Bôxít Tân Rai trước ngày chạy thử
SGTT.VN 10.10.2012 – Trong tháng 9.2012, viện CODE (thuộc liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam) đã mời đoàn chuyên gia khai khoáng đi thị sát tình hình thi công và chuẩn bị vận hành của hai dự án alumin tại Lâm Đồng và Dăk Nông.
|
TS Nguyễn Thành Sơn. Ảnh: Chí Hiếu
|
Chuyến đi kết thúc, phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị đã có cuộc phỏng vấn TS Nguyễn Thành Sơn, thành viên của đoàn, giám đốc ban quản lý các dự án than đồng bằng sông Hồng thuộc tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (Vinacomin).
Những con số đáng báo động
Thưa ông, những gì nhìn thấy ở hai dự án Tân Rai, Nhân Cơ mới đây có gì khác với những điều ông hình dung trước kia về chương trình alumin không?
Những điều quan trọng nhất thì chẳng có gì “khác” cả. “Bùn đỏ” – vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm, vẫn được thải bằng công nghệ “ướt” rẻ tiền và nhiều rủi ro. Hồ bùn đỏ ban đầu cũng đã chiếm quá nhiều diện tích thuộc loại “bờ xôi, ruộng mật”. Công nghệ Trung Quốc lạc hậu thì ngày càng rõ (phân xưởng khí hoá than sử dụng công nghệ của những năm 60 (thế kỷ 20 – PV) và phải dùng than cục tốt của Hòn Gai loại 4A). Nhà thầu Trung Quốc dây dưa, dự án chậm tiến độ cũng chẳng có gì là mới. Tổng mức đầu tư đã tăng lên (vốn “thử nghiệm” hai dự án đã gần 1,5 tỉ đôla Mỹ) cũng chẳng làm ai ngạc nhiên.
Qua chuyến khảo sát, ông thấy điều gì đã cản trở tiến độ dự án?
Nhà thầu nước ngoài chưa chịu bàn giao phần việc của mình chỉ là lý do chậm tiến độ. Khâu “tắc” nhất của dự án Tân Rai bây giờ là phần việc mà chủ đầu tư đảm trách – khâu tuyển bôxít sau khi khai thác, trước khi đưa vào luyện thành alumin. Việc đơn giản, dễ làm nhất là thiết kế dây chuyền tuyển bôxít. Công việc này được ưu tiên chỉ định cho “nội lực” là viện Khoa học công nghệ mỏ của Vinacomin triển khai. Bãi thải quặng đuôi – một hạng mục lẽ ra chẳng có gì đáng bàn, nhưng được các “nhà khoa học” của viện Khoa học công nghệ mỏ thiết kế còn rủi ro hơn bãi thải bùn đỏ của nhà thầu Trung Quốc. Nước thải đầu ra của xưởng tuyển được thải trực tiếp vào nguồn nước đầu vào (đầu ra của bể “phốt” chính là bể nước ăn), v.v. Tổng đầu tư cho xưởng tuyển bôxít này khoảng 300 tỉ đồng, việc xây lắp đã hoàn tất từ lâu, nhưng tư vấn thiết kế vẫn đang tiếp tục “nghiên cứu thí nghiệm” để “hiệu chỉnh thiết kế” ở Hà Nội… Vinacomin cần làm rõ trách nhiệm nội bộ trước khi đổ lỗi cho người ngoài.

Tại thời điểm này, bài toán kinh tế về tổng thể của các dự án alumin Việt Nam có thể nhẩm tính ra kết quả lỗ lãi thế nào, thưa ông ?
Dự án Nhân Cơ chưa xong, chưa có cơ sở để tính toán. Dự án Tân Rai đã gần như hoàn tất, nhưng chậm tiến độ gần hai năm, có thể “nhẩm” được bài toán đơn giản nhất như thế này: chậm tiến độ một năm, riêng lãi suất huy động vốn trong quá trình xây dựng (IDC) đã làm tăng tổng mức đầu tư thêm gần 1.100 tỉ đồng.
Khi đi vào hoạt động, giả sử trường hợp lý tưởng: tổng vốn đầu tư đã được điều chỉnh của Tân Rai chỉ dừng lại ở mức 15.600 tỉ đồng, lãi suất huy động vốn tạm tính 7%/năm, thời gian huy động vốn là mười năm, trả vào cuối kỳ, riêng chi phí hoàn trả vốn đầu tư (cả gốc và lãi) đã lên tới 2.220 tỉ đồng/năm.
Nếu đạt 100% công suất thiết kế (0,6 triệu tấn/năm), mỗi năm nhà máy sẽ phải tiêu dùng khoảng: 1,2 triệu tấn bôxít qua tuyển (khai thác tại chỗ); 0,4 triệu tấn than cám (giá FOB tại Quảng Ninh khoảng 1,6 triệu đồng/tấn); 0,2 triệu tấn than cục (giá FOB tại Quảng Ninh khoảng 4 triệu đồng/tấn); khoảng 0,1 triệu tấn hoá chất và đá vôi (vận chuyển ngược từ xa tới), v.v. Nếu tính “vo”, tổng chi phí vận hành khoảng 2.500 tỉ đồng/năm. Như vậy, giá thành alumin xuất xưởng tại Tân Rai thấp nhất cũng khoảng 375 USD/tấn.
Tôi đã tham khảo giá nhôm trên thế giới và có nhận định: nếu giá nhôm kim loại trên thế giới năm 2013 sẽ đạt mức 2.300 USD/tấn, thì giá xuất khẩu alumin của Vinacomin ở ven biển tối đa khoảng 345 USD/tấn. Như vậy, nếu tính chi phí tiêu thụ (vận chuyển, bốc – dỡ, hao hụt) khoảng 25 USD/tấn và thuế xuất khẩu theo quy định là 20%, thì mỗi tấn alumin sẽ lỗ khoảng 124 USD, Vinacomin lỗ 74,4 triệu USD/năm. Trong trường hợp “thuận buồm xuôi gió” nhất (được miễn cả thuế xuất khẩu – và ngân sách tạm thời chưa nộp ngân sách), mỗi tấn alumin sẽ lỗ ít nhất 55 USD, và mỗi năm Vinacomin lỗ ít nhất 33 triệu USD.

Tây Nguyên, “vốn để dành”
Theo ông, quyết tâm làm alumin theo cách hiện nay sẽ dẫn đến những hệ quả gì đối với Tây Nguyên và cả nước?
Đối với Tây Nguyên và cả nước, còn cần phải tính đến vấn đề sinh thái. Hậu quả về sinh thái nguy hiểm hơn nhiều, nhưng bây giờ chưa thể hiện. Còn đối với Vinacomin, nếu cứ quyết tâm làm thử nghiệm đến cùng thì bôxít sẽ gặp phải những thiệt hại kinh tế. Khoảng 99,36% lợi nhuận thu được để Vinacomin đầu tư vào các dự án kinh doanh đa ngành (trong đó có các dự án bôxít – alumin) có nguồn gốc từ ngành than. Nếu ngành than bị mất vốn đã đầu tư vào bôxít, và trong tương lai vẫn phải tiếp tục “gánh” lỗ cho bôxít (74,4 triệu USD/năm như phân tích ở trên), thì bôxít còn ảnh hưởng lan toả đối với cả nền kinh tế.
Cảm tưởng của ông sau chuyến đi?
| Ngày 1.11.2012 nhà máy chạy thửChiều 5.10, làm việc về dự án bôxít Tân Rai (huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng), thứ trưởng bộ Công thương Lê Dương Quang yêu cầu tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) và ban quản lý dự án bôxít Tân Rai chốt mốc cuối cùng chạy thử nhà máy alumin vào ngày 1.11. Mốc thời gian vận hành nhà máy được ban quản lý dự án công bố, liên tục dời nhiều lần, từ tháng 4, tháng 6, tháng 10.2012. |
Buồn nhiều hơn vui. Buồn vì những cảnh báo của các nhà khoa học cách đây 3 – 4 năm đang dần trở thành đúng. Bởi, sau khi Vinacomin quyết tâm làm, đẩy tổng vốn thử nghiệm của cả hai dự án lên tới 1,5 tỉ đôla Mỹ thì trong thâm tâm, tôi cũng phải cầu mong cho việc thử nghiệm thành công. Rất tiếc, việc triển khai dự án đến nay đã cho thấy rõ kết quả như dự báo ban đầu là: chậm tiến độ một cách toàn diện, vốn đầu tư tăng toàn diện… Cả hai dự án thử nghiệm đang trong tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”. Kể cả bây giờ, tôi vẫn muốn khuyên Vinacomin hai điều: thứ nhất, dũng cảm xin Chính phủ cho dừng dự án Nhân Cơ, chờ thử nghiệm Tân Rai “trót lọt”, nếu có hiệu quả hãy triển khai tiếp Nhân Cơ; và thứ hai, hãy tập trung nguồn lực (vốn, thời gian, cán bộ…) để phát triển ngành than ở Quảng Ninh. Trong tình cảnh của Vinacomin bây giờ, tiết kiệm được 1 đồng, giảm tổn thất được 1 đồng cũng quý (dừng Nhân Cơ cũng tiết kiệm được vài trăm triệu đôla Mỹ). Còn trong tình cảnh chung của đất nước: không có alumin thì Tây Nguyên vẫn phát triển được, còn thiếu than thì cả nền kinh tế sẽ gay go.
Ông có suy tư gì sau chuyến đi vừa qua?
Chúng tôi đã “rong ruổi” ba ngày từ Buôn Ma Thuột, ghé Nhân Cơ, thăm Tân Rai rồi xuống Kê Gà (Bình Thuận). Chúng tôi quan sát, đánh giá và gặp gỡ những người có trách nhiệm. Điều có thể nhận thấy là các dự án bôxít sẽ triệt tiêu rất nhanh và rất mạnh các nguồn tài nguyên đất, tài nguyên nước, và tài nguyên sinh học của Tây Nguyên. Trước hay sau, sớm hay muộn chúng ta cũng phải “loại bôxít ra khỏi tiềm năng kinh tế của Tây Nguyên”, như tôi đã đề nghị cách đây 23 năm trong bài viết trên tạp chí Năng Lượng (số 11/1989).
Về mặt chiến lược phát triển đất nước lâu dài, tài nguyên thiên nhiên (đất, nước và sinh học) của Tây Nguyên quý hơn vạn lần tài nguyên khoáng sản (bôxít). Nếu được quy hoạch và tổ chức tốt, Tây Nguyên có đủ nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên để phát triển một cách bền vững.
Hoàng Nguyên (thực hiện)
ÔNG TIẾN SĨ MỎ CHUYÊN “LỘI NGƯỢC DÒNG”
Hoàng Thiên Nga thực hiện
9/4/2009
Một trong những nhà khoa học đau đáu nỗi niềm nhất về việc nên hay khoan khai thác Bauxte ở Tây Nguyên, có một cán bộ thuộc TKV. Trong cuộc hội thảo khoa học chuyên đề bauxte tổ chức ở Đắk Nông, người ta bỗng thấy ông tiến sĩ “hay cãi sếp” này rớm lệ khi nhà văn Nguyên Ngọc đăng đàn trích dẫn nội dung ông đã phản biện để thiết tha xin giữ lại một Tây Nguyên trong lành, nguyên sơ …
“Trích ngang” về tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn
– 1977 Tốt nghiệp chuyên ngành mỏ ĐH BK Taskent, Liên Xô.
– 1977-1982: Chuyên viên Vụ Kế hoạch Bộ Điện Than
– 1982-1986: Chuyên viên Ban Thư ký COMECON
– 1986 lấy bằng Tiến sỹ, ĐH Mỏ Moscow, Nga
– 1986-1993: Trưởng ban Biên tập Tạp chí Năng Lượng Bộ Năng lượng
– 1993-1994: Cố vấn kỹ thuật XN Thăm dò Khảo sát Thiết kế, Bộ NL
– 1994-2000: Phó GĐ, Giám đốc Cty Tư vấn Đầu tư Điện Than, TVN
– 1996 : Chương trình quản trị kinh doanh dành cho cán bộ cao cấp, Trường quản trị kinh doanh Amos Tuck ĐH Dartmouth Hoa Kỳ,
– 2000-2002: Trưởng Ban Phát triển các dự án điện, TVN
– 2005-2007: Trưởng Ban Chiến lược Phát triển và KHCN, TKV
– 2007- nay : Trưởng ban Phát triển bể than ĐBSH, hiện là giám đốc Cty Năng lượng Sông Hồng, TKV.

PV- Xin chào tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn. Con đường nào đã khiến anh chọn nghề khai thác mỏ và thành người gắn bó, có lẽ suốt đời, với ngành này ?
Ts Nguyễn Thành Sơn: Tôi thi đại học khóa 1971 – khóa thi đầu tiên thời Bộ trưởng Tạ Quang Bửu sau một thời gian chỉ xét tuyển- do điểm cao nên được chọn đi học ở Liên Xô. Tôi học tiếng Nga năm đầu tiên ở thành phố Bacu, tại trường Dầu & Hóa mang tên Azinhecoba. Kết thúc khoa dự bị với toàn điểm 5, tôi không lựa chọn ngành mình thích theo quy định mà chỉ tuân theo sự phân công của Sứ quán để chuyển về Đại học Tổng hợp kỹ thuật Taskent, vào khoa mỏ-luyện kim. Tốt nghiệp ngành khai thác hầm lò với bằng giỏi, tôi được nhà trường đề nghị ở lại làm nghiên cứu sinh. Nhưng khi đó, Bộ ĐH&THCN không có chủ trương cho sinh viên ở lại nên tháng 9 năm 1977 tôi về nước. Miền Nam mới giải phóng, nhiều cán bộ tập kết về Nam. Tôi được ưu tiên phân về Vụ Kế hoạch của Bộ Điện Than. Cùng tốt nghiệp ngành mỏ ở Liên Xô về với tôi khi đó, anh Trần Xuân Hòa cũng được phân công về vụ Lao động tiền lương thuộc Bộ, nay là Tổng giám đốc của Tập đoàn TKV.
PV- Bây giờ anh cũng là người của TKV ?
TS Sơn: Phải ! Lúc Tổng công ty Than VN (TVN) trở thành tập đoàn Than- Khoáng sản VN (TKV) , tôi chuyển từ một xí nghiệp nhỏ trong ngành than về dự án nhiệt điện chạy than đầu tiên của TKV theo thư mời của ông Nguyễn Viết Hòe Chủ tịch HĐQT đầu tiên của TKV, khi đó là đại biểu QH của tỉnh Quảng Ninh. Từ đó đến nay, tôi là người của TKV 100%.
PV- Anh chú ý đến bauxte từ khi nào ?
TS Sơn : Từ khi lãnh đạo Bộ cử tôi đi công tác dài hạn tại Vụ Công nghiệp Than của COMECON – Hội đồng tương trợ kinh tế của các nước thuộc hệ thống XHCH những năm 1949 – 1991, Việt Nam gia nhập năm 1978. Hồi đó Chính phủ ta từng đưa dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên nhưng hội đồng COMECON, trong đó có Liên Xô, dù khi ấy rất thiếu quặng bô-xít phục vụ công nghiệp quốc phòng nhưng vẫn quyết định không triển khai dự án mà thay vào đó là hỗ trợ Việt Nam triển khai các dự án về cao su, cà phê và chè, do lo ngại những tổn thất lớn lao về kinh tế và môi trường đối với cả Tây Nguyên và đồng bằng duyên hải Nam Trung Bộ. Vì vậy tôi đã chú ý tìm hiểu đến các vấn đề về bauxte của VN ngay tại Moscow.
PV- Vì sao anh cương quyết phản đối việc triển khai các dự án bauxte do TKV làm chủ đầu tư trên Tây Nguyên ?
TS Sơn : Bất cứ đơn vị nào làm chủ đầu tư, tôi cũng tin rằng các dự án bauxite sẽ chẳng mang lại lợi ích gì cho Tây Nguyên. Về vấn đề Tây Nguyên thì tác giả của “Đất nước đứng lên” không chỉ là nhà văn. Bác Nguyên Ngọc là một nhà khoa học, thậm trí là nhà khoa học rất uyên bác về Tây Nguyên. Cả hội trường đã lặng đi khi nghe Bác nói. Còn tôi, cũng không cầm được nước mắt. Bài phát biểu của nhà văn Nguyên Ngọc thật ấn tượng, đầy tâm huyết, và vô cùng chính xác.
PV- Nhiều người rất ngạc nhiên khi thấy lãnh đạo TKV không hề ngăn cản anh đăng đàn phản biện các dự án của TKV, vì sao?
TS Sơn- Dù ở cương vị nào, tôi với tổng giám đốc tập đoàn Trần Xuân Hòa vẫn là bạn tốt của nhau. Anh ấy là người chịu lắng nghe. Tôi hy vọng, những người có trách nhiệm và có tư duy đúng cũng sẽ lên tiếng phản đối. Vì “Báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược” chưa được thực hiện, nên theo luật môi trường, có lẽ các dự án phải tạm đình lại để chờ “Báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược” được phê duyệt. Theo tôi, đã thấy sai thì nên sửa. Sửa sai càng sớm càng tốt. Vì nếu chỉ với những “cảnh báo” và “rút kinh nghiệm” từ tổng kết hội thảo chúng ta sẽ tiếp tục sai lầm, tiếp tục phá hỏng Tây Nguyên. Chỉ có thể cứu được Tây Nguyên nếu chúng ta có những bước đi thận trọng. TKV còn quá nhiều dự án phát triển ngành than cần phải làm. Cũng xin bổ sung thêm, trong ngành công nghiệp than, thành tích thừa than xuất khẩu mà TKV có đến nay đều dựa trên cơ sở của các dự án được triển khai từ thời bao cấp theo Tổng sơ đồ do Liên Xô giúp ta xây dựng. Từ khi thành lập TVN, rồi TKV đến nay, hầu như chưa có thêm dự án lớn mới nào về khai thác than. Hơn 14 năm qua, TVN hầu như không có đầu tư “tái sản xuất mở rộng” ! Rất may là gần đây, TKV đã nhận ra điều đó nhưng đã quá muộn mất rồi. VN sắp phải nhập khẩu than đến nơi !
PV- Trong quá khứ, có lần nào anh cảnh báo mà TKV không nghe và đã xảy ra hậu quả gì không ?
TS Sơn: Có 2 lần. Lần đầu tiên tôi nói không ai nghe nên phải viết bài ký tên thật đăng trên báo Quảng Ninh về dự án chuyển nhà sàng Hòn Gai ra khỏi thị xã Hòn Gai để tránh ô nhiễm môi trường. Khi đó, tôi phản đối việc lựa chọn di chuyển về địa điểm Nam Cầu Trắng, đề xuất đưa thẳng xuống vùng Cẩm Phả vì hai lý do: vùng Cẩm Phả còn đang thiếu năng lực sàng tuyển than, và địa điểm Nam Cầu Trắng quá gần thị xã. Nay, thị xã Hòn Gai đã trở thành “thành phố Hạ Long”, nhà sàng Nam Cầu Trắng đó giờ nằm ngay trong lòng thành phố, ai cũng thấy là “dở hơi”. Nhưng khi đó người ta nói “trên đã có ý kiến rồi”, “đã quyết rồi”…
PV- Còn lần thứ hai ?
TS Sơn: …là lần tôi phát hiện ra việc chấm thầu không chính xác về cái gọi là “chỉ tiêu tiêu hao đá vôi” để khử lưu huỳnh trong than của dự án điện Na Dương. Phản đối không xong, tôi đã có “ý kiến bảo lưu” bằng văn bản, gửi tới các cấp có thẩm quyền. Nhà thầu cố tình cam kết chỉ tiêu tiêu hao thấp (khoảng 14 tấn/h) chỉ để thắng thầu (các nhà thầu khác “thua” vì cam kết đúng khoảng 19-25 tấn/h). Thực tế hiện nay đã chứng minh, lời cam kết của nhà thầu trúng thầu đó là không đúng sự thật. Mức tiêu phí đá vôi khử lưu huỳnh chênh lệch lớn đến mức đủ nuôi sống 300 công nhân của nhà máy điện này. Buồn hơn nữa là từ đó tôi bị “loại ra khỏi cuộc chơi” về các dự án điện của TKV.
PV- Trở lại điểm nóng nhất trong hội thảo chuyên đề bauxte tại Đăk Nông. Có ý kiến nói bùn đỏ không độc hại, “các nhà khoa học chỉ làm trầm trọng hoá vấn đề”?
TS Sơn: Đó là ý kiến chuyên gia Dự án của Alcoa- Hoa Kỳ. Tôi tin rằng, ngày xưa chuyên gia dự án của Vedan cũng khẳng định với UBND tỉnh Đồng Nai rằng đối với các chủ đầu tư nước ngoài, môi trường không có vấn đề gì, Chính phủ VN cứ yên tâm, các nhà khoa học cứ việc ngủ yên! Nếu không độc hại, không có vấn đề gì thì thế giới người ta còn phải sáng chế (Mỹ) và chế tạo (Canada) ra những bao cao su để đựng bùn đỏ, hay làm mái che cho các bãi bùn đỏ để làm gì ? Ở các nước, bãi bùn đỏ thường xây gần bờ biển, ở vị trí bằng phẳng, không dễ bị trôi lấp, nước biển và bùn đỏ có thể “hôn phối” với nhau chẳng hại ai. Còn của Nhân Cơ địa điểm xây bể chứa lại là nơi có đất canh tác mầu mỡ nhất, dễ làm cho chủ đầu tư, nhưng cũng mất đất canh tác của dân và đặc biệt dễ trôi lấp. Bể bùn đỏ của thế giới chỉ rộng 78ha mà người ta phải đầu tư tới 60 triệu đô la, trong khi bể bùn Nhân Cơ rộng 300ha mà chỉ dự toán chi phí xây dựng khoảng 200 tỷ đồng (hơn 11 triệu USD) thì không thể coi là “cẩn thận” được.
PV: TKV luôn khẳng định sẽ làm tốt công tác hoàn thổ?
TS Sơn: “Sẽ” đó là thì tương lai. Còn quá khứ hay hiện tại thì xin mời nhà báo ra Quảng Ninh để chứngkiến. Tôi không phê phán TKV. Tôi chỉ nhấn mạnh việc hoàn thổ không đơn giản như các thuyết trình viên của TKV vẽ ra rất «ngon lành» trên giấy. Hoàn thổ như trình bầy của TKV mới chỉ về mặt số học và vật lý, chỉ đơn giản «bốc » đi, rồi sau đó « lấp » lại và trồng cây. Nếu đơn giản như thế thì những bãi thải ở Quảng Ninh mà TKV đang phải chi hàng chục tỷ đồng mỗi năm đã trở thành rừng cả rồi. Thế giới người ta cũng chẳng giám «đùa» như vậy. Hoàn thổ rất phức tạp vì liên quan đến vấn đề thổ nhưỡng. Ngoài ra, hoàn thổ trên một địa hình rất bằng phẳng và không có mưa lũ như trên hình vẽ đại diện TKV đưa ra cam kết trước hội thảo khác xa với thực tế đồi núi có độ dốc và trong điều kiện chu kỳ mưa lũ hàng năm ở Tây Nguyên. Trong vòng 1 năm liệu loại cây (gì đó) mà TKV «sẽ» trồng có kịp lớn tới hàng mét để đất không bị rửa trôi xuống hạ lưu.
TP: Thế còn ý kiến nói “không thiếu nước”?
TS Sơn: Trong hội thảo có hai người cùng tên là Tiến nhắc đến vấn đề nước của Tây Nguyên. GS Đào Công Tiến nguyên Hiệu trưởng trường đại học Kỹ thuật TP HCM nói « Nếu cứ khai thác bauxte, Tây Nguyên sẽ chết vì thiếu nước ngọt”. Còn anh Tiến kỹ sư địa chất- giám đốc công ty nhôm Nhân Cơ của TKV thì nói là không thiếu nước. Chặn các dòng nước mưa lại, xây đập lấy nước ngọt luyện bauxte thành alumina để bán cho nước ngoài mà nói không ảnh hưởng gì đến nước ngọt đang còn thiếu để tưới cho cà phê, chè, cao su thì tôi không hiểu giáo trình đào tạo kỹ sư địa chất trong các trường đại học của VN được soạn thảo như thế nào?
PV: Trong phát biểu kết luận hội thảo của mình, ông Trần Phương phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông hỏi nếu không làm bauxte thì Đắk Nông phát triển bằng gì ? Đi lên bằng gì ?
TS Sơn: Câu trả lời của tôi nằm trong củ khoai lang ngọt ngào và ly cà phê thơm ngát mà tỉnh Đắk Nông đã đãi chúng ta tại hội thảo. Tôi nghe nói, loại khoai rất đặc biệt đó trồng trên Tây Nguyên rất phù hợp, địa phương nào càng gắn với bauxite thì khoai càng ngon hơn, rất có giá trị, thị trường xuất khẩu đang “đói”. Mà trồng khoai thì bà con dân tộc còn giỏi hơn TKV làm bauxte.
TP: Nhưng làm bauxte thì Chính Phủ đã có quyết định rồi, còn trồng khoai thì chưa?
NTS: Đúng, rồi và chưa. Nhưng, như GS Đào Công Tiến hay TS Trần Đình Thiên Viện trưởng Viện kinh tế VN đã phát biểu ngay giữa hội thảo: Mọi quyết định đều do chúng ta làm ra và chúng ta cũng có thể làm lại nếu thấy sai. Tôi ủng hộ ý kiến nên xem xét lại những quyết định không còn phù hợp và đặc biệt là những quyết định sai lầm. Đó chính là tư duy chuẩn mực. Tôi nghĩ, Chính phủ rất cầu thị, và luôn hành động theo chủ chương của Đảng là mội việc do dân và vì dân. Cái gì thấy lợi cho dân thì làm, cái gì thấy hại cho dân thì ngăn chặn.
TP: Nhưng các dự án nhôm đã được khởi công?
NTS: Tôi xin khẳng định chẳng có “dự án nhôm” nào đã được khởi công cả. Những dự án mà TKV đã và sẽ khởi công chỉ là những dự án bauxte và alumina. Làm dự án nhôm thì tôi cho là còn có thể chấp nhận được. Thực chất, TKV mới chỉ và sẽ làm các dự án khai thác bauxte, và dự án tuyển bauxte thành tinh quặng alumina để xuất khẩu. Còn lâu nền kinh tế của chúng ta mới có “nhôm made in VN”. Và với kiểu phát triển “chẳng giống ai” như thế này thì chẳng bao giờ có nhôm kim loại đâu. Những chi phí của TKV bỏ ra đến nay để khởi công các dự án bauxte-alumina không có ý nghĩa gì so với những thiệt hại của nền kinh tế mà những dự án này mang lại như các nhà khoa học đã cảnh báo tại Hội thảo.
TP: Liệu có quá muộn chăng?
NTS: Tôi nghĩ “muộn còn hơn không khi nào”, hình như đó là câu tục ngữ của phương Tây. Còn chúng ta hành động theo tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác. Mọi cái đều có thể thay đổi. Trong vũ trụ không có gì là bất biến cả. Vũ trụ đang dãn ra (vì đã xẩy ra “vụ nổ lớn”) rồi cũng sẽ co lại (vì sẽ xẩy ra “vụ co lớn”). Chúng ta biết bung ra các dự án bauxte-alumina thì chúng ta cũng biết cách để đình chỉ nó.
PV- Nếu như các dự án bauxte vẫn triển khai và triển khai thành công; Vài năm sau tôi được gặp lại anh để hỏi rằng anh có chịu nhận là ngày đó mình đã nghĩ sai …
TS Sơn: … Thì đó sẽ là hạnh phúc, là may mắn lớn nhất mà tôi mong có được, về vấn đề bauxte ám ảnh đến mất ngủ triền miên này.
PV- Đây là lần thứ hai anh tới Tây Nguyên, anh thấy Tây Nguyên như thế nào?
TS Sơn: Câu hỏi mang tính riêng tư chắc là câu cuối cùng. Tôi thấy Tây Nguyên đúng là mái nhà của cả Đông Dương. Tôi có nhiều người bạn đã hy sinh thời chiến tranh, mà thân xác vẫn còn gửi gắm đâu đó trên Tây Nguyên. Tôi đã chỉ có thể thắp nén hương chung cho họ ở Nghĩa trang Liệt Sỹ Trường Sơn. Lần này, tôi cũng định ghé qua thắp thêm nén hương cho họ nhưng không có điều kiện. Tôi cứ băn khoăn, liệu bạn bè tôi có được yên nghỉ ? Trong bài tham luận của mình, tôi chỉ mong họ được vĩnh viễn yên nghỉ dưới bóng che của rừng cây cao su, chè, cà phê như họ đã từng được che chở khi còn cầm súng, chứ không phải nằm dưới các bể bùn đỏ do TKV tạo ra. Với tôi, Tây Nguyên đúng là nơi chúng ta gửi gắm để thờ Hồn Tổ Quốc như ý một câu thơ.
PV: Cảm ơn anh. Chúc anh luôn bình yên trong cuộc sống.
Hoàng Thiên Nga thực hiện
9/4/2009
Anh Hoành nói rất đúng, chị Thiên Nga là người rất đẹp và có sĩ khí – trọn vẹn với cái tên mà cha mẹ đã đặt cho chị. 🙂
LikeLike
Hoàng Thiên Nga vừa là người thông minh, có tài, lại rất nhiều sĩ khí.
Những người trẻ Việt Nam ở tuổi 20-30 rất may mắn có người như Thiên Nga để nhìn lên để gọi là chị, mà noi gương.
Anh rất phục Thiên Nga.
LikeLike
Nhiều người chỉ trích Nga ảo tưởng, khi kết thúc bộ sách ” Nghịch lý trên dòng sông chảy ngược, đã nhắc lại điều Nguyễn Trãi từng mơ ước ” Làm sao để nơi thôn cùng xóm vắng không còn tiếng hờn giận oán sầu”
Mơ ước càng tốt đẹp, thì con đường thực hiện càng khó khăn, càng đòi hỏi nhiều hy sinh.
Không cá nhân nào hy sinh mà đủ cả cho xã hội. Nhưng nếu mỗi người đều mơ ước tốt đẹp, sẵn lòng hy sinh ít nhiều cá nhân cho cái chung tốt đẹp đó, chắc chắn xã hội sẽ bớt đi nhiều nghịch lý trái ngang.
Không ai hài lòng khi thấy những nhà lãnh đạo cao nhất tránh né gọi đúng tên của một số nhân vật, hiện tượng có ảnh hưởng lớn lao sâu sắc theo chiều hướng tệ hại đến đời sống của từng người dân, và lớn lao hơn, là với vận mệnh của dân tộc, Tổ quốc . Vậy tự mình, mỗi chúng ta có thể làm gương trung thực trước về điều đó hay không ?!
LikeLike
Great interview. chi Nga is so great.
I can not understand why the government approve the project.
How we can change the decision? we need to do some thing, but what?
LikeLike
Hỏi vì sao nước ta nghèo?
– Vì nhiều dự án lèo phèo như…bô xít 😀
LikeLike
Cảm ơn Thiên Nga chia sẻ hai bài báo quan trọng này.
LikeLike