuyên chờ Nghị định 67 của Chính phủ có hiệu lực để được vay vốn ưu đãi, nhưng tui nghĩ, ngư dân ai cũng chờ Nhà nước hỗ trợ rồi mới đóng tàu thì lấy ai mà ra Hoàng Sa, nhà tui 3 đời ngư dân rồi, có chờ đâu, mình cứ bám biển thì biển không phụ đâu”, bà Hoa quả quyết. Cũng do con tàu sử dụng máy cũ nên nên không thuộc diện xét cho vay theo Nghị định 67, tuy nhiên bà Hoa nói là làm, và tháng 8.2014 vợ chồng bà bắt tay đóng tàu.

Điều vợ chồng ông Vốn, bà Hoa hạnh phúc nhất, là tuy vốn liếng của gia đình chỉ có 3 tỉ đồng, nhưng nhận được tấm lòng, sự hỗ trợ của đông đảo người dân trong và ngoài nước. Vừa qua UBND TP.Đà Nẵng cũng đã cho bà vay vốn ưu đãi 4,3 tỉ đồng, nên đôi vợ chồng này có thể lo được cho con tàu mới ra khơi.

“Hồi tàu ĐNa 90152 bị đâm chìm, vợ chồng tui được rất nhiều người động viên, có người ở nước ngoài cũng gọi điện chia sẻ. Mình không thể phụ tấm lòng của bà con nên phải sớm đóng tàu trở lại Hoàng Sa. Tui đóng trước, xin sau là vì đó”, bà Hoa nói.
 
“Bây chừ đi biển là để khẳng định…”

“Nếu được phép, tôi sẽ lấy lại số hiệu ĐNa 90152 cho con tàu mới này, mặc dù biết điều đó là rất khó trong đăng kiểm. Số hiệu đó đã trở thành một phần lịch sử của đất nước, đặc biệt là anh em ngư dân từng thoát chết sau vụ bị tàu Trung Quốc đâm chìm, đều sẽ trở lại đi với tôi trên con tàu này” – ông Trần Văn Vốn.

Không chỉ vợ chồng ông Vốn, bà Hoa mà ngư dân trên tàu ĐNa 90152 đều rất kiên quyết trở lại Hoàng Sa. Phụ ông Vốn đóng tàu mới còn có máy trưởng ĐNa 90152 Hồ Ngọc Pháp (46 tuổi, ngụ Q.Thanh Khê). Gặp ông sau khi ông kiểm tra đôi máy 944 CV xong, ông Pháp đùa rằng đã thoát chết một lần có nghĩa là Diêm vương đã “chê” rồi nên ông không sợ.

“Sau khi được tàu ĐNa 90508 của anh Nguyễn Đình Sinh cứu lên, bọn tui không sợ mà uất ức tràn trong lòng. Về bờ, vợ con ôm tui khóc, tui nạt “nín”, vài bữa sau tui dọt lên tàu anh Sinh tiếp tục trở lại Hoàng Sa đánh bắt coi tụi tàu Trung Quốc làm được chi”, ông Pháp tức giận.

Còn thuyền trưởng ĐNa 90152 Đặng Văn Nhân cũng chỉ nằm nhà 3 tháng, “máu biển” sục sôi nên ông chấp nhận làm thuê cho một tàu cá để trở lại Hoàng Sa.

Mấy ngày qua, anh em tàu ĐNa 90152 í ới a lô nhau bàn chuyện gặp mặt một bữa rồi theo ông Vốn đi con tàu mới ra lại ngư trường cũ. Ngư dân Lê Văn Hà từng đi tàu ĐNa 90152 đang đi bạn với một tàu cá khác, cũng đã trở về để xin đi tàu ông Vốn khi biết tàu sắp hạ thủy.

Ông Vốn hồ hởi khoe với mọi người con tàu dài 22 mét, rộng 6,2 mét, cabin cao 3,5 mét, tuy không phải thuộc dạng to nhất như các tàu vỏ thép dài đến 25 – 30 mét, nhưng con tàu này được thiết kế chắc chắn với nhiều lớp gỗ sến dày cui tổng cộng gần 120 m3, riêng tiền gỗ bay đứt gần 2 tỉ bạc, lớp thân vỏ chắc nịch này có thể cho tàu tuổi thọ đến 40 năm, “chấp” sóng gió cấp 10 – 11 mà không “xi nhê” gì.

“Nếu được phép, tôi sẽ lấy lại số hiệu ĐNa 90152 cho con tàu mới này, mặc dù biết điều đó là rất khó trong đăng kiểm. Số hiệu đó đã trở thành một phần lịch sử của đất nước, đặc biệt là anh em ngư dân từng thoát chết sau vụ bị tàu Trung Quốc đâm chìm, đều sẽ trở lại đi với tôi trên con tàu này”, ông Vốn nói.

Trở lại Hoàng Sa - ảnh 4

Ông Trần Văn Vốn sẽ trực tiếp cầm lái con tàu mới

Đặc biệt hơn nữa, ông Vốn – từng lấy bằng thuyền trưởng từ tuổi 19 – sẽ đích thân cầm lái con tàu sau 2 năm không đi biển. “Anh em đi trên con tàu của mình đã suýt bỏ mạng bởi sự bất nhơn của tàu Trung Quốc, thì mình không có lý do chi để không sát cánh với bạn chài ở ngư trường Hoàng Sa. Từ nay mình phải trực tiếp cầm lái, cũng giống như là để trả nợ bạn tàu, vì họ từng bất chấp sống chết để bảo vệ tàu của vợ chồng tui”, ông Vốn khẳng định.

“Ngày xưa cả 5 anh em nhà tui đều đi biển vì nghèo quá, nhưng bây chừ đi biển là để khẳng định sự có mặt của bọn tui tại ngư trường Hoàng Sa của nước ta”, ông Vốn kiên quyết.

Trong ngày hạ thủy tàu, bà Hoa chia sẻ trong niềm vui: “Ban đầu gia đình tui quyết đóng tàu trong thời gian ngắn hơn chứ không phải 6 tháng như bây chừ, nhưng kẹt vốn nên kéo dài, điều hơi tiếc là không kịp ra khơi trước Tết. Khi đóng tàu bọn tui cũng không trông chờ vào việc vay vốn ưu đãi của Nghị định 67 hay nguồn vốn vừa được UBND TP.Đà Nẵng phê duyệt, vì trước nay gia đình cũng đã làm và tui tin nếu bám biển thì biển không phụ người”.

“Việc đưa tàu ĐNa 90657 trở lại Hoàng Sa không chỉ giải quyết việc làm cho 10 anh em bạn tàu từng đi tàu ĐNa 90152 thất nghiệp suốt nửa năm qua. Vì gia đình tui ý thức rằng, con tàu không chỉ của bọn tui, không chỉ đại diện cho ngư dân Đà Nẵng mà đại diện cho ngư dân Việt Nam ở bất cứ đâu. Để mọi người thấy là dù từng bị Trung Quốc đâm chìm tàu nhưng bọn tui không sợ, bọn tui vẫn đóng tàu mới để ra biển trở lại. Nếu không trở lại Hoàng Sa sớm thì Trung Quốc nghĩ ngư dân mình sợ, từ đó sẽ làm tới”, bà Hoa khẳng định.

Từ cuối tháng 5.2014, đến âu thuyền Thọ Quang hỏi “tàu bà Hoa” thì không ai không biết. Tên gọi này đã trở nên quen thuộc bên triền đà khi rất nhiều người dân, du khách, tổ chức, đoàn thể tìm đến thăm hỏi, động viên…

Tên gọi đó từ lâu đã không còn là của riêng tàu cá ĐNa 90152, mà trở thành tên chung cho những con tàu thẳng tiến ra Hoàng Sa, minh chứng cho quyết tâm của ngư dân Việt bao đời vẫn quyết bám giữ để đòi lại ngư trường của cha ông.

Hiến tặng tàu làm bằng chứng

 

Sau khi tàu cá ĐNa 90152 được lai dắt về bờ trong tình trạng nửa chìm nửa nổi, bà Hoa đã không chần chừ, quyết định hiến tặng con tàu cho UBND huyện Hoàng Sa, mặc dù trước đó UBND huyện Hoàng Sa đã có ý đề xuất thành phố trích ngân sách mua lại tàu. UBND huyện Hoàng Sa cũng đã quyết định sẽ trưng bày con tàu lịch sử này tại Nhà trưng bày Hoàng Sa, công trình sẽ được khởi công vào 30.4 tới đây, để làm bằng chứng tố cáo tội ác của Trung Quốc.
Trở lại Hoàng Sa 9
Tàu ĐNa 90152 được đưa vào bờ trong tình trạng “nửa chìm, nửa nổi” vào tháng 6.2014

 

Nguyễn Tú

>> Người quản nội trưởng trên khu trục hạm HQ-4
>> Hải chiến Hoàng Sa 1974: Sống chết gạt bỏ sang một bên
>> Hải chiến Hoàng Sa 1974: Căm phẫn vì lẽ cạn tình
>> Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974

One thought on “Trở lại Hoàng Sa”

  1. Em cám ơn anh Tú đã thực hiện một bài viết nhiều cảm xúc.

    Ngư dân miền Trung đang phải đối mặt quá nhiều khó khăn khi đi biển, vì cuộc sống mưu sinh và cũng vì vùng biển của đất nước.

    Em cám ơn anh và các đồng nghiệp đã nỗ lực hết mình để truyền đi thông điệp bảo vệ đất nước, bảo vệ từng người dân nước mình.

    Em cũng gửi đến anh và cả nhà phim “Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát”. Em mong là cùng nhau, chúng ta sẽ góp phần giúp ngư dân Việt được tự do đánh bắt trên vùng biển của cha ông mình.

    Em Hương,

    *****

    Phim “Hoàng Sa VN: Nỗi đau mất mát”:

    *****

    http://www.thanhnien.com.vn/hoang-sa-truong-sa-cua-viet-nam/hoang-sa-viet-nam-noi-dau-mat-mat-399540.html

    Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát
    09/07/2011 22:12

    André Menras (Hồ Cương Quyết), người mang hai quốc tịch Việt – Pháp, Chủ tịch Hiệp hội trao đổi sư phạm Pháp – Việt (ADEP), vừa thực hiện xong bộ phim tài liệu Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát tại Lý Sơn và Bình Châu.

    Ngày 28.6 vừa qua, tại Paris, lần đầu tiên phim được chiếu cho cộng đồng những người bạn Pháp ủng hộ Việt Nam và kiều bào xem trong buổi tọa đàm “Thách thức địa chiến lược ở Đông Nam Á và những tranh chấp ở biển Đông”. Tọa đàm do Hội Hữu nghị Pháp – Việt (AAFV), Hội Người Việt Nam tại Pháp (UGVF) và một số hội đoàn phối hợp tổ chức. Nhân dịp này, Thanh Niên thực hiện cuộc phỏng vấn André Menras về bộ phim do chính ông viết kịch bản và đạo diễn.

    Ý tưởng thực hiện bộ phim về ngư dân ở vùng đảo Lý Sơn và Bình Châu đến với ông từ lúc nào? Điều gì thôi thúc ông thực hiện cuốn phim này?

    Năm 2006, qua báo chí Việt Nam, tôi đọc được nhiều trường hợp ngư dân Việt Nam đánh bắt cá tại vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam đã bị các tàu đánh cá, tàu quân sự của Trung Quốc uy hiếp và bắt, tịch thu tàu thuyền, dụng cụ làm nghề bắt cá, đòi tiền chuộc đến tán gia bại sản. Tôi đi từ tâm trạng ngạc nhiên đến phẫn nộ, nhiều đêm không ngủ được. Tôi đã liên tục theo dõi thông tin, thực hiện các nghiên cứu tìm tòi và ngày càng cảm thấy lo ngại về tình trạng này. Vì thế, tôi đã quyết định phải dấn thân vào việc bảo vệ các ngư dân vì tôi nghĩ rằng, bảo vệ ngư dân cũng là bảo vệ độc lập và chủ quyền của Việt Nam. Và rồi, tôi quyết định làm một phóng sự về họ.


    Ông André Menras phỏng vấn vợ một ngư dân mất tích, trước ngôi mộ gió ở Bình Châu (Quảng Ngãi) – Ảnh: Lê Hưng

    Tôi đã lên kế hoạch ra khơi đánh cá cùng các ngư dân ở đảo Lý Sơn và đã đến đảo 2 lần nhưng đều không thực hiện được, dù biên phòng tại đảo không cấm trực tiếp, dù một số ngư dân ủng hộ kế hoạch của tôi hết mình. Tuy nhiên, tôi biết, vì một lý do nào đó nên họ đã từ chối cho tôi đi cùng. Lần thứ 3 tôi đi Bình Châu (cũng trong năm 2011 này), được một người bạn giới thiệu gặp một ngư dân tại đó. Tôi đã có những ngày cùng sống, trò chuyện, ăn cơm với gia đình ngư dân tốt bụng này, tuy nhiên tôi vẫn chưa thể thực hiện giấc mơ ra vùng biển Hoàng Sa, có thể do người ta lo lắng cho sự an toàn của tôi chăng. Trở lại Lý Sơn lần nữa, tôi gần như trở thành vị khách quen thuộc của cư dân đảo, họ hiểu tình cảm cũng như tấm lòng của tôi đối với những mất mát của gia đình ngư dân ở đây. Cuối cùng, tôi đã được một số bạn Việt Nam yêu nước giúp đỡ, trở về Lý Sơn lần thứ tư để thực hiện bộ phim Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát.

    Ngoài những nhân vật chính trong phim là bà vợ góa, những đứa trẻ có chồng/cha là ngư dân mất tích ngoài biển, thông điệp nào ông muốn chia sẻ ở bộ phim này?

    Tôi không cầm được nước mắt khi nghe ngư dân Tiêu Viết Là kể từng bị tàu Trung Quốc bắt 4 lần, bị đánh đến thương tật, bị giam giữ, đòi tiền chuộc đến phá sản và nay còn nợ 400 triệu đồng. Nhưng anh vẫn hồn nhiên nói: Hoàng Sa gần đây lắm, làm sao không nhớ, là một phần của quê hương Việt Nam mà

    Vấn đề ngư dân ở Bình Châu, Lý Sơn nói riêng và ngư dân ở miền Trung nói chung đều có những hoàn cảnh hết sức éo le, đau khổ. Cần sự đồng tâm, đồng lòng của người Việt ở trong và ngoài nước quan tâm giúp đỡ, bởi họ là bằng chứng sống động nhất khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam tại vùng biển Đông Nam Á. Điều tôi muốn nói ở đây là gì ? Đằng sau những mất mát, những số phận con người là khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển đảo của mình. Đây là vấn đề lớn và cấp bách.

    Qua phim này, tôi muốn cho mọi người thấy rõ sự thật hằng ngày của ngư dân Bình Châu và Lý Sơn. Sự thật đó chính là nỗi đau, nỗi sợ hãi, sự phản kháng, niềm kiêu hãnh, đó chính là lòng dũng cảm, tình yêu nước của họ. Thông điệp đó rất rõ ràng: “Hãy nhìn những người này, nhìn sự đau khổ của họ, nhìn thấy họ bám víu vào biển để sống ra sao. Hãy nhìn xem họ đã sống kiên định thế nào, họ xứng đáng được giúp đỡ, được ủng hộ và bảo vệ!”. Từ kết quả này, tôi muốn lập một quỹ đoàn kết, trước mắt là với những gia đình ngư dân ở vùng biển Địa Trung Hải quê hương tôi, hỗ trợ các ngư dân ở miền Trung, đặc biệt vùng Bình Châu và Lý Sơn.

    Điều gì khiến ông ấn tượng nhất khi thực hiện bộ phim này?

    Dù tôi đã được nghe kể về những hoàn cảnh, mất mát của các gia đình ngư dân trên đảo, dù tôi đã nhận được nhiều lá thư viết vội của các cháu mồ côi cha gửi đến tôi, khi biết tôi là Chủ tịch ADEP, tuy nhiên, lúc trực tiếp phỏng vấn làm phim, tôi không cầm được nước mắt. Những bà vợ góa mất chồng, những đứa trẻ mất cha trên biển, kể lại với tôi hoàn cảnh gia đình bằng những câu đứt quãng rất xúc động. Họ ra biển ngóng chồng mỗi chiều dù chồng biệt tích cả nửa năm, 1 năm qua. Hết kiên nhẫn, họ trở về dựng những ngôi mộ gió và ngày đêm nhang khói đều đặn. Điều gì khiến họ làm điều đó? Đó là sức mạnh của niềm tin. Họ có tình yêu nước, tinh thần không nhượng bộ, tinh thần đoàn kết và sự chung thủy rất đẹp của con người.

    Tôi hỏi ông Bùi Thượng, năm nay đã 73 tuổi, được mệnh danh là “vua lặn” của đảo Lý Sơn: “Theo ông, cái nguy hiểm nhất trong nghề đi lặn là gì?”. Ông Thượng nói: “Là khi gặp con cá mập lớn, mình đừng vội bỏ chạy, phải nhìn trừng vào mặt nó, nó sẽ không tấn công mình…”. Câu trả lời của ông Thượng khiến tôi liên tưởng đến hoàn cảnh Việt Nam những khi gặp kẻ mạnh uy hiếp, gây hấn: “Hãy nhìn trừng vào con cá mập” để tồn tại! Có một chi tiết khiến tôi và anh em quay phim không cầm được nước mắt khi nghe ngư dân Tiêu Viết Là (Bình Châu) kể từng bị tàu Trung Quốc bắt 4 lần, bị đánh đến thương tật, bị giam giữ, đòi tiền chuộc đến phá sản và nay còn nợ 400 triệu đồng. Nhưng anh vẫn hồn nhiên nói: Hoàng Sa gần đây lắm, làm sao không nhớ, là một phần của quê hương Việt Nam mà”.

    Kế hoạch cụ thể của ông với bộ phim Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát như thế nào?

    Ngày 28.6 vừa qua, bộ phim được chiếu tại buổi tọa đàm “Thách thức địa chiến lược ở Đông Nam Á và những tranh chấp ở biển Đông” cho đông đảo bạn bè Pháp, cộng đồng người Việt tại Paris và vùng phụ cận xem. Tọa đàm này do Hội Hữu nghị Pháp – Việt (AAFV), Hội Người Việt Nam tại Pháp (UGVF) và một số hội đoàn phối hợp tổ chức. Những hình ảnh chân thực của phim tài liệu dài 56 phút này đã khiến nhiều người xem rất xúc động. Tôi cho là bước đầu công chiếu rất tốt. Tôi có một kế hoạch ngắn hạn là trình chiếu tại Pháp, trên kênh truyền hình Pháp nhằm lập một quỹ đoàn kết giúp những người vợ góa, những đứa trẻ mồ côi và những ngư dân mất tài sản có thể tiếp tục bám biển, tiếp tục tự hào là ngư dân Việt Nam ở các vùng biển miền Trung. Song song đó, tôi cũng mong bản phim tiếng Việt được chiếu tại Việt Nam càng sớm càng tốt. Đây là vấn đề cấp bách lắm rồi!

    Ông tin vào hiệu quả của phim?

    Nếu không có niềm tin thì không làm. Đây không phải là phim hoàn hảo về kỹ thuật, về nội dung, nhưng nó là tấm lòng của tôi, của những người bạn đã hỗ trợ tôi một cách chuyên nghiệp để quay và dựng phim trong thời gian rất ngắn. Cách đây hơn 40 năm tôi đã treo ngọn cờ của kháng chiến quân ngay giữa lòng Sài Gòn bị chiếm đóng như một sự phẫn nộ, một lời tố cáo sự tàn bạo của kẻ xâm lược, một hành động đoàn kết với nhân dân Việt Nam. Nay, tôi xem bộ phim này như một ngọn cờ nhỏ của sự đoàn kết. Tôi tin ngọn cờ này sẽ kêu gọi nhiều ngọn cờ khác, vì không một con người văn minh nào chấp nhận được nạn bạo quyền, gây hấn ở thế kỷ 21 này. Bộ phim là tiếng nói chống lại sự áp bức để tôn trọng con người, tôn trọng quyền của các dân tộc. Và những việc làm của các bạn, của tôi lúc này đã góp phần nhỏ trong tiếng nói chính đáng đó!

    Ngự Hà
    (thực hiện)

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s